Bài tập phục hồi chức năng Doanh Phần

Bài tập phục hồi chức năng Doanh Phần,
tăng khí và huyết, thông mao mạch tạng phủ trao đổi oxy cho tế bào
để ngăn ngừa ung thư và phục hồi tế bào khi đang điều trị ung thư.

A-Doanh Phần là gì ?

(Trích trong bài :Tế bào sống hay chết nhờ vào hệ thống mao mạch thông hay tắc, giúp cho cơ thể khỏe hay bệnh và cách chữa.)

http://youtu.be/Wlon877zwVc .

Trong cơ thể con người chia làm 3 lớp : Lớp Khí Phần là dương khí bảo vệ cơ thể bên ngoài, Lớp Doanh Phần ở giữa là cơ quan tiếp nhận chuyển hóa thức ăn thành khí và huyết, lớp trong cùng là Huyết Phần nuôi các tế bào tạng phủ, mỗi lớp đều có 1 cặp âm-dương, ở tay và chân, theo quy luật trong Dương lớn có âm nhỏ, trong Âm lớn có dương nhỏ, dương lớn bên ngoài, âm lớn bên trong, lớp giữa cũng có âm dương, dương ở trên, âm ở dưới.

Do đó 12 đường kinh được phân phối theo Lục Kinh như sau :

1-Lóp Khí Phần (Vệ khí) có 2 cặp đường kinh :

Túc Thái Dương Bàng Quang Kinh gọi là thủy dương (1 dương lớn bên ngoài ở chân)+ Thủ Thái Dương Tiểu Trường Kinh, gọi là hỏa dương.

Thủ Thiếu Dương Tam Tiêu, gọi là hỏa dương+ Túc Thiếu Dương Đỏm Kinh, gọi là mộc dương.

2-Lớp Doanh Phần ở giữa, quan trọng nhất, chuyển hóa thức ăn thành Khí và Huyết, nuôi dưỡng tế bào, có 2 cặp đường kinh :

Kinh dương ở chân là Túc Dương Minh Vị kinh, gọi là thổ dương + kinh dương ở tay Thủ Dương Minh Đại Trường kinh, gọi là kim dương.

Kinh âm ở chân là Túc Quyết Âm Can Kinh, gọi là mộc âm + kinh âm ở tay Thủ Quyết Âm Tâm Bào, gọi là hỏa âm.

Muốn biết lớp Doanh Phần có ăn đủ và đúng chất cần thiết cho cơ thể, có đủ khí lực giúp Doanh Phần hấp thụ và chuyển hóa thức ăn thành máu nuôi Huyết Phần và thành khí nuôi Khí Phần hay không thì môn học Y Học Bổ Sung dùng máy đo áp huyết đo 2 tay và đường-huyết trước khi ăn và sau khi ăn được 30 phút để so sánh, sẽ biết được sự hấp thụ chuyển hóa thức ăn hay chuyển hóa thuốc uống có giúp gì cho Khí Lực/Huyết Lực/Nhịp tim trong việc tự điều chỉnh Tinh-Khí-Thần cho việc chữa bệnh của mình hay không.

Nếu Huyết Phần tăng mà Khí Phần thiếu, thì tập bài chuyển hóa thức ăn là bài Kéo Ép Gối Thổi Hơi Ra Làm Mềm Bụng 200-300 lần, nếu chữa ung thư thì số lần tập nhiều hơn giúp Doanh Phần hấp thụ chuyển hóa nhiều hơn để tạo thêm máu, thêm khí.

Muốn tạo huyết lực tăng là số tâm thu tăng cần ăn uống chất bổ máu tốt nhất là súp phở bò, uống B12 và sau 30 phút uống thêm ½ lon Coca làm tăng khí lực và chất ga giúp tiêu hóa thức ăn nhanh, tăng đường và làm tăng nồng độ chuyển hóa thức ăn thành máu khi tập bài tập chuyển hóa Kéo Ép Gối.

Như vậy chúng ta phải công nhận cách sử dụng máy đo áp huyết và máy đo đường là 2 bác sĩ giỏi nhất trên thế giới luôn có mặt trong gia đình, giúp chúng ta khám định bệnh chính xác nhất, chúng ta phải nhờ 2 bác sĩ này để đo áp huyết 2 tay và đường huyết trước và sau 2 bữa ăn sẽ biết trước đề đề phòng được mọi bệnh.

3-Lớp Huyết Phần bên trong có 2 cặp đường kinh :

Thủ Thái Âm Phế Kinh ở tay, gọi là kim âm + Túc Thái Âm Tỳ Kinh ở chân, gọi là thổ âm.

Thủ Thiếu Âm Tâm Kinh ở tay, gọi là hỏa âm + Túc Thiếu Âm Thận Kinh, gọi là thủy âm.

Châm cứu hay bấm huyệt theo Lục Mạch cũng dựa vào 8 huyệt của Kỳ Kinh Bát Mạch ở trên, nhưng kết qủa khác nhau. Tại sao ?

8 huyệt của Kỳ Kinh Bát Mạch là nơi tàng trữ khí huyết dư thừa của 12 đường kinh tạng phủ, khi 12 đường kinh tạng phủ thiếu hụt, dùng Kỳ Kinh Bát Mạch để điều chỉnh lại khí huyết của 12 đường kinh.

B-Công dụng của máy đo áp huyết khám phá thức ăn, thuốc uống chữa bệnh và chức năng hấp thụ chuyển hóa đúng hay sai.

Mọi người đều cho rằng máy đo áp huyết là máy đo tim mạch, và áp huyết cao thì phải uống thuốc, đó là chữa ngọn theo tây y, còn áp huyết thấp cơ thể không đủ lượng máu và khí lực mà tây y cho là tốt không cần uống thuốc bổ, nên hậu qủa gây ra bệnh nan y nhiều hơn mà tây y không tìm ra nguyên nhân bệnh.

Còn theo Khí Công Y Đạo, máy đo áp huyết là máy khám chức năng tiêu hóa, hấp thụ và chuyển hóa thức ăn thành khí lực và máu xem đúng hay sai, tốt hay xấu. Nếu đúng và tốt thì áp huyết luôn lọt vào tiêu chuẩn, còn sai và xấu thì áp huyết cao hơn hay thấp hơn tiêu chuẩn tuổi. Nên đông y khi bắt mạch ở cổ tay để khám bệnh ở 3 phần của cơ thể là Khí Phần chạy nổi hay chìm dưới da .

Ấn tay sâu sát xương để khám xem mách máu có chạy sát xương không, nếu có thì cơ thể mới đủ máu nuôi các tế bào, nên gọi nó là Huyết Phần.

Ấn ngón tay trung bình, không nổi ngoài da, không chìm sâu tới xương để khám chức năng tiêu hóa về ăn uống, dinh dưỡng, gọi là Doanh Phần.

Doanh Phần quan trọng nhất, nếu ăn uống mà thức ăn đủ bổ, không thiếu chất dinh dưỡng, và chức năng hấp thụ và chuyển hóa tốt, thức ăn sẽ được biến thành máu nuôi Huyết Phần, và biến thành khí lực nuôi Khí Phần.

Như vậy máy đo áp huyết chinh là máy đo Khí Phần cho ra kết qủa tâm thu, đo Huyết Phần cho ra kết qủa tâm trương.

Nếu Khí Phần và Huyết Phần đúng và đủ thì nhịp tim chạy thong thả, không làm cho cơ thể nóng qúa nhịp tim sẽ nhanh hơn 80 nhịp, cũng không làm cho cơ thể lạnh qúa, nhịp tim sẽ chạy chậm lại dưới 70 nhịp, do đó nhịp tim nằm trong tiêu chuẩn 70-80

Nhưng muốn biết chức năng hấp thụ và chuyển hóa thức ăn đúng đủ hay sai, xấu, KCYĐ còn sử dụng máy đo áp huyết đo 2 tay và thử đường trước khi ăn và sau khi ăn được 30 phút, so sánh kết qủa chúng ta sẽ biết bệnh nhân ăn những thức ăn hay dùng thuốc chữa bệnh đúng hay sai, và chức năng hấp thụ và chuyển hóa tốt hay xấu.

1-Nếu chức năng hấp thụ và chuyển hóa thức ăn tốt :

Có 3 yếu tố :

Áp huyết trước khi ăn, tay trái tâm thu phải thấp hơn tay phải từ 6.0-10mmHg. Sau khi ăn thì bao tử đầy tâm thu phải cao hơn.

Áp huyết tay phải thuộc gan trước khi ăn phải cao để làm việc tiết mật và chất chua giúp bao tử cồn cào biết đói thèm ăn. Sau khi ăn phải thấp hơn tay trái cũng từ 6-10mmHg.

Áp huyết đo 2 tay trước hay sau khi ăn cũng phải có sự chênh lệch từ 6-10mmHg

2-Thức ăn làm áp huyết tụt thấp hay tăng cao :

Có những trường hợp sau :

a-Thí dụ đo áp huyết tay trái trước khi ăn 130/75mmHg, sau khi ăn 30 phút đo lại áp huyết vẫn gần giống nhau 128/72mmHg, có nghĩa là bao tử không đầy, không có chất bổ, như vậy là người này chỉ uống nước hay uống sữa, hay ăn 1,2 cái bánh quy….không làm thay đổi khí tâm thu, không làm thay đổi máu tâm trương.

Có những phụ nữ tây phương người rất mập, bụng to, đo áp huyết vẫn thấp không thay đổi đo áp huyết số tâm truơng thấp, tôi hỏi bà ăn gì, bà ta trả lời uống sữa, không dán ăn thức bổ máu sợ mập, ăn ít chỉ uống nhiều nước và uống sữa, không có chất bổ máu, bổ khí, chúng ta đo áp huyết sẽ biết mình ăn đúng hay sai.

b-Nếu có bữa ăn thịnh soạn đầy đủ chất bổ khí bổ máu, đo áp huyết tăng cao, thí dụ trước khi ăn, đo tay trái 130/75mmHg nhịp tim 75, sau khi ăn 30 phút đo lại tay trái tăng lên 145/90mmHg nhịp tim 90, có nghĩa là trong thức ăn được chức năng Doanh Phần hấp thụ và chuyển hóa thành khí tăng lên 15mmHg, thành máu, tăng15mmHg, thành nhiệt tăng nhịp tim thêm 15 nhịp.

Nếu đang có bệnh cao áp huyết và vẫn đang dùng thuốc trị bệnh áp huyết và do áp huyết đều mỗi buổi sáng và tối đều ổn định 130-140/75-87mmHg, nên sau những bữa ăn thịnh soạn mà cảm thấy ăn xong bị mệt, không đem máy đo áp huyết kiểm chứng thì dễ bị đột qụy hay đứt mạch máu não.

c-Ngược lại áp huyết trước khi ăn thấp 110-120/60-70mmHg vẫn dùng thuốc chữa bệnh cao áp huyết, lại kiêng ăn, sau bữa ăn bỗng thấy xây xẩm chóng mặt hoa mắt, mệt mỏi, không chịu đo áp huyết kiểm chứng sau khi ăn để biết nguyên nhân tại sao, thật ra áp huyết đã tụt thấp, thiếu đường xuống còn 4.0mmol/l gây ra hôn mê, chân tay bủn rủn yếu sức.

Nếu tiếp tục duy trì những món ăn làm tụt áp huyết và đường như khổ qua, uống lá dứa, hạt CHIA, nước chanh, ăn chay không có chất bổ máu, kiêng đường, khiến chân tay run lẩy bẩy, tây y lại cho uống thuốc điều trị thần kinh chữa bệnh Parkinson, làm cho bệnh nặng thêm. Nguời đang uống thuốc trị áp huyết thấp, lại kiêng ăn, làm cho áp huyết thấp, đường thấp mà không chịu đo áp huyết và đường để kiểm chứng so sánh với áp huyết tiêu chuẩn tuổi, chờ đến khi đi khám bác sĩ thì cũng đã qúa trễ do ăn uống sai, khi đi bác sĩ nói áp huyết 100 mmHg là tốt, đường 4.5mmol/l là tốt, tìm không ra bệnh, trên thực tế mắt mặt bị giựt giựt, chân yếu, tay run, cuối cùng bị hôn mê, khí huyết thấp không lưu thông nên tê liệt bại xuội méo miệng …

d-Nếu thức ăn thịnh soạn mà đo áp huyết chỉ có một bên tăng, hoặc gan, hoặc bao tử thay đổi tăng cao, còn một bên không thay đổi trước và sau giống như nhau, cũng không ai chịu đo áp huyết kiểm chứng, theo dõi chức năng chuyển hóa để biết nguyên nhân phòng ngừa. Đó là chức năng bao tử không làm việc, không thay đổi, đó là dấu hiệu ung thư bao tử, còn bên gan không thay đổi là chai gan ung thư gan vì chức năng gan không làm việc..

e-Thức ăn không đủ bổ máu để chữa những bệnh ung thư do thiếu máu và thiếu khí :

Chức năng Doanh Phần đo được bằng máy đo áp huyết tốt hay xấu, nhưng thức ăn không có chất bổ máu bổ khí, mà chỉ uống thuốc chữa bệnh, nên chức năng Doanh Phần sẽ bị hư hỏng thì hết chữa, Những bệnh nhân ung thư đều chú trọng đến thuôc chữa ung thư mà không chú trọng đến ăn uống tẩm bổ cho đủ khí và lượng huyết 4-5 lít để đủ nuôi tế bào, do đó tế bào lành do thiếu máu và khí oxy làm cho chúng cũng đang chết dần khiến cơ thể tăng dần tế bào ung thư khắp nơi, nên tây y chữa nơi này vừa xong lại phát hiện có tế bào ung thư ở nơi khác được gọi là di căn sang tạng phủ khác hoặc nặng hơn là di căn toàn thần hết cách chữa, thật ra do nguyên nhân thiếu khí oxy và thiếu lượng máu toàn thân thì tế bào toàn thân trở thành ung thư tại chỗ, chứ cơ thể không có đủ khí và máu để dẫn tế bào ung thư từ nơi này sang nơi khác được.

Khi bệnh nhân ung thư tìm những thuốc thần duợc chữa ung thư, chọn thuốc sai không chữa đúng bệnh, mặc dù được quảng cáo là loại thuốc thần kỳ, như lá đu đủ thần kỳ, đông trùng hạ thảo, măng cầu xiêm thần kỳ, Fucoidan thần kỳ, Lá Sả, Bán Liên Chi Bạch Hoa Xà Thiệt Thảo, Cây Nàn Hai, Nghệ Mật ong…chữa được đủ các bệnh ung thư mà thực ra cũng không có kết qủa.

Vì tế bào ung thư do thiếu lượng máu và thiếu khí lực. Thiếu một trong hai yếu tố này thì bênh không thể chữa khỏi.

Lại nữa, dù có dùng thuốc bổ máu, ăn đủ chất bổ làm tăng huyết, nhưng chức năng Doanh Phần thiếu khí lực co bóp, đã hư không thể hấp thụ và chuyển hóa những thức ăn thuốc uống đó thành khí và huyết thì bao tử chỉ như là thùng rác chứa thức ăn hư thối, việc chữa trị cũng không có kết qủa, thức ăn bổ, thuốc bổ, nằm tại chỗ trong bao tử không chuyển hóa dẫn đến nơi tế bào bệnh được. Muốn cơ thể có đủ máu không bị suy nhược, tây y cho tiêm B12 hay tiếp thêm máu, bệnh nhân cảm thấy khỏe, sắc mặt hồng hào, nhưng kượng máu này chỉ nuôi tế bào được 1 tuần, tuần sau da mặt lại xanh mét yếu sức, khiến người ta tưởng bệnh ung thư như có quỷ ma cà rồng hút máu, thật ra công thức máu bị phá huỷ do thiếu oxy vì không tập khí công, không biết luyện thở cho cơ thể có thêm oxy, khi máu đỏ vào là Fe2O3, thở ra thì Carbon lấy mất oxy thành thán khí CO2 thì máu đỏ biến thành máu đen Fe2O2, rồi oxy mất dần còn lại chất sắt Fe, chính chất sắt này thiếu oxy len lỏi trong dòng máu xâm nhập hồng cầu lấy mất oxy của hồng cầu khiến tế bào trong cơ thể trở thành tế bào mất máu thiếu oxy sẽ bị ung thư nhiều hơn.

Cũng đã có nhiều bệnh nhân ung thư dùng qua những thứ thuốc thần kỳ cũng vẫn chết, vì thế tây y không chú ý đến nghiên cứu để chế thành thuốc chữa ung thư.

Thật ra những thuốc này nếu biết cách sử dụng đúng, nó cũng hổ trợ tốt cho việc điều trị, còn không biết cách sử dụng thì nó lại là thuốc mau giết chết bệnh nhân. Ngoài ra, điều quan trọng để chữa ung thư là phải tăng cường thể lực cho cơ thể chính là cần phải ăn uống những thức ăn bổ máu, tiêm hay uống thuốc bổ máu cho có đủ máu nuôi tế bào, và tập khí công cho có khí lực dẫn máu và thuốc đến nơi tế bào bệnh.

Khi cơ thể có tập luyện khí công như động công hay thở thiền và đủ lượng máu 4-5 lít đi nuôi tế bào, nó đem theo thành phần thuốc cây cỏ đi theo Tính-Khí-Vị của vị thuốc để chữa bệnh như:

Lá Sả : Tính của sà là ấm, nóng, Khí của nó là thăng, Vị nó là cay đi vào phổi và ruột già, nên máu dẫn vị thuốc này vào phổi giúp cho phổi đang bị ung thư hàn lạnh thiếu khí làm teo phổi, thì Lá Sả làm cho phổi ấm, nở phổi. Như vậy lá Sả chữa được bệnh phổi và ruột già, còn những bệnh ung thư khác không chữa được.

Lá Đu đủ : Tính của nó là nhiệt, Khí của nó là thu liễm, Vị của nó là đắng và chát, máu dẫn chất đắng vào tim, và ruột non, như vậy nó không chữa được những bệnh ung thư khác.

Mãng cầu xiêm : Tính của nó là hàn, Khí của nó giáng hạ, Vị ngọt hơi chua. Thuốc đi vào tạng phụ theo vị, nên máu đem thuốc vào bao tử nhiều hơn vào gan, để chữa gan hay bao tử hàn, chứ không phải chữa bao tử nhiệt, khi bao tử hàn được tăng nhiệt thì nhiệt truyền xuống ruột già nếu bị ung thư do hàn lạnh thì nó cũng hết hàn…..như vậy mãng cầu xiêm cũng không chữa được các bệnh ung thư khác…

Còn những thuốc trên thị trường quảng cáo chữa được các loại ung thư, chúng ta không biết trong thuốc có thành phần gì, làm sao biết được tính-khí-vị để biết thuốc vào tạng phủ nào nếu không nhờ máy đo áp huyết và máy đo đường.

Thí dụ uống 1 loại thuốc chữa ung thư, trước khi uống hãy đo áp huyết 2 tay, 2 chân và thử đường, sau khi uống 30 phút đo lại áp huyết 2 tay 2 chân và đường, chúng ta cũng biết được thuốc đó có chữa đúng bệnh của chúng ta đang cần hay không khi so sánh áp huyết :

Như số tâm thu tăng bên tay phải là gan gọi là tăng khí, tâm trương tăng, gọi là tăng huyết, nhịp tim tăng, gọi là tăng nhiệt, như vậy nhờ máy đo áp huyết đã tìm ra tính-khí-vị của vị thuốc này là : Tính nhiệt, khí thăng, vị chua. Như vậy thuốc này hợp với bệnh ung thư gan hàn và teo gan, ung thư gan nhiệt sưng không dùng được nếu uống vào mau chết.

Như số tâm thu giảm bên tay trái là khí giáng, tâm trương giảm thì mất máu, nhịp tim tăng là nhiệt. Đông y kết luận thuốc này có tính nhiệt, khí giáng hạ, vị ngọt vào tỳ vị, như vậy người nào có bệnh ung thư bao tử hay lá mía sưng do ứ huyết hàn thì dùng đưọc, bao tử nhiệt không dùng được sẽ mau chết.

Như số tâm thu ở chân trái liên quan đến thận trái và ruội già, chân phải liên quan đến thận phải và gan.

Nhờ đo áp huyết, số tâm thu gọi là Khí tăng hay giảm, số tâm truơng làm tăng máu hay mất máu, nhịp tim tăng là có tính nhiệt, nhịp tim giảm là có tính hàn.

Nếu trong 4 vị trí đo áp huyết, so sánh trước sau khi dùng thuốc, vị trí nào làm thay đổi áp huyết thì biết vị thuốc đi vào tạng phủ đó. Như đắng vào tim, tiều trường, ngọt vào tỳ vị (bao tử, lá lách), cay vào phổi và ruột già, mặm vào thận và bàng quang, chua vào gan, mật.

Khi đo áp huyết so sánh trước sau, áp huyết gan thay đổi thì thuốc có vị chua, khi áp huyết bên bao tử thay đổi thì thuốc có vị ngọt…như vậy vị chỉ là dẫn thuốc, còn chữa bệnh thì cần tính của thuốc, khí của thuốc, như tính hàn, nhiệt ôn (ấm, không hàn không nhiệt), khí như làm tăng, làm giảm, khí giữ lại không thay đổi là khí thu liễm, áp huyết không đổi mà xuất mồ hôi là khí xuất…

Trong đông y có thể tự điều chế được thuốc trị ung thư, như ung thư phổi hàn khí hư, tìm thuốc làm tăng nhiệt, làm tăng khí, nếu như thuốc có tính nhiệt, tăng khí nhưng lại có vị ngọt nên thuốc chỉ dẫn vào tỳ vị, mà chúng ta muốn chữa phổi, thì khi uống vào nó chỉ vào bao tử mà không vào phổi, lúc đó thầy thuốc sẽ cho thêm chất cay nhiều hơn như gừng, thì thuốc sẽ vào phổi nhiều, vào bao tử ít.

Với cách điều chế thuốc như vậy thì thuốc đông y không đặt nặng vấn đề chế thuốc đặc trị ung thư hay không, vì phương pháp chữa bệnh của đông y là đối chứng trị liệu các bệnh đều theo một nguyên tắc : Vị là chất dẫn thuốc có thể có 2, 3 vị, tính là muốn chữa hàn hay nhiệt hay ôn, khí là muốn khí thăng hay giảm hay xuất hay liễm, mỗi lần cho thuốc là mỗi lần thầy thuốc đông y phải bắt mạnh lại xem tạng phủ nào hư hay thực, hàn hay nhiệt để đổi tính thuốc, khí thuốc và vị thuốc cho phù hợp liều lượng với bệnh, như vậy phải có thầy đông y giỏi.

Nhưng chúng ta nếu biết cách sử dụng máy đo áp huyết và máy đo đưòng kiểm tra các vị thuốc uống hay thức ăn xem có chữa vào đúng bệnh của chúng ta hay không chúng ta cần phải lưu ý 2 điều :

a- Áp huyết lúc nào cũng phải lọt vào tiêu chuẩn tuổi là thức ăn thuốc uống đúng (thuộc về Tinh)

b-Sự chệnh lệch áp huyết tay trái và tay phải truớc và sau khi ăn cách nhau từ 6-10mmHg mà thuận chiều, như trước khi ăn tay trái thấp, tay phải cao, sau khi ăn tay trái cao tay phải thấp, là chức năng Doanh Phần hấp thụ và chuyến hóa tốt, và đúng. (thuộc về Khí)

Còn thuốc thành phẩm có quảng cáo hay đến đâu, mà áp huyết không lọt vào tiêu chuẩn, như khí lực thấp thuốc dùng phải làm cho khí lực tăng, tâm trương là lượng huyết thiếu phải cần làm tăng lượng máu thì mới phục hồi được tế bào bệnh.

Nhưng đa số những thuốc chữa ung thư không có thuốc nào chú ý làm tăng lượng máu bằng thức ăn bổ máu và thuốc bổ máu, nên bệnh không khỏi.

Những yếu tố về thức ăn và hấp thụ chuyển hóa thức ăn theo mỗi bữa ăn nó mới làm thay đổi áp huyết sau khi ăn, do đó đo áp huyết sau khi ăn hay dùng thuốc mới quan trọng, mà ít có ai trong chúng ta dùng máy đo áp huyết kiểm chứng sau khi ăn.

Vì thức ăn có thể làm chết người khi áp huyết tăng cao, như ăn sầu riêng rồi uống Coca đã làm một du khách ở Thái Lan chết vì cả 2 thứ đều làm tăng áp huyết, mỗi múi sầu riêng tăng 10mmHg, 1 lon Coca tăng 10mmHg, nên thứ này sẽ có hại cho người có áp huyết cao, nhưng có lợi cho người áp huyết thấp…tính của nó là nhiệt, khí của nó là tăng, vị của nó là ngọt vào bao tử làm đầy hơi tăng khí nghẹt thở căng mạch máu não.. Nhưng 2 thứ này có lợi cho người áp huyết thấp hàn, còn người nóng nhiệt cao áp huyết lại không dùng được.

Cách đo áp huyết sau bữa ăn mới quan trọng. Đó là lý do tại sao bệnh nhân cao áp huyết vẫn đo áp huyết vào buổi sáng, tối và dùng thuốc chữa áp huyết đều đặn mỗi ngày theo thói quen như tây y dặn, mà nhiều bệnh nhân vẫn bị chết vì bệnh áp huyết tăng cao đột ngột hay giảm áp huyết khiến cơ thể suy nhược dần đến chết sau khi ăn.. .

C-Bài tập phục hồi chức năng Doanh Phần :

Doanh Phần bao gồm chức năng của 4 tạng phủ là Bao tử, Ruột già, Gan, Tâm Bào.

Bao tử là nơi nhận thức ăn phải đúng và đủ theo nhu cầu cơ thể là những chất tạo sinh ra máu, sinh ra khí, đủ lượng nước để tạo phản ứng điện giải với điều kiện nhiệt độ làm chín nhừ thức ăn, nhiệt độ bao tử theo đông y trong điều kiện tốt là thấp-nhiệt 41 độ C, nếu nhiệt độ bao tử thấp hơn do ăn những thức ăn có tính hàn như nhiều rau xanh, khổ qua, đậu xanh, giá sống thì thức ăn sẽ không tiêu, ngược lại thức ăn có nhiều chất cay nóng khô có tính nhiệt như nhiều thịt nướng, nhiều cay nóng, khô, không đủ chất lỏng làm nhuyễn thức ăn, thức ăn cũng khó tiêu, không thể chuyển hóa thành chất lỏng.

Lực bóp của bao tử có mạnh, thức ăn mới chuyển thành chất lỏng và đủ sức đẩy xuống ruột non thấm qua màng ruột theo mao mạch về tim.

Ruột già cũng phải có lực co bóp tạo thành phân tốt, còn nuớc dư thừa thấm qua màng ruột vào bàng quang

Tâm bào là hệ thống tuần hoàn máu dài 90.000km có nhiều mao mạch bám vào cơ sở tạng phủ để trao đổi máu nuôi tế bào tạng phủ, trao đổi hồng cầu và oxy cho từng tế bào, đem máu đỏ vào, theo động mạch, lấy máu đen ra theo tĩnh mạch, phổi cung cấp oxy để duy trì công thức máu, qua thận lọc máu xấu, lấy máu tốt chứa trong gan, gan cung cấp máu cho tim bơm máu tuần hoàn.

Gan là kho chứa máu cung cấp đủ máu cho tim tuần hoàn theo hệ thống màng tâm bào và các ống mạch động mạch tĩnh mạch và mao mạch dẫn đến từng tế bào, nên gan cũng cần khí lực co bóp đủ mạnh.

Như vậy chúng ta phải tìm ra bài tập nào có khả năng làm co bóp tim, co bóp phổi, co bóp bao tử, co bóp gan, co bóp ruột làm tăng lực bơm máu thúc đẩy động mạch tĩnh mạch đủ mạnh thông khí huyết vào tận những mao mạch trao đổi máu khắp các tế bào tạng phủ, dồn hết máu và khí ưu tiên cho tạng phủ để chữa những tế bào ung thư thay cũ đổi mới, thì phải ép cả những mao mạch các bắp thịt ở tay chân dồn vào trong bụng.

Tìm tất cả những bài tập khí công của tất cả các trường phái khí công, võ thuật, yoga không có bài nào đáp ứng được những yêu cầu trên, duy chỉ có 1 bài chữa được bệnh ung thư là bài Cúi Lạy Phật hay Cúi Lạy Chúa phối hợp với động tác Yoga để thành ra bài tập khí công chữa bệnh ung thư có kết qủa.

Bài tập Cúi Lạy chữa tiêu hóa, làm mạnh lưng, chân, gối, thông mao mạch tạng phủ. (Cúi lạy 100-150 lần, mỗi ngày 2 lần)

Alleluia

http://www.youtube.com/watch?v=8jUkvfxpzwE

Lễ Phật Trì Danh Ngồi thiền Phản Văn Trì Danh (Cúi Lạy 100-150 lần, mỗi ngày 2 lần)

http://www.youtube.com/watch?v=uS12LGxoUUk

Exercise : Salut au Dieu AmiTaBha
http://youtu.be/wGmu5zvaHtI

Exercises A-Mi-Ta-Bha (très lentement)

http://youtu.be/wu9h4AzkgZo

Kỹ thuật áp dụng trong bài tập :

1-Miệng phải đọc lớn ra tiếng, khí thoát ra miệng nhiều thì oxy vào nhiều.

2-Mỗi chữ phát ra là một động tác thiền có nghĩa là tập trung ý vào bàn tay, đầu gối, bàn chân, ai theo Đạo Phật thì phát âm A Di Đà Phật, Thiên Chúa giáo thì phát âm A-Lê-Lui-A, những người ngoại quốc phát âm A-Mi-Ta-Bha.

3-Bài tập Cúi Lạy này có 3 giai đoạn :

a-Giai đoạn Cúi và ngồi :

Đứng thẳng hai bàn tay chắp lại đưa ngang trán, miệng phát ra tiếng A kéo dài cho nguời khom lưng xuống từ từ cong hình chữ A theo Yoga để ép khi huyết ở bụng cho các tạng phủ co bóp nhỏ lại đầy khí và huyết cũ trong tạng phủ ra, miệng vẫn cho thoát hơi chữ A cho đến khi 2 bàn tay chạm đất thì phát ra chữ thứ hai, người vẫn cong hình chữ A, đầu cúi xuống dồn máu lên não nuôi thần kinh trung ương thông mao mạch đầu..

Hai bàn tay vẫn chống trên đất chỉ cần hạ 2 đầu gối một lượt chạm đất thì miệng phát ra tiếng thứ ba.

Ngồi thẳng lưng, khi miệng phát ra tiếng thứ tư thì xếp hai mu bàn chân chạm đất mông ngồi lên lòng bàn chân, là ép mao mạch chân đùi cho máu dồn vào bụng.

Nếu dùng 4 chữ A Mi Ta Bha, thì chú ý những vị trí như :

Chắp 2 bàn tay để trên trán phát ra chữ A kéo dài cho đến khi cúi khom lưng hình chữ A hai tay chạm đất thì miệng phát ra chữ Mi cũng kéo dài hơi, hai bàn tay vẫn chạm đất cho đến khi hai đầu gối qùy 1 lượt chạm đất thì miệng phát ra tiếng Ta kéo dài, rồi xếp 2 bàn chân cho mu bàn chân úp xuống sát đất, mông chạm bàn chân miệng phát ra chữ Bha.

b-Giai đoạn ngồi và lạy : ép sát bụng vào đùi, ép sát mông vào chân, không được chổng mông hở đít, hai cánh tay duỗi thẳng ra phía trước cho trán chạm đất, mục đích ép khí trong bụng, ép căng mao mạch chân đùi, tay vai dồn máu vào bụng để bụng ép máu trong bụng thông vào mao mạch từng tạng phủ trao đổi oxy và máu cho tế bào bệnh nằm sâu trong tạng phủ.

Hai tay để trên 2 đầu gối miệng phát ra chữ A kéo dài, hai tay duỗi thằng ra phía trước hết cỡ, cho trán chạm đất, miệng phát ra chữ Mi rồi chữ Ta, bắt đầu kéo 2 tay về đến đầu gối thì lưng ngồi thẳng hai bàn tay để trên đầu gối, miệng phát ra chữ Bha.

c-Giai đoạn khom thân người hình chữ A rồi đứng lên :

Hai bàn tay chống sát đầu gối, gấp 5 ngón chân chạm đất, 2 bàn tay vẫn chống đất miệng phát ra chữ A kéo dài.

Hai bàn tay vẫn chạm đất, chỉ nhấc 2 gối lên đứng khom lưng, đầu dốc xuống, hai chân hai tay vẫn chạm đất, miệng phát ra tiếng Mi kéo dài.

Rồi dùng hai bàn tay chống đất đẩy cho thân người đứng lên hai tay chắp lại kéo lên, miệng phát ra tiếng Ta.

Đứng thẳng người hai bàn tay chắp trước ngực miệng phát ra tiếng Bha. Là xong 1 lạy.

Bắt đầu lạy thứ hai, miệng phát ra tiếng A thì hai bàn tay chắp lại để trên trán rồi cúi khom lưng hình chữa A, cho đến khi đầu dốc xuống hai bàn tay chạm đất miệng phát ra chữ Mi là xong giai đoạn a,b…

Cứ thế tập chậm lạy 100-150 lạy, giúp áp huyết ổn định, tăng hồng cầu, đường tụt thấp phải uống 1 ly nước nóng ấm pha 2 thìa đường để chống mệt tim.

Mỗi ngày tập 2-4 lần, và ăn uống đủ chất bổ máu, đủ đường trong 3 tháng thấy áp huyết lọt vào tiêu chuẩn, đi tái khám kết qủa thử máu có thay đổi tốt hơn.

Có nhiều bệnh nhân ung thư bị bác sĩ báo tin buồn cho biết ung thư giai đoạn cuối di căn toàn thân, không chữa được nữa chỉ còn sống vài tuần, ngưòi xanh sao, áp huyết thấp thiếu khí thiếu máu, số tâm thu thấp dưới 80, số tâm truơng dưới 60

Tôi bảo phải ăn phở bò, tiêm hay uống B12, uống Coca, bệnh nhân nói bàc sĩ nói những thứ này làm tế bào ung thư phát triển.

Tôi nói đằng nào mình cũng chấp nhận chết vì không chữa được, còn sợ gì ung thư phát triển, nếu nhờ nó mà chúng ta sống được hay chết không đau đớn cũng tốt hơn….

Bênh nhân áp dụng theo cách ăn uống và tập khí công, 2 tháng sau không thấy lại phòng mạch, tôi tưởng bệnh nhân đã ra đi thì cũng xong 1 đời người, nhưng bệnh nhân trở lại da dè hồng hào có da có thịt, và báo cho tôi một tin mừng, đã đi tái khám, bác sĩ cho biết không còn tìm thấy dấu vết tế bào ung thư, bác sĩ hỏi bệnh nhân làm gì mà khỏi bệnh ung thư, bệnh nhân trả lời là tập khí công, bác sĩ chỉ cười không lý giải được, nhưng vẫn khuyến khích bệnh nhân tiếp tục tập khí công đi.

Thật ra khí công chỉ làm thông mao mạch bơm máu dẫn máu, hồng cầu và oxy thay đổi tế bào thuộc Khí, còn phần Tinh là thức ăn phải sinh ra máu, nên cần phải ăn uống bổ máu.

Sau khi ăn thức ăn đủ bổ thì cần phải tập khí công thông mao mạch bằng bài tập Cúi Lạy là làm mạnh chức năng Doanh Phần để tăng tính hấp thụ và chuyển hoá thức ăn thành Khí nuôi Khí Phần, thành máu nuôi Huyết Phần và ép máu bơm máu thông mao mạch thay đổi tế bào thì tế bào ung thư tự bị hủy diệt thành tế bào chết bị thay thế bằng những tế bào khỏe phục hồi lại chức năng của tạng phủ phòng chống bệnh.

Hơn 20 năm làm tại phòng mạch ở xứ người, chứng kiến bao nhiêu bệnh nhân ung thư, có người theo phương pháp ăn uống bổ máu tập khí công đều thoát khỏi tử thần cho đến nay vẫn sống vui sống khỏe, nhưng có những người không tin đành chịu chết bằng những mũi thuốc morphin giảm đau mà người suy nhược thiếu ăn gầy đét hôn mê sâu lịm dần cho đến khi tắt thở, cũng có những bệnh nhân vừa chữa theo tây y vừa tập khí công nhưng không chịu dùng thuốc bổ, khi tập thì khỏe, khi yếu sức không dùng thuốc bổ thì không có sức tập được, lại theo mấy loại thuốc thần dược cho đến khi chết, người nhà đem lại phòng mạch biếu tôi những thần dược dư thừa còn lại đã mua từ VN hay bên Mỹ nói rằng để tôi cho những bệnh nhân ung thư khác dùng. Tôi bảo người nhà của qúy vị dùng thứ này không khỏi mà vẫn chết thì tôi cho người khác dùng cũng đâu có khỏi, tôi cũng vất đi, thế mà hiện nay vẫn có nhiều người không biết cách chữa đúng vào nguyên nhân bệnh, vẫn tốn nhiều tiền mua những thần dược này mà không biết cách kiểm chứng thuốc bằng máy đo áp huyết và máy đo đường, là một điều đáng tiếc.

Thân

doducngoc

Vuốt động mạch cảnh lên làm tăng áp huyết, vuốt xuống làm hạ áp huyết.

Vuốt động mạch cảnh lên làm tăng áp huyết, vuốt xuống làm hạ áp huyết.

http://youtu.be/uGgR2ev6G6s

12 kinh lạc và các huyệt đạo

Copy link save vào document trong computeur

Xem video 12 kinh lạc và các huyệt đạo  

http://khicongydaotoronto.com/forum/viewtopic.php?f=7&t=4609&p=10493#p10493

Video mới

Nơi nào thiếu máu và đường gây ra đau phải châm và giác hút thông máu

1/3 http://youtu.be/AlUQGAyw7dk

2/3 http://youtu.be/XKdXYC2wxMI

3/3 http://youtu.be/xJMmxrYhuPs

Chocolat làm hạ áp huyết và đường

1/2 : http://youtu.be/hce9fdy9PQI
2/2 ; http://youtu.be/NCdXmDROEmA
Gai cột sống :
http://youtu.be/TCE6FuZsu1M

Nguyên nhân hình thành tế bào ung thư

Nguyên nhân hình thành tế bào ung thư

1/4 : http://youtu.be/WocBj1y1VrY
2/4 : http://youtu.be/-HlJkN8scrM
3/4 : http://youtu.be/2Lrf2epaUiw
4/4 : http://youtu.be/QGHqf95T4sM

Video bài giảng 11 tại Thụy Điển

Video bài giảng 11 tại Thụy Điển

https://www.youtube.com/watch?v=GeSqqLRPJCM

Giải thích :

1-Hậu qủa của đường-huyết thấp :

Ở phút đầu

Theo bảng tiêu chuẩn viết trên bảng này thì đường-huyết dưới 100 mg/dL =6.0mmol/l là thiếu đường làm cho con người không có năng lượng hoạt động, nên không làm được những việc nặng, cơ thể cứ cảm thấy tự nhiên yếu đi làm việc gì cũng hay mệt, vã mồ hôi, không có sức, chân tay lạnh. Nhất là hiện nay có sự mâu thuẫn về tiêu chuẩn đường-huyết giữa ngành y và ngành dược.

Ngành dược sản xuất ra máy thử đường-huyết ghi trên hộp que thử tiêu chuẩn bình thường 6.0-8.0mmol/l, trên thực tế ngành y tự động hạ thấp tiêu chuẩn xuống, nếu ai đường-huyết trên 6.0mmol/l là đã bị kết án là có bệnh tiểu đường nên phải dùng thuốc trị tiểu đường, vì thế đa số những người uống thuốc trị bệnh tiểu đường thì đường-huyết xuống trung bình còn 4.0-5.0mmol/l=60-80mg/dL, nên người bị yếu không có sức làm việc, hay bị chóng mặt đổ mồ hôi, mệt tim, hồi hộp, chân tay lạnh.

Đường-huyết thấp nữa từ 3.0-4.0mmol/l thì sẽ bị mù mắt, hay ngủ gục, hôn trầm, mệt mỏi, đau nhức tứ chi, đau nhức thần kinh gân cơ, thoái hóa xương đốt sống cổ gáy, lưng, thoát vị đĩa đệm, loãng xương, mất trí nhớ…

Thấp hơn nửa là mất dương khí, mắt luôn nhắm, ngoài những dấu hiệu bệnh như trên cò hay bị sỉu, ngủ sâu khó tỉnh dậy hôn mê như chết, có khi bị chết oan.

Nhiều người đi khám bác sĩ không bị tiểu đường, nhưng sợ ăn ngọt nhiều sẽ bị bệnh tiểu đường, nên kiêng ăn đường, kiêng ngọt làm đường-huyết xuống thấp, vì không có máy đo nên không biết, cũng bị chết oan, ngủ như bất tỉnh không dậy nổi.

Ở VN xưa kia chưa có máy đo đường và cũng không biết bệnh tiểu đường là gì, thỉnh thoảng có người đêm ngủ một giấc sâu như hôn mê, người lạnh do nhịp tim qúa thấp, do đường qúa thấp, người nhà tưởng chết đem chôn, thực ra 2 ngày sau tỉnh lại thì đã ở trong quan tài dưới lòng đất không ai biết để cứu.

2-Có người hỏi trưùng hợp đường-huyết cao phải làm sao ?

Ở phút 1:25

Đường cao thì bó chân tập bài “Đi cầu thang 10 bậc” 30 lần đường-huyết xuống 5.0mmol/l, ở VN những người lao động nặng như đạp xích lô, phu khuân vác không bao giờ bị bệnh tiểu đường hay dư thừa mỡ, mà luôn luôn bị thiếu đường thiếu mỡ do làm việc nặng tiêu hao mất mỡ mất đường. Vì thế bệnh tiểu đường hay áp huyết cao, dư mỡ chỉ xẩy ra cho những người ăn nhiều lười tập vận động cơ bắp.

Có người nào bị đi cải tạo mà có bệnh tiểu đường, áp huyết cao, dư mỡ không, lúc nào cũng đói không có gì ăn, thiếu dinh dưỡng làm sao có bị những bệnh này.

3-Tại sao hay bị đau nhức ?

Ở phút 4:15

Ngoài nguyên nhân áp huyết thấp, nguyên nhân đau cũng do đường-huyết lúc đang bị đau là thấp, cần phải đo để biết ngay nguyên nhân để chữa vào gốc bệnh, chứ không thể nói tôi đi bác sĩ khám nói không có bị tiểu đường, hay nói đường-huyết của tôi tốt. Cái đau ngay bây giờ đang đau thì phải thử đường ngay bây giờ, chứ không phải lấy kết qủa ngày hôm qua, hay lấy kết qủa thử trước khi ăn lúc sáng hay lúc trưa….Tại sao ?

Nhiều người tưởng lầm. nếu đường trước khi ăn là 6.0mmol/l, sau khi ăn tưởng đường sẽ cao hơn, nên tưởng cái đau không liên quan đến đường-huyết, nên không ngờ khi đang đau là đường-huyết đã xuống thấp, vì nếu hôm đó ăn canh khổ qua, hay khổ qua kho, ngon miệng ăn nhiều, sau khi ăn xong thấy mệt, thấy đau nhức mà không đo nên không biết đường-huyết bị tụt xuống, có khi tụt thâp dưới 4.0mmol/l làm mệt tim muốn ói tưởng trúng độc thức ăn.

4-Khi đau uống thuốc giảm không hết là tại sao ?

Ở phút 4:20

Ngoại trừ khi bị đau do chấn thương làm sưng đau nhức, do áp huyết cao.. thì dùng thuốc giảm đau mới có kết qủa. Còn đường-huyết thấp làm đau nhức thần kinh thì không chữa đúng gốc bệnh, dù có uống thuốc suốt đời cũng không bao giờ hết đau mà lại gây phản ứng phụ của thuốc làm hại bao tử.

Vì thuốc an thần giảm đau là thuốc ngủ cho quên đau, làm giảm chức năng giao cảm thần kinh, khi tỉnh dậy cũng vẫn còn đau, không khác gì mình đói bị đau bụng, uống thuốc ngủ khi tỉnh dậy vẫn đói, chữa gốc bệnh là phải cho ăn mới hết đói, cũng vậy, khi đau cần đo đường-huyết thấy thấp thì phải uống thêm ngọt đủ để nuôi thần kinh gân cơ giúp thần kinh được thư giãn không co rút làm đau nữa.

Một bệnh nhân bị đau nhức kinh niên, hỏi đường bao nhiêu, trả lời 118mg/dLtrước khi ăn. Đường trong tiêu chuẩn khi bụng đói, sao bây giờ vẫn đau. Vậy đưởng ngay bây giờ là bao nhiêu ?. Trả lời chưa đo.

Không phải bữa ăn nào đường-huyết cũng lên, vì trong bữa ăn có khi ăn những chất làm hạ đường-huyết như khổ qua, những chất chua làm hạ đường mà không biết, vì thế sau khi ăn vẫn phải đo đường-huyết để biết nguyên nhân.

Trong bữa ăn trưa nay có những món gì làm lên đường : Dưa gang, chè ngọt, bắp luộc…

Có chất dưa hấu, nước chanh…làm xuống đường.

Vậy ăn trái hồng, muốn biết áp huyết hay đường lên hay xuống thì hỏi ai ? Hỏi máy đo áp huyết với máy đo đường…..

5-Da chân dầy chai chân.

Ở phút 13:30

Theo lý thuyết đông, phế yếu không nuôi da, không nuôi thận, và do uống chất vôi calcium nhiều làm máu đặc trở thành huyết hóa vôi làm bệnh gai gót chân.

Cách chữa ngọn :

Chà rửa sạch chân bằng nước xà phòng, rửa chân lau sạch, rồi ngâm chân vào nước dấm 30 phút cho mềm da, lau khô, rồi ngâm chân 30 phút vào cái khay hay hộp thiếc bánh Biscuit có đổ 1 chai dầu nguyên chất Huile de Glycérine 100%. Tính chất của dầu làm mềm da và dầu có tính hòa tan trong nước nên dầu thấm được vào sâu mấy lớp da giúp máu lưu thông dễ dàng ra bên ngoài nuôi da.

Dầu Glycérine có trong những mỹ phẩn nuôi da để dẫn những chất nuôi da thấm vào da giữ cho da có độ ẩm tốt không bị khô da, chai da.

Ngâm bao giờ khỏi bệnh thì ngưng.

6-Áp dụng đồ hình Lạc Thư Ma Phương.

Ở phút 22:00

Nguồn gốc Hà Đồ Lạc Thư

Tương truyền vào thời Phục Hy trong Tam Hoàng thời thượng cổ, trên sông Hoàng Hà xuất hiện một con Long Mã (đầu rồng mình ngựa), trên lưng có những điểm đen trắng cấu thành một bức đồ; Phục Hy theo đó mà diễn ra Bát quái, bức đồ này gọi là “Hà Đồ”.

Tương truyền khi Đại Vũ trong Ngũ Đế trị thủy, trên sông Lạc xuất hiện một con rùa lớn, trên lưng rùa mang hoa văn cấu thành một bức đồ, bức đồ gọi là “Lạc Thư”

Theo Dịch Lý, Hà Đồ Lạc Thư có rất nhiều công dụng trong mọi lãnh vực để áp dụng, nó gồm có 9 số từ 1 đến 9, xếp theo hình vuông có 9 ô vuông, xếp đặt số trong mỗi ô làm sao cho tổng số 3 số theo chiều dọc, hay ngang hay chéo là 15, nên môn hình học gọi là Kỳ Hà Học và trong toán học gọi là Ma Phương.

(Xem hình trên bảng)

Giống như khoa học truyền thông, người ta đặt những trạm thu phát sóng ở 9 địa điểm xa, mỗi địa điểm có môt số code hoạt động riêng để liên hệ với nhau thành một vùng phủ sóng, cho các số thẻ điện thoại mà họ sản xuất ra đều có số code để có thể liên lạc với nhau trong vùng phủ sóng từ trường ấy.

Cũng áp dụng nó trong môn day bấm huyệt, chọn 9 huyệt, 3 hàng ngang, mỗi hàng có 3 huyệt, như vậy 9 huyệt này tạo thành một từ trường năng lượng hoạt động chung, nên mặc dù những huyệt được chọn trên cơ thể thuộc nhiều đường kinh khác nhau, thì giá trị chữa bệnh của huyệt không còn nằm trong sự khí hóa hạn hẹp của đường kinh nữa, mà nó được thu hút năng lượng từ trường bên ngoài tác động vào trong cơ thể.

Ứng dụng, thông thường lấy huyệt thứ 5 làm căn bản đặt trên đường giữa Mạch Nhâm trước ngực bụng hay trên Mạch Đốc phía lưng trên hay giữa hay dưới, nó là trạm trung ương thu nhận năng lượng và phát tán năng lượng làm thay đổi tình trạng khí huyết trong vùng phủ sóng được điều hòa.

Gài số code Hà Đồ Lạc Thư của mỗi số bằng cách day mỗi huyệt hay mỗi số theo thứ tự vị trí từ 1 đến 9 như sau :

Những vị trí số lẻ 1,3,5,7,9, mỗi vị trí số dùng ngón tay cái ấn vào huyệt, day tròn thuận chiều kim đồng hồ, mỗi số được nhân với 9 lần gọi là số lão dương.

Những vị trí số chẵn 2,4,6,8, mỗi vị trí số dùng ngón tay cái ấn vào huyệt, day ngược chiều kim đồng hồ, mỗi số được nhân lên với 6 gọi là lão âm.

Chữa bệnh day Hà Đồ Lạc Thư thì mỗi số phải nằm trên vị trí của 1 huyệt.

Xem thêm chi tiết : Đánh tìm trên Internet chữ Hà dồ lạc thư Khí Công Y Đạo

Hôm nay chúng ta áp dụng đơn giản hơn theo sáng kiến của Thầy đông y Hoàng Duy Tân đã đem giảng dạy trong Trường Đông Y VN, gọi nó là dồ hình Lạc Thư Ma Phương mà thầy giải thích và đã áp dụng có kết qủa tốt :

Đúng ra nên gọi là đồ hình Lạc thư – Ma phương, vì Hà Đồ ứng dụng Tiên thiên (nói về vũ trụ-thiên nhiên) còn Lạc Thư ứng dụng Hậu thiên (về con người).

Cách áp dụng :

Xé một tờ giấy khổ rộng nằm vừa trên mặt bụng hay mặt lưng bệnh nhân, đục 9 lỗ ngay giữa 9 ô vuông, đặt đồ hình bất cứ chỗ nào cũng được, không cần huyệt. Chỉ cần Ma phương – các hình vuông chung quanh. Như vậy có thể dùng được rất rộng rãi và rất công hiệu…

Khi ấn day vào 9 vị trí theo thứ tự chỉ cần nhớ là muốn day bổ, hay day tả, hay day đièu hòa :

-Nếu muốn bổ những bệnh hư yếu : Các vị trí đều day 9 lần thuận chiều kim đồng hô

-Nếu muốn tả những bệnh thực chứng : Các vị trí đều day 6 lần nghịch chiều kim đồng hồ.

-Đặc biệt, nếu muốn điều hòa, không rõ bệnh hư hay thực : Các vị trí đều day 5 lần thuận chiều kim đồng hồ, và cuối cùng day 5 lần lại vị trí số 5 thêm một lần nữa.

Và cũng chỉ nhớ là điều hòa, bổ hoặc tả… không cần phải nhớ số lẻ là bổ số chắn là tả… như kinh nghiệm của KCYĐ, vì thật ra, đang làm số lẻ bổ (9) đến số chẵn lại tả (6) hơi khó đối với những người mới học hoặc những người lớn tuổi.

Không cần chú ý số chẵn lẻ bổ tả nhưng chỉ thống nhất từ đầu là muốn bổ hay muốn tả hay muốn điều hòa mà thôi, thấy có kết quả tốt, có thể dùng được trong rất nhiều trường hợp..

Thí dụ chữa bệnh Nhức đầu, để huyệt số 5 giữa đỉnh đầu ngay huyệt Bách Hội.

Có 2 loại nhức đầu do thực chứng ( áp huyết cao) thì tả day ngược chiều kim đồng hồ 6 lần, hư chứng (áp huyết thấp) thì bổ day thuận chiều kim đồng hồ 9 lần.

Dễ nhất, khi không biết bệnh thực hay hư thì dùng phương pháp điều hòa, tất cả các huyệt đều day thuận chiều 5 lần theo từ 1 đến 9, rồi cuối cùng day lại huyệt số 5 một lần nữa.

Áp dụng đồ hình Lạc Thư Ma Phương điều hòa :

-Để huyệt số 5 nằm vào huyệt Chiên Trung, chữa mạnh tim, phổi, ho, suyễn, tức ngực…….

-Để huyệt số 5 nằm vào huyệt Trung Quản, chữa bệnh bao tử, đau bụng, không tiêu.

-Để huyệt số 5 vào ngay rốn Thần Khuyết, chữa bệnh đường ruột

-Để huyệt số 5 vào huyệt Khí Hải, chữa bệnh thuộc thận

-Để huyệt số 5 vào Mệnh Môn chữa mạnh thận dương

7-Tại sao những người già có bệnh cao áp huyết, khi đi hay bị ngã ?

Ở phút 40:45

Có những người già đi trong nhà hay bị té xụm chân do chân yếu chứ không do vấp té, mà chính bệnh nhân và các con ở nhà không biết nguyên nhân, cho đến khi té mà không ngồi dậy được, phải gọi xe cứu thương chở vào bệnh viện.

Bệnh nhân nằm trong bệnh viện 3 tuần không tìm ra nguyên nhân, và càng ngày bệnh nhân không cử động và ăn uống được, ai dè do vẫn uống thuốc chữa bệnh cao áp huyết nên áp huyết xuống còn 80mmHg nên cơ thể giống như người lớn mà sức lực chân chỉ bằng trẻ em thì không thể nào đi vững mới bị té. Hỏi bác sĩ và y tá sao áp huyết xuống thấp qúa rồi mà còn phải uống thuốc chữa áp huyết. Họ trả lời thuốc áp huyết là phải uống suốt đời không được bỏ ngày nào.

Cách chữa :

Tôi khuyên người nhà bệnh nhân xin cho cụ về nhà, uống thuốc bổ máu vì thiếu máu chứ không còn là dư máu cao áp huyết nữa. Một tháng sau cụ khỏe lại đi đứng vững vàng, còn về VN đi chơi.

Cho nên mỗi khi mệt, khó chịu, nhức đầu, chóng mặt, đau bụng, ăn không tiêu…..đều phải đo áp huyết và đo đường để biết nguyên nhân tại sao để phòng ngừa và biềt cách chữa kịp thời. Trong trường hợp áp huyết hay đường-huyết xuống qúa thấp thì tới giờ phải uống thuốc hạ áp hay hạ đường thì phải ngưng ngay, ngậm cục kẹo và hãy gọi điện thoại hỏi lại bác sĩ của mình.

8-Bệnh Parkinson có phải do áp huyết thấp lâu ngày ?

Ở phút 42: 20

Bệnh Parkinson có 2 loại thực chứng do cao áp huyết và hư chứng do áp huyết thấp.

Cách phân biệt :

Áp huyết cao do chạm thần kinh vận động, khi để tay trên bàn, có điểm tựa mà cứ vẫn bị giựt, cầm vật gì cũng bị co giựt nên múc cơm ăn bỏ vao miệng không được

Áp huyết thấp không phải do chạm thần kinh mà người không đủ khí lực và huyết lực, chân tay run lẩy bẩy khi đi đứng hay cầm vật gì, nhưng khi ngồi, đặt tay lên bàn có điểm tựa thì tay không bị giựt, tau cầm một vật nhẹ không bị giựt…Bệnh này dùng thuốc chữa Parkinson thực chứng để chữa thì sai, nếu càng ngày áp huyết càng hạ thấp thì bệnh càng nặng không còn sức đi lại, phải nằm một chỗ tiêu tiểu, vì dùng không đúng thuốc theo đông y là phạm phải sai lầm mà đông y gọi là : bệnh hư càng làm thêm hư.

Do đó bệnh nào cũng phải đo áp huyết và đo đường để biết phải chữa bổ khí huyết hay tả khí huyết.

9-Áp huyết số tâm trương cao, nhìn thấy dấu hiệu gì để biết ?

Ở phút 44:50

Có 1 trong 2 dấu hiệu nhìn thấy :

Mặt tự nhiên to má phình ra tưởng là mập, đó là dấu hiệu hở van tim, Màng bao tim có nhiều cholesterol trong vách thành ống động mạch hay tĩnh mạch, bên má nào phình to hơn là van tim bên đó có bệnh.

Ngược lại số giữa thấp hơn tiêu chuẩn thì má bị hóp hẹp là dấu hiệu hẹp van im, má bên nào hẹp thì van tim bên đó hẹp.

Bụng to có nhiều mỡ bụng, có thể khí lực cao, có thể khí lực thấp không có sức, do ăn không tiêu, chức năng tiêu hóa không tốt, không chuyển hóa thành máu mà thành mỡ bụng.

Đa số những người bụng mập nhiều mỡ bụng khi đo đường-huyết lại thấp, mặc dù họ có ăn nhiều chất ngọt. Thật là do nguyên nhân thân nhiệt hàn, áp huyết thấp, nên đường nằm trong mỡ không chuyển hóa đi vào máu. Sau khi tập bài “Đi cầu thang 10 bậc” đi lên xuống 30 lần cho xuất mồ hôi trán như những người có đường-huyết cao sẽ giảm xuống 5.0mmol/l, thì ngược lại người này đo đường-huyết lại tăng lên cao hơn trước khi tập.

Có câu hỏi làm sao để chữa ?

Dựa theo kết qủa số đo áp huyết, áp huyết cao thì tập cho xuống thấp, thiếu đường thì uống thêm 1 ly Pepsi rồi tập bài “Đi cầu thang” 30 lần cho tăng thân nhiệt làm xuất mồ hôi, tiêu mỡ, hạ áp huyết.

Áp huyết thấp thì ăn những thức ăn bổ máu, uống thêm 1 ly Coca rồi tập bài “Đi cầu thang” nhanh làm tăng áp huyết, tăng thân nhiệt. Giúp mau tiêu hóa, tăng tính hấp thụ và chuyển hóa thức ăn biến thành máu.

Thay Coca hay Pepsi bằng cách uống đường với nước có ga có giống nhau không ?

Không giống nhau, chất ga chỉ làm sủi bọt như ga trong Coca hay Pepsi, còn chất Coca có ga, lại có chất Cafein làm khí lực đi lên, tăng áp huyết, Pepsi có chất cam hàn làm tiêu hóa dễ khí lực đi xuống làm hạ áp huyết. Vị ngọt trong hai loại nước này là đường thiên nhiên từ lá Cỏ Ngọt (stévia) ngọt gấp 800 lần đường thường, nên số lượng stévia trong loại nước này qúa ít không thể tìm thấy, nó ngọt hơn cam thảo gấp nhiều lần, bình thường những ai dùng thuốc Malox chữa bệnh làm dịu cơn đau của bao tử, chứa hoàn toàn là bột cam thảo, cho nên phản ứng phụ của thuốc Malox làm tăng áp huyết.

Cơ thể thiếu đường thiếu máu cũng làm co rút thần kinh mặt làm liệt mặt, chứ không phải bệnh trúng gió là can phong nội động làm cao áp huyết gây tai biến mạch máu não.

Đường-huyết thấp phải bổ sung đường,làm thay đổi hàn nhiệt của nhịp tim, còn áp huyết thấp phải bổ khí và máu, áp huy61t cao phải ăn bớt chất bổ máu và tả bớt khí là tập khí công.

Khí công có bài làm tăng khí lực, có bào llàm giảm khí lực. Món ăn có thức ăn làm tăng máu, có thức ăn làm giảm máu như ăn cần tây sống, nhai lá lược vàng…., có thức ăn làm tăng đường, có thức ăn làm giảm đường như hột é, hột đay, khổ qua, lá dứa nấu chè….

10-Nói về đạo học, thế nào là mình biết phạm giới trộm cắp ?

Ở phút 49:45

Trong 5 giới, chúng ta thường phạm giới trộm cắp vi tế mà không biết như :

Khi đi chơi du lịch tập thể, trưởng đoàn dặn xuống xe đi chơi mua sắm tự do, đúng 1 giờ sau xe chạy. Đến giờ xe chạy mình cứ tà tà lè phè, thí dụ trong xe có 60 người, 59 người ngồi chờ mình, mình lên xe trễ bắt mọi người phải chờ mình là mình, dối với giới là mình đã ăn cắp giờ của những người khác, đối với thế gian thì gọi là mình không lịch sự, không biết điều làm phiền lòng người khác.

Khi trên xe hay trên máy bay, thí dụ mình đứng hàng ghết thứ 10, nhưng khi xuống xe cũng phải theo thứ tự, thì mình đứng vượt lên trên để đi ra trước, là mình cũng bất lịch sự, ăn cắp chỗ đứng thứ tự của người khác.

Chỗ trên xe bus dàng cho người già tàn tật, mình ngồi vào nơi đó là chũng ăn cắp chỗ của họ.

Những kinh sách ở chùa để biếu cho không mình lấy, nhưng cũng hỏi thầy một tiếng, con lấy được không thầy.

Ăn cơm mà lấy nhiều, ăn không hết đọ=ổ đi phí phạm cũng làp hạm tội ăn cắp phần cơm của người khác còn đang thiếu ăn.

Những người tây phương dù không tu, nhưng cũng được giáo dục trong học đường về phép lịch sự, cũng không bao giờ phạm những tội này, vô tìng họ không tu mà cũng giống người tu. Như vậy mấy kiếp trước có tu khéo nên kiếp này mới được lọt vào xứ văn minh của người da trắng. Những người kiếp trước không tu nên kiếp này lọt vào xứ kém văn minh là da đen. Còn người tu trung bình là da vàng.

Mình từ da vàng nhẩy sang sống nơi xứ văn minh tây phương là đường tu của mình được lên một bậc, còn mình da trắng trở về Vn đi đạp xích lô da trở thành đen hơn là mình xuống cấp một bậc rồi.

Có bao giờ những người da trắng có đời sống vất vả nghèo khổ như người da đen đâu. Họ phải giầu phải khá hơn người da mầu chứ. Nếu khổ thì phải đi đạp xích lô, buôn bán cực khổ thì da sẽ đổi mầu đen rồi…..

Giảng về những trình độ tu tiến hóa dần dần trong nhiều kiếp của một người….

Quy luật nhân qủa củ đạo Phật là :

Muốn biết kiếp sau thì hãy nhìn nhân gieo trong kiếp này là những hành động tốt xấu của kiếp này. Muốn biết nhân kiếp trước đã gieo thì hãy nhìn những kết qủa đang thọ hưởng kiếp này.

Kiếp này không bố thí thì kiếp sau nghèo. Giống như trồng cây giống xấu, 10 năm sau cây cho trái tốt hay xấu thì mình cũng đã biết trước rồi. Tại sao kiếp này tôi nghèo, vì kiếp trước keo kiệt bủn xỉn tham lam không bố thi…..

11-Tại sao có người trước khi ăn phải chích thuốc tiểu đường ?

Ở phút 54:44

Tại họ không đo, khi đường thấp mà không biết cứ vẫn chích như thường lệ làm suy tim hại thận, mất trí nhớ, loãng xương…

Khi tôi đang dạy, trong lớp có nhiều học viên xin tạm vắng để tiêm thuốc tiểu đường. Tôi bảo đo đường xem bao nhiêu trước khi chích.

Có người đường xuống thấp, tôi nói nếu chích xong thì bị té xỉu. Bệnh nhân trả lời bác sĩ dặn mỗi ngày đúng giớ phải chích.

Còn có người sau khi thử trước khi chích vì thấy đường-huyết còn cao. Tôi bảo trước khi chích hãy cột chân đi cầu thang 10-30 lần, sau khi đi xong, nếu đường còn cao mới chích, nhưng sau khi đi cầu thang thì đường xuống thấp, tôi nói nếu chích làm đường tụt xuống nữa sẽ bị té xỉu.

Trong Đạo Phật dạy Bi-Trí-Dũng, nếu mình biết đường-huyết đã xuống thấp mà chích cho mình bị xỉu gây ra bệnh suy tim hại thận thì mình là người tu mà không có Trí rồi.

Học viên nói : Nhiều người cứ trước khi ăn phải chích một mũi vào bụng rồi mới ăn.

Tại vì người ta không biết nguy hại của bệnh đường thấp nguy hiểm hơn là bệnh đường cao, và không chịu đo đường kiểm soát trước và sau khi ăn. Nên cũng có nhiều người lầm tưởng chắc ăn bánh bao lên đường nhiều, nhưng khi thử đường trước khi ăn và sau khi ăn thì đường lại xuống.

Như vậy tại sao chất bột làm tăng đường mà bánh bao nhiều bột lại không tăng đường. Nếu không thử nghiệm thì cứ tranh cãi, thực ra bánh mì cũng là bột ít đường hơn gạo, còn bánh bao có nhiều bột hơn nhưng nó lại có nhiều bột nổi hơn bánh mì nên nó hút đường làm hạ đường mà không tăng đường.

Những người chích vào bụng nhiều thành tế bào nơi bị chích chai cứng nổi cục lại gây tắc trở ngại khí huyết lưu thông làm chuột rút đau vùng bụng và chân.

Cũng có nhiều người uống mật ong nhiều hay ăn chè nấu bằng gạo nếp lại không bị tiểu đường, vì đo đường vẫn thấp trong tiêu chuẩn. Tại sao?

Vì mật ong tỷ trọng nặng khó hòa tan với thức ăn, nó lắng xuống dáy bao tử và thành ruột không tan vào máu, nên thử máu không có đường, chè nấu bằng nếp cũng vậy, hay chè nấu với nước cốt dừa, thì dễ tiêu hóa nhanh không lưu lại trong máu.

12-Bệnh suyễn không nên chữa bằng thuốc xịt vào lưỡi dễ bị ung thư lưỡi, họng.

Ở phút 55:44

Một bệnh nhân khi theo khóa học bị bệnh suyễn phải dùng thuốc xịt vào lưỡi, không cần chữa chỉ tập niệm A-Di-Đà-Phật là cách chỉ cho hơi ra mà không hít vào tự nhiên hết bệnh suyễn khỏi, vì suyễn là hơi thở ngắn nguyên nhân tham hít vào mà không thở ra, làm áp lực khí huyêt dồn lên ngực khiến thần kinh phế-vị co rút, tăng áp huyết, ngộp thở. Trong mấy ngày bệnh nhân này không chữa cũng đã khỏi.

Nguy hại của thuốc xịt vào lưỡi làm lưỡi mất dần cảm giác, giống như lưỡi có tráng lót một lớp giấy kính mỏng, ăn sẽ không còn biết mùi vị, dù thức ăn có ngon bệnh nhân chỉ có cảm giác như ăn cát, nên tuyến nước bọt cũng không làm việc, không chuyền cảm giác mùi vị nên chức năng chuyển hóa của bao tử cũng mất khả năng dẫn vị đi đến các tạng phủ khác để cùng nhau làm việc chuyển hóa đồng bộ, cuối cùng bao tử như thùng rác chứa những thức ăn không tiêu ứ đọng lâu ngày trở thành ung thư bao tử, ung thư lưỡi, ung thư lá mía….

Có người hỏi thế bệnh suyễn chữa làm sao hết ? Bệnh nhân đã khỏi bệnh suyễn trả lời : Phải bịt mũi thở bằng miệng trong 1 buổi.

Áp huyết cao và bệnh suyễn là bệnh gì ? Là bệnh tham lam, đi vay nhiều mà không chịu trả.

Tham ăn nhiều mà tiêu hóa ít, vay nhiều trả ít thì bị bệnh cao áp huyết. Muốn chữa khỏi bệnh này thì ăn ít là vay ít, làm nhiều là trả nhiều, áp huyết sẽ xuống thấp.

Suyễn là tham hít vào nhiều là vay nhiều, thở ra ít là trả ít. Muốn chữa bệnh này là ít vay mà trả nhiều, bằng cách bịt mũi bằng bông gòn chỉ thổi hơi ra hay thở ra bằng miệng suốt ngày thì khỏi bệnh.

13-Chữa sôi bụng làm sao ?

Ở phút 58:15

Bệnh nhân bị bệnh suyễn bụng lúc nào cũng sôi ục ục…khi tập thiền nằm, hai bàn tay đặt chồng trên rốn, nằm thay vì Thiền Quán Tức nghe bụng phồng-xẹp được thì đổi sang thiền Sổ Tức như bình thường, thì cách này cũng thiền thả lỏng cơ thể, cuốn lưỡi ngậm miệng thở bằng mũi tự nhiên, không đếm hơi thở mà nằm yên lặng nghe tiếng bụng sôi mới đếm 1, cứ thả lỏng người, thở tự nhiên, chỉ lắng nghe bụng có sôi không để đếm lần thứ 2, rồi lắng nghe lần thứ 3… nhờ theo dõi lắng nghe theo nguyên tắc khí công ý ở đâu khí ở đó, ý ở đâu máu chạy đến đó….cuối cùng không nghe thấy tiếng bụng sôi nữa..

Có thể giải thích như sau : Lạnh bụng do thức ăn lạnh làm bụng sôi, ý ở đâu thần ở đó làm bụng tăng nhiệt độ nóng.

Sôi bụng do xoang bụng có nhiều bọng khí, rải rác bị ngăn chặn bởi những màng mỡ sa, tập trung khí vào rốn là huyệt Thần Khuyết, tất cả các khí rải rác trong các bọng khí khi di chuyển về tạo ra tiếng sôi xong thì các bọng khí hết khí.

Tập thiền nghe đếm tiếng bụng sôi trước khi đi ngủ có kết qủa ngủ nhanh hơn, và bụng ấm nóng, hết sôi, không còn lạnh bụng lại ngủ ngon hơn.

Sôi bụng là bụng lạnh

Ăn xong mà ngáp là bụng lạnh bao tử ăn thức ăn hàn.

Ăn xong vừa ngáp vừa buồn ngủ là bao tử thiếu đường nên thiếu nhiệt lượng chuyển hóa thức ăn, nó cũng làm cho áp huyết xuống thấp.

14-Chữa bệnh theo pháp của Phật .

Ở phút 1:00:10

Chữa theo pháp của Phật. Thân người do tứ đại hợp thành : Đất, Nước, Gió, Lửa.

Xét theo y học, chất đất là chất Thổ là những chất đặc hình thành thân xác con người như da thịt xương, đầu mình chân tay…

Muốn nuôi sống được thân xác là chất Thổ thì phải có chất Thủy là chất lỏng như nước, máu và những dịch chất

Muốn cho chất lỏng chuyển động đi khắp toàn thân nuôi các tế bào của thân xác và tế bào máu và và thanh lọc tốt xấu thì phải có chất gió là chất Khí, từ hơi thở, từ thức ăn.

Cơ thể phải có chất lửa bảo vệ và duy trì thân nhiệt bằng hệ thống ống mạch, thần kinh điều khiển chức năng hoạt động trong con người, gọi là chất Điện.

Con vật và cây cỏ cũng có 4 chất đất nước gió lửa hợp thành. Riêng con người hơn con vật là có thêm một chất vô hình là Trí khôn. Gọi là chất Quang.

Trên kinh nghiệm thực hành trong khoa chữa bệnh của cả đông y lẫn tây y có điểm tương đồng và dị biệt.

Đông y vẫn nhìn thấy 3 yếu tố Tinh-Khí-Thần trong 5 chất :

Chất Thổ và Thủy thuộcTinh, chất gió thuộc Khí, chất Điện và chất Quang thuộc Thần, nên cách chữa bệnh được toàn diện.

Còn tây y chỉ nhìn thấy từng chất riêng lẻ, mà không thấy tính liên kết của cả tổng thể, nên chỉ chữa vào cục bộ :

Thí dụ gẫy tay chân, hư hỏng nội tạng như tim, gan, ruột, tai mắt mũi…tây y có thể cắt bỏ, thay thế chất thổ, ráp nối cái mới dễ dàng mà đông y không làm được.

Nhưng thay ráp sửa chữa xong, muốn chất thổ này tồn tại, phải tiếp chất thủy để nuôi dưỡng nó là nước biển và máu.

Cũng như ghép cây chiết cành bó cây xong cũng phải nhờ bó đất tưới nuớc bón phân cành mới sống.

Từ đây dưới con mắt đông y chúng ta rút ra một quy luật, mà tây y không nhìn thấy, nên gặp những bệnh nan y, tây y không chữa đúng vào gốc bệnh theo quy luật này :

Chất nào hư hỏng thì sửa chữa nó và nuôi dưỡng nó bằng chất cao hơn nó.

Do đó hệ thống chữa bệnh hoàn hảo theo pháp của Phật là :

Chất thổ bệnh chữa nó và lấy chất thủy nuôi nó.

Chất thuỷ bệnh, chữa nó và phải lấy chất khí nuôi nó.

Chất khí bệnh, chữa nó và phải lấy chất Điện nuôi nó

Chất điện bệnh, chữa nó và lấy chất Quang nuôi nó

5 chất này Y Học Bổ Sung đưa ánh sáng khoa học vào phân tích theo âm-dương khí hóa của Tinh-Khí-Thần mới thấy sự cấu tạo tế bào trong con người thật là timh tế kỳ diệu có hệ thống tổng thể đồng nhất, không rời rạc.

Mỗi chất đều có âm và dương, dương động, âm tịnh, nên sự chuyển hóa khí hóa âm dương có thuận và nghịch theo thứ tự gọi là sinh-hóa và chuyển hóa như sau :

Sinh hoá-chuyển hóa thuận :

Từ chất Thổ : Có thổ âm là những thức ăn cũng từ đất (thổ) như thịt động vật, thực vật, hoa trái…ăn vào người là thổ âm, được biến hóa thành chất bổ là thổ dương gọi là sinh hóa trong thể động do lục phủ giúp sức, trong thể tịnh do ngũ tạng chuyển hóa thổ dương sang chất thủy thành thủy âm là chất lỏng là máu và dịch chất. Thủy âm lại sinh hóa thành thủy dương nhở thể động của lục phủ, trong thể tịnh do ngũ tạng chuyển hóa thủy dương sang chất khí thành khí âm trong máu Fe2O2 theo máu đen về tim biến thành máu đỏ Fe2O3, rồi lục phủ lại sinh hóa khí âm thành khí dương (sức lực), lại nhờ ngũ tạng ở thể tịnh chuyển hóa thành điện âm (nhân điện), lại nhờ lục phủ có nguyên liệu điện âm sinh hóa thành điện dương làm mạnh hệ thần kinh tăng cường hệ miễn nhiễm, rồi tứ thể tịnh ngũ tạng chuyển hoà điện dương thành quang âm tăng cường tế bào não tủy, rồi trong thể tịnh ngũ tạng lại chuyển hóa quang âm thành quang dương giúp con người càng ngày càng thông minh để học hỏi biết tất cả những kiến thức trong thế gian gọi là thể Hạ Trí.

Khi tập thiền học đạo, thể quang dương phóng ra được khỏi đỉnh đầu tiếp xúc thu hút được thêm chất quang trong càn khôn vũ trụ hay do tha lực vô hình của chư Phật, của Chúa, phóng quang vào mới có đủ khả năng soi sáng khai mở được nhiều tiềm năng còn chứa trong những tế bào não chưa đưọc sử dụng hoạt động.

Sinh hóa-chuyển hóa nghịch :

Khì chát thổ, chất thủy bị bệnh, mà chưa được chữa bổ sung hay không biết chọn lực thức ăn đúng bằng chất thổ, chất thủy từ thức ăn hay tiếp nước biển, hay tiếp máu…, thì một số người biết phương pháp thiền định, yoya…biết nạp năng lượng từ trường quang năng là quang dương vào đỉnh đầu sinh hóa thành quang âm duy trì hoạt động của tế bào não, hệ thần kinh nhận chất cao hơn nó chuyển hóa thành điện dương, tử điện dương sinh hóa thành tĩnh điện là điện âm, lục phủ ngũ tạng thiếu khí, nhận chất cao hơn nó chuyển hóa thành khí dương để hoạt động đưa vào tạng phủ sinh hóa thành khí âm, chất thủy nhận chất cao hơn nó là khí ăm chuyển hóa thành thủy dương là máu chất lỏng, nước và dịch chất và chất điện giải duy trì lại tình trạng máu nhiễm bệnh thành máu tốt, rồi chất thổ nhận chất cao hơn nó là thủy dương sinh hóa thành chất thổ dương đem nuôi các chất đặc là những tế bào xương cốt da thịt bị hư hỏng.

Sự sinh-hóa chuyển hóa nghịch đó là lý thuyết khó thực hiện nếu không phải là những người am hiểu thực hành thường xuyên theo một lý tưởng tôn giáo, các vị này ăn ít hay không ăn mà chỉ ngồi thiền nhập định mà thân không bệnh tật.

Nếu nghiên cừu cách chữa bệnh theo chiều hướng sinh hóa-chuyển hóa thuận, chúng ta thấy ngành y học chính thống của tây y mà cả thế giới đang theo, còn nhiều thiếu sót, chưa thống nhất trong cách chữa được phân tích như dưới đây :

Khi chất thổ bệnh, thân này là thổ bị khô cằn, thiếu nước, thiếu máu, hậu qủa là tế bào thổ bị biến hóa, không cần phải xét tế bào để tìm bệnh, mà chỉ cần dùng chất thủy để bổ nó là máu và nước thì thân xác thổ hết bệnh..

Chất thổ bị nặng nhất hiện nay là ung thư, tây y sau này nếu có tiến bộ hơn, có thể cắt bỏ tất cả các khối u, các tế bào ung thư, cắt bỏ tất cả các tạng bị ung thư, dù có thay thế ráp nối bộ phận mới được thành công, mà vẫn giữ nguyên quan niệm nếu bổ chất thủy là máu thì làm cho tế bào ung thư phát triển thêm, thì ngành tây y vẫn còn thiếu sót về cách chữa bệnh thuộc thổ.

Trường đại học Johns Hopkins đứng hàng đầu thế giới nghiên cứu chữa bệnh ung thư cũng khuyến khích bệnh nhân tập khí công, nhưng chưa nghiên cứu loại khí công nào có kết qủa để hướng dẫn theo dõi bệnh nhân tập đến nơi đến chốn cho có kết qủa.

Về điểm này đông y khi chữa bất cứ bệnh gì của thổ, xưa kia vẫn cho uống thuốc thang bao gồm cả 3 yếu tô có trong thuốc là bổ thổ bằng thủy, bằng chất khí có trong thuốc là chất thổ thấm vào chất thủy. nên khi uống thuốc thang là chữa luôn cả 3 chất thổ, thủy, khí.

Đó là sở trường trong y học cổ truyền của đông y từ mấy ngàn năm đến nay,

Khi chất thủy bệnh, là thiếu nước, thiếu máu, dư máu, máu nhiễm trùng, phải thay đổi máu, thay đổi nước và dùng chất cao hơn nó là chất Khí tăng cường oxy để thanh lọc độc cho thủy, bảo vệ chất thủy không bị hư hại, thì tây y chưa tìm ra cách tạo khí, và không chịu theo hướng nghiên cứu chất khí đưa vào khoa chữa bệnh bằng cách luyện thở. Trong khi các vị tu sĩ bị bệnh, chuyên niệm Phật, tụng kinh vô tình là đang luyện khí, quên thân bệnh, tự nhiên khòi bệnh.

Riêng về chất thủy bệnh, tây y đi theo khuynh hướng nghiên cứu vi trùng học trong huyết học, còn đông y không biết vi trùng học, đi về kinh nghiệm dân gian. Khi cơ thể bị sốt theo tây y là nhiễm trùng phải dùng trụ sinh là chất thổ để chữa thủy, nếu không được thì tiếp nuóc biển pha thuốc trụ sinh kháng sinh, thì vẫn lấy cấp thấp để chữa, chứ không dùng cấp cao hơn nó là chất khí để chữa, vì không biết nghiên cứu tìm chất khí như thế nào để chữa, ngoài cách cho thở bằng oxy không đúng với bệnh.

Đông y theo kinh nghiệm thì hái là cây lá thuốc sắc uống mà khỏi, tây y hỏi vi trùng gì cũng không biết, nhưng bệnh nhân khỏi bệnh, đáng lẽ tây y biết được vi trùng của bệnh rồi thì lấy lá thuốc của đông y để chế ra thuốc kháng sinh cho người bệnh được nhờ, thì tây y không theo con đường này.

Đông y hay hơn nữa là phòng ngừa chất thủy bệnh, đông y dùng chất khí là dùng lá thuốc nấu cho xông hơi là chất khí để ngửi hay xông toàn thân phòng ô nhiễm khí môi trường của những bệnh dịch lây nhiễm cũng có kết qủa.

Khí chất khí bệnh, cơ thể rối loạn khí không điều hòa đều thân nhiệt, thiếu khí giúp máu tuần hoàn toàn thân, chỗ thì dư khí phong, chỗ thì bị khí thấp nhiệt, chỗ thì bị khí thấp hàn gây ra đau nhức, thiếu khí hut hơi làm thành bệnh suyễn…tây y chỉ dùng thuốc giảm đau, an thần, thuôc ngủ, thuốc làm tăng áp huyết là chất thuốc viên thuộc chất thổ, thuốc chích thuộc thủy, là chất thấp hơn nó để chữa nó thì không bao giờ khỏi bệnh. Những bệnh này tây y khuyên đi châm cứu bấm huyệt thì khỏi, tại sao lạ vậy ?

Vi châm cứu bấm huyệt là chỉnh khí, và cấp cao hơn nó là dùng điện bằng kim châm cứu kich thích hệ thần kinh thuộc chất điện, hay châm cứu chạy điện thì kết qủa hay hơn tây y, đông y có dùng chất lửa, chất nóng, chất điện như hơ cứu, hơ bằng máy sấy tóc, chườm nóng….là chất cao hơn chất khí.

Thay vì tây y cũng phải chấp nhận môn học này đào tạo ra bác sĩ sáp nhập vào y học chánh thống thì lại chèn ép đố kỵ, nên ngành châm cứu không được xem trọng để được làm việc chung trong 1 bệnh viện.

Tây y khi thấy bệnh nặng nguy hiểm đến tánh mạng thì dùng phẫu thuật cắt bỏ thay thế thổ là chữa vào cấp dưới là chất thổ và chất thủy. Không biết nghiên cứu chất khí để chữa bệnh nên bó tay, chỉ có 1 chiêu duy nhất mà tây y có là bệnh khí là suyễn, tây y có cho thở oxy là chất khí, mà không dùng chất cao hơn nó là điện, chỉnh thần kinh chức năng phế-vị để điều chỉnh hơi thở làm mất hết bệnh suyễn thì tây y không nghiên cứu, chỉ dùng chất thủy là cách dùng thuốc xịt vào lưỡi nên gây ra biến chứng là bệnh ung thư..

Trong môn học khí công có tập luyện thở, tập động công, tĩnh công, giúp tuần hoàn khí huyết toàn thân, giúp chức năng tạng phủ co bóp tăng sinh hóa chuyển hóa của lục phủ ngũ tạng chuyển thức ăn thành chất thủy, chất khí, chất điện…. làm thay đổi áp huyết, diều khiển được tăng giảm khí lực, tăng giảm huyết lực, tăng giàm được hàn nhiệt, là điều chỉnh được cả Tinh-Khí-Thần, có nghĩa là điều chỉnh được Tinh là chất thổ và chất thủy, điều chỉnh được chất khí tăng giảm, điều chỉnh được thần là chất điện.

Những bài tập Khí công chữa bệnh :

Bài Nằm Đá Gót Chân Vào Mông, bài Nạp Khí Trung Tiêu, bài Đứng Hát Keo Gối Lên Ngực là bài thông khí toàn thân, giúp tiêu hóa, chuyển hóa hấp thụ thức ăn thành chất bồ máu, làm tăng thân nhiệt, tăng áp huyết, hạ đường huyết.

Bài Bó chân đi cầu thang làm hạ đường làm hạ áp huyết, bài thở thận, thở Mệnh Môn ổn định áp huyết và thân nhiệt, bài thờ 2 Đan Điền tăng nhiệt, tăng hồng cầu, tăng áp huyết hay hạ nhiệt, bài thở bụng chữa suyễn, hạ áp huyết, những bài luyện thở bằng niệm danh hiệu A Di Đà Phật hay A Lê Lui A, bài Cúi lạy chữa tiểu đường và áp huyết….

Những bài này làm thay đổi chất khí dùng trong chữa bệnh, chứ không phải là yoga, dưỡng sinh, vì những người tập những môn này vẫn còn bị bệnh, còn ai tập khí công chữa bệnh kể trên thì thân bệnh được chữa khỏi.

Khi chất điện bị bệnh, do dư lửa hay thiếu lửa, thì tây y hoàn toàn thất bại, chất điện gây ra bệnh tâm thần, điên, hiếu động, stress, trầm cảm, ma nhập….chỉ cho uống thuốc an thần là chất thổ thì xem như bệnh chưa bao giờ được chữa nên bệnh càng nặng thêm.

Bênh này cần chất quang là chất thuộc về trí hiểu biết nguyên nhân tâm lý, tây y có bác sĩ tâm lý thần kinh, chú trọng vào khai tâm mở trí cho bệnh nhân thì ít mà cho thuốc chất thổ làm an thần thì nhiều nên cũng thất bại.

Nhưng những bệnh nhân này khi đến với tôn giáo, hiểu đạo pháp, được các nhà tu khuyên bảo, tâm trí được khai mở sáng suốt, tập thở thiền thư giãn, luyện khí, một thời gian tự nhiên hết bệnh, tây y cũng khônghiểu tại sao và không nghiên cứu về lãnh vực này nên cách chữa bệnh vẫn dùng thuốc là chất thổ, chất thủy.

Tây y cũng có chất quang dùng để khám bệnh và chữa bệnh chưa được hệ thống hóa cho hoàn chỉnh, theo quy luật Chất nào hư hỏng thì sửa chữa nó và nuôi dưỡng nó bằng chất cao hơn nó.

Hiện nay chữa mắt biết dùng tia laser, một vài bệnh chữa bằng tia laser, nhưng chưa được an toàn, mà phim khoa học giả tưởng Star Strek đã đưa ra lý thuyết bằng hình ảnh để khuyến khích con người tìn hiểu thêm để biến những giả tưởng thành sự thật.

Như họ dùng dụng cụ gọi là Squip là dụng cụ Laser, rà trên người tìm chỗ đau bệnh, họ không cắt mổ, không dùng thuốc thổ, thủy, họ lại dùng một máy Squip laser khác chiếu vào chỗ đau là bệnh khỏi, nên các nhà phi hành gia trên con thuyền không gian không bao giờ bị thân bệnh.

Họ cũng có những máy quang học làm tan biến tế bào con người vào không gian không còn nhìn thấy thân người để rồi tập hợp lại thành thân người ở một nơi khác, thì nó cũng là sự thực khi các vị tu chứng qủa A La Hán có thần thông cũng biến hóa thân từ nơi này đến nơi khác, nên thân không bao giờ có bệnh, vì chất quang là chất cao nhất sẽ chữa được mọi chất ở cấp thấp.

Tại sao Khí Công chữa khỏi được các bệnh ?

Khí công chữa bệnh là làm cho chất khí càng ngày càng tích lũy bằng cách luyện hơi thở, nó là chất cao hơn chất thủy, chất thổ, có nhiều phương pháp luyện thở đưa khí đi khắp nơi trong thân từ đầu đến chân, từ chân lên đầu, đi vào các khe kẽ thông ra tay chân và từ đầu tay chân thu khí vào trong cơ thể, có công dụng tạo lực đẩy máu tuần hoàn, thay đổi oxy cho máu xấu thành máu tốt, dẫn máu nuôi thổ đến nơi chỗ thổ bị bệnh để thay đổi tế bào, sinh sản tế bào lành, thay thế loại bỏ tế bào bệnh, theo nguyên tắc sinh hóa chuyển hóa nghịch từ chất cao là chất khí dương sinh hóa ra khí âm, để chất thủy nhận khí âm chuyển hóa thành thủy dương lại sinh hóa thành thủy âm, để chất thổ nhận thủy âm sinh hóa thành thổ dương phục hồi thay thế những tế bào bệnh.

Tập khí công luyện thở, mọi người nhìn thấy kết qủa rất rõ có sự thay đổi tốt về phương diện Tinh-Khí-Thần :

Giai đoạn 1 : tập khí công chữa thân bệnh dùng chất cao nuôi chất thấp theo sinh hóa-chuyển hóa nghịch :

Tập khí công luyện hơi thở thì thân bệnh thuộc chất thổ, chất thủy, chất khí không còn bị bệnh, khí công này không phải yoga, tài chi, nó là giai đoạn chuyển Tinh hóa Khí.

Giai đoạn 2 : tập luyện chất khí theo sinh hóa thuận để dưỡng thần :

Khi khí dương dưỡng khí âm đầy đủ để bảo vệ chất thủy chất thổ, thân thể sẽ khỏe mạnh không bệnh tật, tiếp tục luyện khí dư thừa khí dương được chuyển hóa thành điện âm tích lũy duy trì những chất điện giải làm tăng cường hệ thần kinh bền vững bén nhạy giúp hệ miễn nhiễm bảo vệ cơ thể. Giai đoạn này là củng cố hệ thần kinh, Thần với Khí hòa hợp tạo ra sắc mặt hồng hào, có thần.

Giai đoạn 3 : Tiếp tục tập tăng thêm nhiều tích điện âm sinh hóa thành năng lượng để cơ thể có khí lực thành nội lực, cò nhiệt năng, điện năng và từ trường dư thừa chuyển hóa thành chất quang âm, là giai đoạn hoàn tinh bổ não.

(Xem bài giảng thêm về Tâm Bệnh và Nghiệp bệnh bên dưới)

15-Ôn lại bài : Khi cơ thể thiếu đưởng cơ quan nào chết trước ?

Ở phút 1:33:50

Tỳ nuôi cái gì trong con người? Tỳ cần chất ngọt, và tỳ sinh huyết nuôi thịt, cơ bắp, cơ tim, xương, tủy, thần kinh….nên trong máu, thịt và xương có chất ngọt.

Thiếu đường thì chức năng tỳ không hoạt động, chất thổ là những tế bào nào bị bỏ đói sẽ chết trước.

Do đó thiếu đường thì mất thịt gầy ốm, mất thịt rồi thì lại mất chất ngọt trong xương làm loãng xương, lấy thịt phổi làm tế bào phổi bị ung thư, lấy thịt cơ của thận làm thận hư phải lọc thận…đó là di căn của bệnh tiểu đường làm suy tim hư thận, yếu thận, mù mắt, mất trí nhớ, mất thân nhiệt.

Như vậy đường thuộc Tinh mà thiếu thì mất chất điện, chất khí (yếu chức năng co bóp của tạng phủ), mất chất thủy là mất máu không nuôi chất thổ làm tế bào bị đói .

16-Thế nào là khí công chữa bệnh ?

Ở phút 1:41:39

Thực hành các bài tập thở bụng như nằm ngửa, người chữa ép 2 bàn tay ấn đè vào bụng bệnh nhân theo hơi thởi ra để khí trong bụng chuyển động chữa đau bụng, sôi bụng, ăn không tiêu.

Học viên thực tập khí công bài Nạp Khí Trung Tiêu tạo khí trong bụng chuyển hóa thức ăn, tăng nhiệt và tăng áp huyết thì hai bàn tay chồng lên Đan Điền Thần, ngược lại muốn hạ nhiệt, hạ áp huyết thì hai tay đặt chồng lên Đan Điền Tinh Khí Hải.

Nam đặt bàn tay trái vào Đan Diền Thần, tay phải chồng lên trên, nữ làm ngược lại.

Đan Điền Tinh : Nam đặt bàn tay phải lên huyệt Khí Hải dưới rốn 3 lóng tay, bàn tay trái đặt chồng lên tay phải. Nữ đặt ngược lại.

Thân

doducngoc

————–

Tâm Bệnh và Nghiệp bệnh :

1-Làm sao có chất quang để chữa khỏi bệnh ung thư ?

Theo đạo Phật chia làm 3 loại bệnh là : Thân Bệnh, Tâm Bệnh và Nghiệp Bệnh

Thân Bệnh :

Tây y chỉ chữa được thân bệnh nằm trong chất thổ và chất thủy, còn bệnh nặng nhất của chất thổ và chất thủy là bệnh ung thư không chữa được, chỉ tạm thời cắt bỏ chất thổ, làm chậm phát triển mà không chữa khỏi hẳn vì không chữa vào chất thủy, thay chất thủy và dùng chất khí để nuôi dưỡng chất thủy, do đó cứ tiếp máu tốt (chất thủy) mà cơ thể không có oxy (chất khí) để duy trì máu đỏ, lại biến tất cả thành máu xấu tàn phá hỏng chất thổ là tế bào mất sự sống.

Cả tây y lẫn đông y đành bó tay, vì tâm bệnh thuộc thần kinh là chất điện, còn nghiệp bệnh hoàn toàn xa lạ với ngành y, nên cần phải có chất quang.

Người giỏi nhất trong thế gian chữa được cả 3 loại bệnh này phải gọi là Y-Vương, chính là Đức Phật. Phật đã chỉ ra phương pháp tu để giác ngộ và giải thoát sanh tử, khi giác ngộ là biết nhìn thấu buông xả đó là chất quang, chữa được 4 chất thấp là chất điện không còn lo sợ buồn giận làm thay đổi chất điện bất bình thường, không làm chất khí bị xáo trộn, chất thủy không bị biến dạng thành máu xấu ứ tắc và chất thổ là tế bào không bị đói làm biến dạng thành bệnh.

Nghiệp bệnh thuộc về tâm linh siêu hình :

Mỗi tế bào có sự sống là có linh hồn, thí dụ có một loài vật không lồ to lớn gấp chúng ta 20 lần, và chúng ta là những thức ăn của chúng, chúng nắm chúng ta trong bàn tay như củ sâm, vặt đầu, xé chân tay bỏ vào miệng ăn…chúng ta căm giận tức tối vì đau đớn căm thù nó, muốn trả thù nó, trong đông y tạng gan chúng ta chứa máu, tàng hồn của chúng ta, khi chúng ta căm giận thì máu chúng ta trở thành độc tố, khi chúng ăn vào, linh hồn chúng ta vào trong thân nó sẽ bám vào tế bào trong thân xác chúng để phá phách cào cấu cắn xé nát tạng phủ nó để trả thù, giống như Tôn Ngộ Không lọt vào bụng đâm chọc thiết bảng làm cho ma vương đau quằn quại… .

Cũng như thế, nghiệp bệnh ung thư của chúng ta cũng do ăn mặn sát sanh hại vật từ nhỏ cho đến lớn biết bao sanh linh bị chúng ta trực tiếp hay gián tiếp hại chúng để nuôi thân ta. Như vậy chúng ta đã phạm giới luật của Phật là phạm tội sát sanh.

Nên muốn chữa được nghiệp bệnh về sát sanh, bệnh nhân ung thư được khuyên từ nay không được ăn mặn tránh gián tiếp gây thêm tội sát sanh mà phải ăn chay, thức ăn lành hơn không độc hại, và chuộc lại tội sát sanh thì phải phóng sanh cúu giúp những con vật bị người ta bắt giết ăn thịt, nuôi dưỡng lòng từ bi thương những chúng sanh khác.

Phải cầu nguyện cho linh hồn họ tha thứ lổi lầm vô minh vì đã gián tiếp sát hại họ, cầu nguyện cho linh hồn họ được siêu thoát bằng cách họ cùng tu với mình nguyện cầu tha lực chư Phật độ cho họ được siêu thoát, linh hồn họ rời khỏi chúng ta thì những bướu ung thư ác tính đang làm chúng ta đau đớn, bầm thối đen sẽ biến mất, đi tái khám bác sĩ sẽ nói đây là bướu lành, không còn tìm thấy dấu vết tế bào ung thư nữa.

Khi một người giác ngộ hiểu đạo thì thân-khẩu-ý luôn giữ chân-thật,thiện-lành,hữu-ích, là chất quang do sự giác ngộ, và cầu nguyện tha lực chư Phật là chất quang bên ngoài cơ thể đem năng lượng vũ trụ chiếu rọi vào cơ thể, chính là loại thức ăn năng lượng cho các tế bào khỏe mạnh, mà ít cần đến thức ăn có chất thổ chất thủy.

Biết nhìn thấu buông xả tham sân si, biết luật vô thuờng, biết luật nhân qủa về thân-khẩu-ý để khi còn sống thì thân tâm khỏe mạnh không bệnh tật, khi xa lìa thế gian thì được giải thoát. Vì thế tại sao những Phật tử bị bệnh ung thư đi theo con đường giác ngộ là chất quang này tự nhiên khỏi bệnh ung thư. Biết sống an vui trong hiện tại giữ chánh niệm trong từng hơi thở.

Nhà đạo luôn thực hành phương pháp duy trì chất quang là :

Ngoài thân sáu cửa đà kiên cố

Trong dạ bẩy tình đã trống không

Tâm-tức điều hòa tiêu vạn bệnh

Dữ lành chẳng biết, ấy huyền công .

2-Hành động cụ thể nào để biết đã giác ngộ, nhìn thấu buông xả ?

Khi biết thân xác này là vô thường, giả tạm vay mượn để sống, để tiến hóa, cuối cùng cũng phải chết, nhưng trước khi chết theo luật nhân-qủa, không nên gây thêm nghiệp sát mà phải chuộc tội bằng những hành động tạo nghiệp lành là phóng sanh, ăn chay.

Khi đã giác ngộ là một khúc quanh trong cuộc đời, họ từ chối chữa trị tiêu diệt tế bào ung thư không muốn gây thêm nghiệp sát sanh tạo thêm oán thù với các linh hồn để bị trả thù làm thân thể bị hành hạ đau đớn khổ sở hơn.

Chúng ta dành hết cuộc đời còn lại cầu nguyện ăn năn sám hối với Phật, với Chúa soi sáng tâm hồn mình, giúp cho mình và những linh hồn các tế bào trong thân người mình mà đạo Phật gọi là oan gia trái chủ tha nợ cho mình, để cùng nhau tu tỉnh thân tâm trước khi lìa đời thân tâm được an lạc, thân không còn bệnh tật ốm đau ra đi tự tại.

Những bệnh nhân theo Thiên Chúa Giáo, cũng đã từng nếm mùi đau khổ vì bệnh tật mà tây y bó tay, đã từng quay về với Chúa để cầu nguyện :

Chúa ơi ! Con xin Chúa cứu con, một là Chúa cho con chết để thân con không đau đớn nằm liệt một chỗ khổ sở thân con vô cùng, hai là Chúa cứu con cho con khỏi bệnh, gặp thầy gặp thuồc. Con xin tạ ơn Chúa.

Như vậy là chúng ta đã quay về đời sống tâm linh, nhớ ánh sáng quyền năng của Phật hay Chúa là nhờ đến tha lực vô hình, là chất quang giúp chúng ta giác ngộ, thay đổi hoàn toàn cuộc sống mới thiên về tâm linh hơn là vật chất, mà chúng ta khỏi được cả 3 loại bệnh là Thân bệnh,Tâm bệnh và Nghiệp bệnh.

Video bài giảng 10 tại Thụy Điển

Video bài giảng 10 tại Thụy Điển

https://www.youtube.com/watch?v=RYj_giyd0do

Giải thích :

Giải thích :

1-Tập luyện hơi thở bằng niệm A-Di-Đà-Phật

Ở phút đầu.

Niệm danh hiệu Phật có 4 câu với 4 giai điệu cao thấp khác nhau gọi là 1 bài

À Di Đa Phật
Á Di Đà Phật
A Di Đà Phật
A Dì Đa Phật.

Luyện thở 1 câu 1 hơi thở, cứ mỗi câu trong bài là 1 hơi thở.

Luyện thở 2 câu 1 hơi thở. Nhập câu 1 và 2 làm 1 hơi thở.

Luyện thở 4 câu 1 hơi thở niệm nhỏ và nhanh hơn, nhập 4 câu là 1 bài 1 hơi thở

Luyện thở 8 câu 1 hơi thở niệm nhỏ hơn để giữ khí và niệm nhanh hơn cho đủ 8 câu là nhập 2 bài trong 1 hơi thở mà không bị thiếu hụt hơi.

Cách lấy hơi để hát là khi vừa hết câu cuối là hết hơi thì há miệng rồi hát tiếp, không nâng ngực nâng vai, không hít vào bằng mũi, giống như lớp học nhạc làm ca sĩ, không cần để ý hít thở, cứ hát làm sao đúng nhịp mà không mệt.

Luyện thở 12 câu 1 hơi thở, thì giống như mình hát mỗi bài 4 câu, thì hát luôn 1 hơi 3 bài là 12 câu thật nhanh thật nhỏ giống như chỉ nhấp môi, không há lớn miệng làm mất hơi hụt hơi, lúc đó lưỡi rung nhanh trong cổ họng làm kich thích tuyến nước bọt sẽ ra nhiều nước miếng sẽ làm mạnh thận, và niệm Phật cả ngày như thế trong miệng tạo ra hơn 3000 ngụm nước miếng do thận thủy biến thành thận khí, tổng số nước bọt nuốt vào họng là nước cam lồ tương đương 3 lít nước vào bụng thì cả ngày không bị khát nước không cần phải uống thêm nước ở ngoài.

Khi niệm nhanh được 3 bài 1 hơi thì tất cả theo cách niệm nhanh nhỏ cứ thế tập liên tục không cần biết là bao nhiêu bài bao nhiêu câu nữa, cứ niệm liên tục cho đến khi hết hơi thì lại há miệng niệm tiếp cho liên tục không gián đoạn.

Đó là cách luyện thở khí công Tịnh Độ sẽ đạt được kết qủa : Tâm-Tức điều hòa tiêu vạn bệnh.

Có nghĩa là để tâm trí vào câu niệm Phật theo hơi thở cho đúng nhịp, cho không hụt hơi, không trật nhịp, cho ra nước miếng, niệm đều đặn không gián đoạn, khi đi đứng nằm ngồi, làm việc, mọi lúc mọi nơi, cho tăng khí lực tăng công lực, nội lực có nghĩa niệm hoài cơ thể không mệt mỏi thì âm-dương hay khí-huyết hoà hợp thì nhịp tim hòa hoãn không nhanh không chậm, giúp ổn định áp huyết lúc nào cũng lọt vào tiêu chuẩn.

Công dụng theo Tinh-Khí-Thần :

a-Công dụng về Tinh :

Khi miệng xuất ra nước bọt, làm thèm ăn, mau tiêu thức ăn, không bị ợ hơi, bao tử không bị đầy hơi, tránh được bệnh viêm họng lưỡi.

b-Công dụng về Khí:

Hết bệnh suyễn, oxy vào cơ thể nhiều hơn làm tăng hồng cầu, có nghĩa là máu đen Fe2O2 có thêm oxy thành máu đỏ Fe2O3 nhiều hơn nên da mặt hồng hào, là hơi thở dài hơn mà không mệt là chức năng thận mạnh hơn, tránh được nhiều bệnh liên quan đến khí…

c-Công dụng về Thần :

Nhờ nhất tâm theo hơi thở là là một lối thiền định, không làm tâm viên ý mã là tâm được an trú trong hiện tại, niệm không gián đoạn, không xen tạp, nếu nhất tâm huớng về Tịnh Độ thì tập Khí Công Tịnh Độ vừa nhờ vào tự lực mà thân được khỏe mạnh không bệnh tật, vừa nhở vào tha lực mà được trí sáng tâm khai.

2-Bảng tiêu chuẩn chuyển đổi đường-huyết lúc đói và lúc no theo 2 đơn vị đo lường bằng mmol/l và mg/dL.

Ở phút 25:18

a-Đường-huyết thấp bị mù mắt, sỉu, hôn trầm, đau nhức thần kinh gân cơ, đau nhức toàn thân, hoa mắt chóng mặt, loãng xương, thoái hóa đốt sống cổ lưng, đĩa đệm, mất trí nhớ….

mmol/l 3.0 =mg/dL 40

b-Thiếu đường, mệt, buồn ngủ, đau nhức thần kinh gân cơ, đau nhức toàn thân, loãng xương, thoái hóa đốt sống cổ lưng, đĩa đệm, hay bị mệt tim, vã mồ hôi, người lạnh, chân tay tê lạnh, mất trí nhớ…

mmol/l = mg/dL

4.0 = 60

5.0 = 80

c-Tiêu chuẩn khi bụng đói : Nếu khi bụng no mà đưởng-huyết nằm trong tiêu chuẩn như lúc đói này thì cơ thể thiếu năng lượng để làm việc, sẽ mau mệt mỏi, mệt tim đau nhức.

6.0 = 100

7.0 = 120

8.0 = 140

d-Tiêu chuẩn khi bụng no : Nếu khi bụng đói nằm trong tiêu chuẩn này là có bệnh tiểu đường

8.0 = 140

9.0 = 160

10.0 = 180

11.0 = 200

12.0 = 220

Sau khi ăn đường huyết cao hơn 12.0 mmol/l nhưng đến bữa ăn sau đường-huyết phải xuống trong tình trạng đói (6.0-8.0mmol/l), nếu đường-huyết không xuống ở tiêu chuẩn đói, chứng tỏ bệnh nhân ăn xong, không tiêu, cơ thể không chuyển hóa thức ăn, hay bệnh nhân lười vận động, chúng ta biết ngay.

Do đó cần phải tập bó chân tập bài đi cầu thang 30 lần làm tiêu đường-huyết giúp chuyển hóa thức ăn để thức ăn không bị biến thành mỡ.

Thân

doducngoc

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 305 other followers

%d bloggers like this: