Bệnh Xơ Cứng Đa xương khớp multiple sclerosis

Hỏi:

Thưa Thầy,

Con có người quen Nam, ngoại quốc, 49 tuồi bị bệnh multiple sclerosis.

Con đo áp huyết lúc đó 4 giờ chiều

Tay Phài 121/84/69
Tay Trái 119/78/69

Tay yếu giơ lên khó khăn, con chỉ bài vỗ tay 4 nhịp nhưng cũng khó khăn. Bài Thầy chữa tay cho người liệt có áp dụng cho trường hợp này không ạ.

Hai chân người này yếu hơn tay, đi đứng khó khăn rất mau mỏi, lúc trước bàn chân lạnh mất cảm giác, sau khi tập bài kéo gối đều đặn một thời gian nay bớt lạnh và có cảm giác, bệnh thấy không nặng hơn.

Áp huyết chân là

Phải 173/112/67
Trái 170/112/66

Bệnh nhân có làm bài cúi ngửa 2 nhịp và đi lên cầu thang hát 1,2,3. Con dặn cần bổ máu. Con chưa thử đường, nhưng với nhịp tim như trên có thể là thiếu đường chăng?

Lúc trước không uống thuốc nhưng nay bác sĩ cho uống Tecfidera 120mg. Thầy có biết gì về loại thuốc này không, bác sĩ bảo thuốc sẽ làm bệnh tiến triển chậm lại.

Xin Thầy hướng dẫn cách chữa. Cám ơn Thầy.

Loan

o O o

Trả lời của Thầy Đỗ Đức Ngọc:

Cảnh báo và Phòng ngừa của thuốc Tecfidera

Tecfidera giảm tế bào lympho máu ( bạch cầu ) số lượng nhưng không có nhiễm trùng đáng kể hoặc nặng đã được báo cáo . Kiểm tra men gan đã được nâng lên , nhưng không có báo cáo về tổn thương gan đáng kể hoặc suy gan.

Tác dụng phụ có thể:

Các tác dụng phụ thường gặp nhất trong các thử nghiệm lâm sàng của Tecfidera đã đỏ bừng mặt (có thể tạo ra một cảm giác nóng hoặc ngứa và đỏ đỏ trên da ) và các sự kiện tiêu hóa ( như tiêu chảy , buồn nôn và đau bụng trên ) . Tỷ lệ của những sự kiện trong quá trình thử nghiệm lâm sàng cao nhất trong tháng đầu tiên điều trị, giảm sau đó. Tham Tecfidera với thức ăn có thể làm giảm đỏ bừng . Tecfidera giảm tế bào lympho máu ( bạch cầu ) số lượng nhưng không có nhiễm trùng đáng kể hoặc nặng đã được báo cáo .

Chữa bằng bài tập : Kéo Ép Gối Thổi Hơi Ra Làm Mềm Bụng

Không cần uống thuốc này. Chỉ cần nằm tập bài Kéo Ép Gối Làm mềm Bụng, (phải kéo sát đầu gối cho dđụng vào bao tử và gan), miệng thổi ra mạnh, nhưng tập chậm 200 lần, rồi nằm nghỉ 5-10 phút rồi tập lại 200 lần, nghỉ 5-10 phút rồi tập lại, như vậy là tập 3 lần. Cuối cùng toàn than xuất mồ hôi thì khí huyết lưu thông vào các nơi khe kẽ của xương để những nơi xương khớp được trao đổi oxy và thay máu mới.

Trước khi tập đo áp huyết thấy thấp, sau khi tập xong đo lại áp huyết cả 3 số đều lọt vào tiêu chuẩn tuổi.

Như vậy mỗ ngày tập 4 lần như thế, sáng, tối, và sau 2 bữa ăn 30 phút.

Đã có bệnh nhân bị bệnh này, và đang tập Càn Không Thập Linh. Nhưng sau khi đo áp huyết nhịp tim thấp là hàn lạnh nên máu không lưu thông mới làm ra bệnh, và sau khi được hướng dẫn tập, tập 200 cái lần thứ nhất bệnh nhân cảm thấy hơi khỏe, nhưng tay chân xương khớp còn đau, tập lần thứ hai, bệnh nhân trán xuất mồ hôi, cảm thấy đau xương khớp bớt, tập lần thứ ba toàn thân xuất mồ hôi trán, lưng ngực bụng và bàn tay, người nóng chân tay hết đau, bệnh nhân nói : Ủa ! Tập bài này nhẹ nhàng mà toàn thân xuất mồ hôi, người hết đau, thân thể nhẹ nhàng, mặt hết sưng phù…hay hơn là tập Càn Khôn Thập Linh.

Áp huyết bệnh nhân này trước khi tập : TT : 103/70mmHg mạch 66 TP: 106/68mmHg mạch 68,

sau khi tập đo lại áp huyết tăng cả 3 số : TT: 120/75mmHg mạch 81 TP: 122/78mmHg mạch 83

Như vậy : Bài Ép Gối Thổi Hơi Ra Làm Mềm Bụng 200 lần mỗi lần tập là viên thuốc, phải uống 2-3 viên một lần, ngày áp dụng 4 lần thì bệnh gì cũng khỏi. Nó có công dụng chuyển hóa khí huyết toàn thân, xay thức ăn dễ tiêu hóa, hấp thụ và chuyển hóa thành khí huyết.

Nếu áp dụng cho người áp huyết thấp thì tập nhanh làm tăng áp huyết.

Nếu áp dung cho người cao áp huyết thì tập chậm thổi mạnh hơi XẢ khí cuối câu thì đếm chậm nhẹ 1,2,3 để có thì BUÔNG thả lỏng cơ bụng. Hãy thử để tay vào bụng tập nói nhỏ 1,2,3 sẽ cảm thấy bụng xẹp cũng 3 lần, còn đếm lớn tiếng thì bụng lại bị gồng cứng lên làm áp huyết tăng.

Nếu tập đúng có thỉ BUÔNG 1,2,3 ,nhiều người đã thử nghiệm đo áp huyết trước khi tập đo áp huyết 2 tay so với sau khi tập áp huyết xuống nhanh.

Thí dụ áp huyết trước khi tập :

TT : 180/95mmHg nhịp tim 99 TP : 176/99mmHg nhịp tim 95

Sau khi tập 100 lần : Kéo Ép Gối Xả-Buông 1,2,3

Đo lại áp huyết : TT: 132/82mmHg nhịp tim 80 TP : 128/79mmHg nhịp tim 78

Động tác tập của bài này cũng làm vận động tay chân, gối, lưng bụng, và tập nhiều giúp khí huyết khai thông lên đầu thông máu não, chỉnh lại hệ thần kinh chức năng trung ương điều chỉnh lại chức năng thần kinh hưng phấn và ức chế cho khí huyết quân bình thì cái đau biến mất, ăn ngon, tiêu hóa tốt, ngủ được, tăng oxy hồng cầu, chống lão hóa, khôi phục lại chức năng hoạt động của lục phủ ngũ tang, có giá trị chữa bệnh gan và bao tử, thận, phổi, ruột mỗi ngày.

Nếu áp huyết thấp thiếu máu chỉ cần uống thêm thuốc bồ máu, và cả hai loại bệnh thấp hay cao đều áp dung bài này như hướng dẫn ở trên để áp huyết lọt vào tiêu chuẩn tuổi là mọi bệnh đều khỏi.

Chú ý : Khi tập xong mỗi lần phải đo áp huyết và đo đường, nếu đường thấp phải uống 2 thià mật ong mới tập tiếp, nhịp tim thâp là thiếu đường.

Thân

doducngoc

Lý luận ngũ hành về chức năng tỳ-vị và biến chứng

Hỏi:

Con kính chào Thầy.

Lâu rồi con không viết thư hỏi Thầy vì biết Thầy đang Tịnh tu. Lần này có 1 ca khó, con đã liên lạc với Thầy Vương Văn Liêu, anh Trần Hữu nhưng chưa có cách giải quyết thích hợp nên con làm phiền đến Thầy đây ạ.

Anh Võ Văn Diệu là 1 thành viên của Khí công y đạo của Thanh hóa, anh đã tập khí công và hướng dẫn 1 số bà con cùng tập. Không may cách đây khoảng 3 tuần anh bị Xuất huyết dạ dày bị mất máu rất nhiều và dẫn đến nhiều bệnh khác và đang trong tình trạng nguy cấp. Con xin nêu tình trạng hiện tại của anh để nhờ Thầy giúp đỡ. Hiện anh đang điều trị tại bệnh viện balan Nghệ An,

Tình trạng xuất huyết dạ dày đã tạm ổn, đi cầu phân vẫn còn đen chút ít, siêu âm bị loét dạ dày tá tràng. ăn uống vào là bị đầy bụng nên việc bồi bổ cơ thể bằng đường tiêu hóa rất khó khăn.

Biến chứng viêm phổi nặng có ho ra máu, chụp phim 2 phổi mờ, có tràn dịch màng phổi nhẹ, thở hụt hơi.

Có hiện tượng vàng da vàng mắt, xét nghiệm men gan cao. 2 chân và mặt phù.

Tứ chi teo nhẽo, lạnh, không có sức , không thể tập các bài khí công. Người lúc nóng lúc lạnh.

Huyết áp :

tay phải 107/78/46
tay trái : 96/69/55
chân phải 137/102/47
chân trái : 134/103/47

Tình trạng bây giờ là như vậy,xin Thầy hướng dẫn cách chữa trị. anh ấy muốn xin số điện thoại của Thầy để hỏi trực tiếp nhưng không có ( nếu có thể cho con xin số của Thầy để liên lạc ạ). bây giờ mọi hy vọng anh ấy đặt hết vào Thầy vì đã cầu cứu hết các Thầy ở Việt Nam. Nếu Thầy có thể dùng năng lượng Điển Quang để chữa thì giúp anh ấy ạ. anh rất muốn khỏi bệnh để có thể tiếp tục giúp đỡ mọi người. Mọi Hy vọng đặt Hết vào Thầy ạ, xin Thầy cứu giúp. Xin cám ơn Thầy.

Mong Thư Hồi âm của Thầy

Con!

o O o

Trả lời của Thầy Đỗ Đức Ngọc

Áp huyết của bệnh nhân:

  • tay phải : 107/78/46
  • tay trái : 96/69/55

Tình trạng bệnh :

  • Xuất huyết dạ dày,
  • loét dạ dày, tá tràng,
  • viêm phổi nặng ho ra máu,
  • tràn dịch màng phổi,
  • thở hụt hơi,
  • vàng da vàng mắt,
  • chân và mặt phù,
  • men gan cao,
  • tứ chi teo nhẽo,
  • người lúc nóng lúc lạnh…

Chúng ta hãy thực tập lý luận ngũ hành : Mỗi hành có hai chức năng thần kinh hưng phấn là vòng tương sinh, và thấn kinh ức chế là vòng tương khắc, để duy trì sự hấp thụ chuyển hóa khí huyết được quân bình.

Khi một hành bị bệnh là có hư yếu và dư thừa, nghĩa là qúa yếu hay qúa mạnh, được biết hư hay thực do máy đo áp huyết về Khí lực/Huyết/Đường so với tuêu chuẩn tuổi, thấp hơn tiêu chuẩn tuổi là hư, cao hơn tiêu chuẩn tuổi là thực

Tình trạng bệnh nhân là hành mộc Gan, khí lực qúa yếu (107), hành thổ là bao tử khí lực qúa yếu (96)

Về chức năng khí hóa ngũ hành : Về gan mộc yếu nên chức năng hưng phấn yếu không nuôi tâm hỏa, gan mộc yếu làm mẹ nó là thận thủy cũng yếu không làm việc chuyển hóa nước và không hưng phấn nuôi nó. Gan mộc yếu không còn chức năng ức chế kìm hãm tỳ vị thổ nên lạc huyết (xuất huyết) và không ức chế được chính nó làm men gan tự tăng cao.

Về bao tử là thổ yếu, chức năng hưng phấn yếu không nuôi con nó là phổi với đại trường làm phổi suy yếu mất khí hụt hơi, đại trường liệt làm tiêu chảy, bao tử suy yếu không co bóp thức ăn, giữ thức ăn lâu trong bao tử thành thối lở loét, nó yếu làm mất năng lượng của mẹ nó là tâm hỏa nên tâm phải làm hết sức để tăng nhiệt khiến tim càng suy, đông y có câu âm huyết hư sinh nội nhiệt, tỳ vị thổ suy mất chức năng ức chế thận thủy, nên thức ăn nước uống vào bao nhiêu thì bị giữ lại gây sưng phù. Cả tỳ-vị-gan hư sinh vàng da là do chức năng khắc chế của phổi cũng hư yếu.

Như vậy biến chứng ngũ hành tạng phủ gan tỳ, vị làm thêm ra bệnh tim, phổi, thận. Đó là lý thuyết dùng để lý luận sự khí hóa ngũ hành của 1 hành, cách lý luận sự khí hóa ngũ hành hưng phấn hay ức chế của các hành khác cũng như vậy.

Riêng về cách lý luận tìm nguyên nhân và cách chữa trường hợp này như sau :

Bệnh nằm ở áp huyết tay trái khí lực bao tử yếu không co bóp thức ăn (96), nhịp tim 55 là thiếu đường là ngọt để bổ tỳ vị, nhịp tim tay phải 46 là thiếu đường trong máu cung cấp cho cơ tim co bóp làm van tim không hoạt động co bóp để tuần hoàn máu làm suy tim, nên tim thiếu hỏa để cung cấp năng lượng nuôi con nó là tỳ vị thổ, thổ suy không nuôi con nó là phế với đại trường làm khó thở không trao đổi oxy cho máu làm cho máu bị ứ, chức năng tỳ tạo máu, dẫn khí, dẫn máu, liễm huyết là duy trì máu tuần hoàn đúng theo kinh mạch, vì tỳ vị suy không liễm huyết (duy trì giữ máu ) nên đông y gọi là lạc huyết, nghĩa là máu đi tự do ra ngoài không còn theo ngũ hành nên bị xuất huyết.

Nhìn vào công thức áp huyết là : Khí lực/Huyết/ Đường thì đã biết nguyên nhân bệnh là :

Bên gan :

Khí lực co bóp của gan yếu, đường trong máu của gan thiếu không điều khiển được chức năng hưng phấn và ức chế của gan, làm cho gan teo, co thắt mạnh gây xuất huyết. Chức năng gan hư yếu thì không nuôi con là tim, lại làm hư yếu thận là mẹ nó phải mất năng lượng nuôi nó.

Bên Bao tử :

Khí lực bao tử yếu (96) không co bóp thức ăn để hấp thụ và chuyển hóa thức ăn thành máu, thức ăn nuôi tỳ vị thổ phải có chất ngọt mới duy trì nhịp tim và thân nhiệt trong tiêu chuẩn 70-80, nhịp tim có 55 là thiếu đường, thiếu hỏa khí trong bao tử để chuyển hóa thức ăn, tỳ tạo huyết nuôi cơ bắp, sinh ra thịt, nếu không làm nhiệm vụ này đúng thì bắp thịt teo ốm dần, tỳ vị suy thì mẹ nó phải tiêu hao nhiền năng lượng nuôi nó nên tim càng suy, còn tỳ vị thiếu năng lượng lại không nuôi con nó làm chức năng của phổi hô hấp tiếp oxy của phổi duy trì máu đỏ không đủ, máu đỏ sẽ biến thành máu đen, và cuối cùng thành máu chết thành cục không hoạt động, phản ứng tự nhiên để tống máu ứ là xuất huyết gọi là lạc huyết. Khi chức năng phổi hư yếu thì không nuôi thận, thận sẽ không nuôi gan, gan sẽ không nuôi tim, và tim không nuôi nổi chức năng cho bao tử. Do đó cách chữa là cần ngoại viện đưa thức ăn bổ vào bao tử làm mạnh chức năng hấp thụ chuyển hóa thành khí/huyết phục hồi lại 5 tạng, như vậy bao tử cần thức ăn bổ máu, cần đường, cần nhiệt, cần oxy, cần co bóp, cần chữa lóet để khỏi xuất huyết, như vậy cách chữa cũng phải theo nhu cầu này :

  1. Thức ăn bổ máu : Cần ăn nhiều chất ngọt, cần nhiệt, cần chữa loét, cần tăng khí bằng B12, ăn cháo hay chè bà cốt để trám vết loét, kỵ chất chua. Dùng thêm thuốc trám bao tử tự chế : Dùng hột sầu riêng, lau khô, thái miếng mỏng sấy hay phơi khô rồi tán xay thành bột, trước khi ăn cơm 30 phút, bỏ 1 thìa bột hột sầu riêng vào miệng, rồi uống nước cho trôi vào bao tử, khi bột vào bao tử nó sẽ sôi nở ra chất nhựa trám vách thành bao tử 1 lớp nhựa, sau đó ăn cơm.
  2. Sau khi ăn 30 phút tập bài Kéo Ép Gối 100 lần cho đụng vào bao tử và gan mục đích làm co bóp bao tử xay thức ăn mau tiêu rồi tập tiếp bài Đá gót chân vào mông 200 lần làm tăng áp huyết, rồi lập lại lần thứ hai Kéo Ép gối xay thức ăn rồi Đá gót chân vào mông làm tăng áp huyết. Khi tập 2 lần như thế thì đường trong máu bị tụt thấp thì uống 1 ly nước nóng pha 2 thìa mật ong pha quế. (xem công dụng chữa bệnh của quế và mật ong trong forum)
  3. Tăng thêm oxy cần tập bài Vỗ Tay 4 Nhịp hát one,two, three, 200 lần, hay muốn cần tha lực trợ giúp thì thay 1,2,3 bằng niệm A Di Đà Phật
  4. Tối ngủ thở thiền tại Đan Điền Thần. Còn ban ngày cuốn lưỡi nhắm mắt niệm A Di Đà Phật bằng Ý trụ ở Thiên Môn tưởng tượng nhân quang năng từ Đức Phật, thiền như vậy càng nhiều, càng lâu càng tốt sẽ được tha lực từ Phật trợ giúp cho hệ thần kinh não phục hồi chức năng hưng phấn và ức chế của các tạng phủ được phụ hồi nhanh.

Thân

doducngoc

o O o

TỰ HỌC BỔ TÚC , Nam Nguyen LAc…..

Chúng ta cùng thầy ra sức thêm phụ giúp bệnh nhân này nhé :

Dạ dày bị xuất huyết ( do dạ dày bị trầy suớt, rách nên máu chảy rỉ ra ). Theo Đông Y là do Tỳ ( lách ) không nhiếp huyết, Tỳ không giữ đuợc máu ở trong huyết mạch. Hiện giờ thuốc Tây đã can thiệp nhưng bệnh còn tái phát không ? Khi bị xuất huyết quá nhiều nguời sẽ sinh ra lạnh , mặtt mày xanh xao hốc hác, gân mạch co rút nguoi suy kiet…

Đi cầu vẫn còn đen ( là phân vẫn còn rĩ máu ). Loét tá tràng ( là đã bị viêm lâu ngày có thể do acid tích tụ quá nhiều làm lỡ loét ). Vì ăn uống chậm tiêu nên ăn vào là đầy bụng ( dạ dày và tỳ bị rối loạn ). Biến chứng viêm phổi nặng ho ra máu ( có phải là mạch máu dã bị lỡ lét rách ra và rĩ máu chăng? ) . Thở hụt hơi ( Phổi và Thận kém không thể điều hoà đuợc hơi thở ). Phổi mờ ( Phổi đã bị tổn thuơng ), có tràn dịch ( có đờm có thấp ), thở hụt hơi ( hơi thở kém vì Phổi có bệnh ), da vàng mắt vàng ( bệnh hoàng đản, Gan mật bị bệnh nên dịch của mật trào nhiều ra máu và ra da ) , men gan cao ( viêm gan ), chân phù mặt phù ( chân ứ nuớc, mặt ứ nuớc vì thủy đạo bị bế tắc nuớc không thông… có thể do thuốc men làm ứ nghẽn và cũng do bị hư gan và hư thận ), tứ chi teo nhão ( cơ bắp co rút vì bị thiếu dinh duỡng ), lạnh ( khí nhiệt bị thất thoát ), không có sức ( mất năng luợng )…

Huyết áp : tay phải 107/78/46 tay trái : 96/69/55 chân phải 137/102/47 chân trái :134/103/47

HA , tay phải 107 ( khí lực quá kém , ĐẦU kém ) …. 78 ( bụng OK ) …. 46 ( Thận, bộ máy suy kiệt )

Bệnh : Do khí lực của thận quá kém ( bộ máy yếu ớt kiệt quệ, không đủ sức làm việc và làm việc rất chậm chạp như hơi sắp tàn… ) . Bụng nhìn thấy đầy đủ ( Gan chứa đầy đủ nhưng toàn là cặn bã, không phải chất dinh duỡng vì Đầu quá kém, không đủ dinh duỡng )……. Bệnh này do ăn uống và thuốc men hại.

HA , tay trái 96 ( Khí lức bên trái quá kém, huyết bị tổn thuơng quá nhiều, sẽ bị bệnh mất ngủ triền miên và bệnh trầm cảm đã tấn công, tâm bất an thiếu tự tin và tinh thần xa sút ), Bụng 69 ( hơi kém , nghĩa là ăn đã thiếu thốn không đều mà lại không có chất bổ duỡng, những chất ăn uống đều là phá máu, nhnữg thức ăn chua mát đắng… quan trọng là thuốc và ruợu chè đã phá gan và tỳ … ) 55 ( thận tinh kém, thận duơng kém ).

Kết luận vì không biết rõ quá khứ bệnh đã bao lâu và có những chứng gì khác không ? Chỉ thấy bệnh bao tử và Phổi, chứng phù mặt chân ( Thận Phổi )…

Dựa theo bệnh chứng : Bệnh này đang bị suy kiệt Thận Phế và Viêm Gan….

Dựa theo HA của thầy Ngọc….

Gốc bệnh do Thận suy kiệt do lao lực lao tâm và ăn uống…. Bộ máy làm việc của Gan Thận Ruột Bàng quang và bộ sinh dục đã suy kiệt . Tất cả đều tan rã từ từ……. Viêm Gan là bệnh vờ vì Gan không đủ sức làm việc chứ không phải bị viêm, chữa bệnh viêm Gan thì bệnh càng nặng.

Trị bệnh : Cấp kỳ phải Bổ Thận làm nóng bộ máy và kích thích bộ máy hoạt động lại… Phải Bổ Thận bằng Sâm Nhung Quế PHụ ( không đuợc chậm trễ )………. 2 ngày sau phải dùng Fụ Tử Lý Trung …….

2 ngày kế tiếp khi nguời khoẻ mạnh phải dùng Quy Tỳ Thang…

HA phải lên từ 120 -130 / 65 – 75 / 65 -75 ……………. Cần nhất là nhịp tim phải lên 65 -75…

Nếu quá cần gấp phải uống nuớc chanh muối………

Mỗi ngày cần phải uống Barley grass và Wheat grass.

Mỗi ngày cần phải uống nuớc nóng với mật ong và quậy 2 trứng gà long vàng để tăng khí lực và tinh huyết.…

cần ăn : ngọt và những chất ấm cay…

Tránh : thức ăn chua, hàn , đắng ……….. thuốc hạ huyết áp … ruợu chè , thuốc lá …

Nam Nguyen, LAc

Câu hỏi 294 : Làm sao biết bệnh nhân đang có thai, tránh những huyệt nào, bài tập nào, và thuốc nào bổ thai, hại thai.

 Làm sao biết bệnh nhân đang có thai, tránh những huyệt nào, bài tập nào, và thuốc nào bổ thai, hại thai.

Con chào thầy.!

Thưa thầy. Trong khi khám bệnh mà bệnh nhân cũng có thể không biết mình có thai hay không. Con làm thầy thuốc thì cần phải phát hiên ra điều đó để khi con hướng dẫn người ta tập luyện hoặc uông thuốc côn biết mà tránh .

 Vì vẩy con muốn hỏi thầy ba điều:

1. Khám theo khi KCYD biểu hiện trên máy Huyết áp, máy tiểu đường,máy đo nhiệt, và các biểu hiên khác trên huyệt vị, sắc thái ..các dấu hiệu để mình biết là người phụ nữ này đang có thai .

2. Khi tập các bai tập thì những bài nào không nên cho những người đang có thai ở các giai đoạn trong thai kỳ.và những bài tập nào thì tốt cho phụ nữ mang thai để mẹ khỏe con khỏe. các huyệt nào không nên dùng, các huyệt nào có thể dùng được .

3. Những đơn thuốc nào dùng tốt cho phụ nữ có thai những, vị thuốc nào không dùng được cho phụ nữ có thai và cho con bú.

 Cồn mấy ngày nữa thầy nhập thất tịnh tu nên mong thầy chỉ giúp con mấy thắc mắc này ah.

Con cảm ơn thầy!

tranhuu

 Trả lời :

1-Khi có thai, đo áp huyết có nhịp tim nhanh bình thường , áp huyết cao hơn bình thường. Nhìn ở cổ nơi huyệt Thiên Đột  nhịp đập của động mạch cổ đập nhanh, không trùng nhịp với mach ở tay.

Dùng ngón tay trỏ gõ nhẹ vào huyệt Thái Dương, huyệt Ty Trúc Không thai phụ cảm thấy đau. Day nhẹ huyệt Tam Âm Giao và huyệt Chí Âm cũng đau.

Do đó những huyết này không được châm, không được làm đau sẽ bị tụt thai hay xảy thai.

Nếu có cây búa gõ huyệt bằng cao su (có bán ở Trung Tâm Diện Chẩn Bùi Quốc Châu số 19 đường Phạm Ngọc Thạch, Quận 1, Saigon). Dùng búa gõ vào những huyệt trên, đặc biệt có hai huyệt trước ngay hai lỗ mũi, nằm ngang với huyệt Nhân Trung. là huyệt phản xạ của tử cung, bệnh nhân cảm thấy đau lắm

Khi thử những huyệt này nếu bệnh nhân cảm thấy đau đều hai bên khi đụng phải, thì hỏi xem bệnh nhân đã có kinh chưa. Có người trả lời tháng này trễ kinh 5 ngày hay 7 ngày….thông thường kinh vẫn đều….

Cũng nhờ những huyệt này, vợ của một anh công an khu vực nơi tôi ở, cứ bị đau ở 2 huyệt Thái dương, tôi chữa buổi sáng thì hết đau, buổi chiều lại đau, ngày hôm sau chữa buổi sáng, chiêu lại đau…sau tôi thử các huyệt này đều đau. Tôi hỏi tháng này có kinh chưa, cô ấy trả lời mới trễ có 5 ngày. Tôi nói : Thôi khỏi cần chữa, tử cung đã đậu thai rồi, không phải đi châm cứu hay uống thuốc của ai cả.

Qủa nhiên, cô mất kinh do có thai, đi khám bác sĩ sản khoa bảo có thai đầu lòng.

2-Không tập những bài Dậm Chân, Cúi Ngửa 4 Nhịp, Nạp Khí Trung Tiêu. Các bài khác thì tập được, riêng bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng tập 20-30 lần chậm, nhẹ, từ từ, không được ép sát vào bụng, hay tập nhanh sẽ làm cho thai bị động.

3- Bổ khí huyết cho thai phụ : Cố Thai Tiễn

Bạch Truật 8g, A Giao, Bạch Linh, Đương Quy, Sa Nhân, Bạch Thược, mỗi thứ 6g, Quất Bì 4g,

Sắc 4 chén nước cạn còn 1 chén, uống 10 ngày, nghỉ 1 tuần uống tiếp 10 ngày rồi đo lại áp huyết khi lên đến tiêu chuẩn 120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 thì ngưng.

Sau khi sanh xong, áp huyết thấp, phục hồi sức khỏe bằng Bổ Hư Thang, muốn có sữa, hầm súp chân móng giò heo với đu đủ xanh.

Không dùng Phan Tả Diệp, không ăn nhiều chất chua làm mất máu mất hồng cầu ảnh hưởng khí tiên thiên của thai nhi .

Thân

doducngoc

Hỏi Bệnh 1: Hỏi cách chữa bệnh cao áp, đau tê tay và ngón tay, đau đầu, ù tai, nghẹt mũi 6 năm.

Mục Hỏi Bệnh dành cho học viên thực tập đề nghị cách chữa.

Thân gửi các vị thầy thuốc tương lai của môn khí công y đạo,

Nhân tiện có nhiều bệnh nhân trên khắp thế giới hỏi bệnh trên trang nhà Khí Công Y Đạo. Tôi vẫn trả lời trực tiếp cho bệnh nhân áp dụng phương pháp chữa cho kịp thời gian tính, nhưng chưa đăng bài giải, chỉ giữ lại phần câu hỏi để dành cho những học viên khắp thế giới có cơ hội thực tập lý luận để viết bài trả lời về tôi, sau đó so sánh với bài tôi đã trả lời cho bệnh nhân, để rút ưu khuyết điểm trau giồi tay nghề.

Bài viết trả lời gồm có những phần :

1-Khám Bệnh :

(Đã có chi tiết do bệnh nhân khai)

2-Định Bệnh :

Tập lý luận theo ngũ hành tạng phủ tìm nguyên nhân khí huyết, hư thực, hàn nhiệt. Bệnh nào chính, bệnh nào là biến chứng, bệnh nào là ngọn…

3-Đề nghị cách điều chỉnh Tinh-Khì-Thần

Xin qúy vị gửi bài viết về tôi : doducngoc@gmail.com, nếu lý luận và chữa đúng, sẽ được đăng trên trang nhà cho các học viên khác học được thêm kinh nghiệm .

Thân

doducngoc

o O o

Câu hỏi 1 :

Hỏi cách chữa bệnh cao áp, đau tê tay và ngón tay, đau đầu, ù tai, nghẹt mũi 6 năm.

Kính chào Thầy!

Con 46 tuổi bị bệnh cao áp huyết, tay trái150/114/83 và thường bị tê từ cùi chỏ đến ngón tay 4 và ngón út thì nặng hơn. Khớp ngón tay giữa khi chuyển động bị đau, Tay phải là 151/108/85, bên này khớp ngón trỏ và khớp ngón 4 đau. Gáy bên trái nặng sau đó thường đau đầu góc trái, kèm theo ù tai. ngạt mũi đã 6 năm, nếu ngồi thì khó thở hơn. Cách đây 3 năm con đi châm cứu khỏi đau đầu, đến bây giờ bệnh tái phát lại. Con rất mong sự chỉ dạy của Thầy về cách điều trị thuốc, ăn uống và tập luyện. Con cảm ơn Thầy, và cầu mong Thầy trẻ khỏe mãi để giúp chúng sinh thoát khỏi bệnh tật hiểm nghèo. Kính chào Thầy.