Công dụng không ngờ của nước mía trong đông y

Trong Đông y, mía được mệnh danh là “thang thuốc phục mạch”
vì những lợi ích sức khỏe mà nó mang lại.

Mía vị ngọt tính hàn (có sách ghi lương và bình). “Mía chủ bổ khí kiêm hạ khí, bổ dưỡng, đại bổ tỳ âm, dưỡng huyết cường gân cốt, an thần trấn kinh tức phong, tả phế nhiệt, lợi yết hầu, hạ đờm hỏa, chi nôn, hòa vị, tiêu phiền nhiệt”.

Để điều hòa tỳ vị thì đem lùi nướng (để cả vỏ nướng xong mới róc vỏ). Dùng uống chữa ho, hen, nôn, mửa, tình trạng hoảng hốt, tâm thần bất định, trúng phong cấm khẩu, bí đái. Do tính hàn lương nên cấm chỉ định trường hợp tỳ vị hư hàn. Trường hợp cần thiết thì phối hợp với gừng để giảm tính lạnh của mía.

Xin giới thiệu một số công dụng chữa bệnh của mía để chúng ta tận dụng hết tiềm năng của mía với giá trị bằng cả một thang thuốc phục mạch mà không chỉ đơn giản là cốc nước mía để giải nhiệt ngày hè…

Bài thuốc thường dùng :

  • Chữa ho gà: Mía 3 lóng, rau má 1 nắm, gừng 2 lát. Cho vào 2 bát nước, sắc uống ít một.
  • Ho, hen do nhiệt, sổ mũi, miệng khô: Mía ép giã lấy nước nấu cháo ăn.
  • Thanh nhiệt, nhuận hầu họng (khô khát): Mùa đông nấu nước mía uống nóng.
  • Dưỡng âm nhuận táo, sinh tân chỉ khát, ho khan ít đờm, người bứt rứt, họng khô, táo bón.
  • Cháo mía: Nước mía 200 ml, gạo 60 g (nấu cháo xong cho nước mía vào nấu lại cho sôi, ăn nóng).
  • Dưỡng âm, nhuận phế: Dùng cho người hay ho, nóng rát cổ, giọng nói yếu. Bách hợp 50g, ngâm nước nấu nhừ sau cho nước mía 100g và nước củ cải 100g. Uống trước khi đi ngủ.
  • Chữa bệnh bụi phổi: Nước mía 50 ml, nước củ cải 50 ml, cho mật ong, đường phèn, dầu vừng 1 ít chưng thành cao. Hằng ngày cho 2 lòng đỏ trứng gà đánh đều với cao rồi hấp cơm ăn.
  • Chữa chứng phát nóng, miệng khô, cổ ráo, tiểu tiện đỏ sẻn: Nhai mía nuốt nước hoặc hòa nước cơm mà uống.
  • Tư âm, dưỡng vị, chống khát, chống nôn mửa: Nước mía 150 ml, nước gừng 5-10 giọt. Uống từng ngụm một, không uống một lúc tất cả.
  • Trẻ em đổ mồ hôi trộm: Ăn mía, uống nước mía.
  • Táo bón nhiệt kết đại tràng, thở có mùi hôi, đầy bụng, nước tiểu vàng, nóng, lưỡi vàng mỏng: Vỏ cây đại (cạo vỏ ngoài) 40 g, phèn chua sống tán mịn 8 g, nước mía 300 ml cô đặc. Vỏ cây đại sao tán mịn, trộn 3 thứ luyện thành viên 0,5 g. Mỗi lần uống 8 viên (4 g) sáng sớm và trước khi đi ngủ. Khi thấy đi ngoài được thì thôi.
  • Chữa phiên vị, ăn vào nôn ra: Nước mía 200 ml, nước cốt gừng 15 ml. Trộn đều uống từng thìa nhỏ trong vài ngày. Bài này còn dùng chữa đau dạ dày mạn tính và giải độc cá nóc.
  • Chữa bàng quang thấp nhiệt, đái rắt, buốt, đục, viêm đường tiết niệu: Mía 1 khúc (300g), mã đề 200g (cả cây), râu ngô 150g. Mía lùi sơ, rửa sạch, cắt khúc chẻ nhỏ. Cho các thứ vào sắc uống.
  • Mùa nóng trẻ đi tiểu nhiều, đái nhiều lần ít một (đái dắt) là có thấp nhiệt :Cho uống nước mía. Mùa hè nên uống nước mía giải nhiệt.
  • Bệnh đường tiết niệu, thanh nhiệt lợi thấp: Nước ép mía 500g, hòa nước ép ngó sen tươi 500g. Chia nhỏ uống trong ngày.
  • Giải say rượu: Uống nước mía hoặc nhai mía nuốt nước.
  • Nứt kẽ môi miệng: Lấy nước mía bôi ngoài uống trong. Hoặc vỏ mía đốt tồn tính trộn ít mật ong bôi vào.
  • Chữa suy nhược cơ thể, ăn ngủ kém, hay mệt: Nước mía ép 1/2 lít. Trứng gà tươi 2 quả. Nước mía nấu sôi, đập trứng vào, nhắc xuống đậy kín nắp. Ăn nóng. Nếu tay chân lạnh thêm lát gừng sống giã nát cho vào nước mía khi sôi.
  • Người gầy da khô, tóc cháy: Rau má xay 200g, nước dừa xiêm 1 quả, nước mía 1 chén. Có thể thêm mật ong, sữa ong chúa để uống mỗi lần (không pha sẵn). Uống trước khi đi ngủ.
  • Chữa người gầy: Lấy 1 lít nước mía nấu kỹ với chuối khô (mứt chuối) 200g. Hai thứ nấu sôi, để lửa nhỏ, đập vào 2 quả trứng gà tươi (mới đẻ), ăn nóng. Tuần dùng 3 lần sẽ thấy hiệu quả.
  • Sau sởi: Ép lấy nước mía vỏ đỏ uống.
  • Phòng hậu sởi: Sắn dây 40g, rau mùi 20g, mía 2 đốt. Dùng 2 bát nước sắc còn 1 bát uống dài ngày trong dịch sởi.
  • Sốt rét có báng: Phế lao. Ăn mía dài ngày hàng tuần, hàng tháng. Kết hợp các phương khác của Đông y, Tây y.
  • Ngộ độc cá nóc: Nước mía với nước gừng tươi mỗi thứ một ít (nước mía là chính). Chỉ uống để sơ cứu rồi mang đi bệnh viện ngay.

Có sách cổ cho rằng uống nước mía bằng cách nhai có hai cái lợi: Một là uống được ít một sẽ có lợi hơn và hai là “Tập thể dục cho răng khỏe”. Ngày nay lại có sáng kiến dùng mía làm cốt bọc thịt ra ngoài để nướng. Phối hợp như vậy rất tốt. Tránh trộn nước mía với bia có hại…

(Theo BS Phó Thuần Hương/Sức Khỏe Đời Sống)

ĐƯỜNG CÁT TRẮNG LÀM GIẢM TUỔI THỌ,
ĐƯỜNG CÁT VÀNG LÀM TĂNG TUỔI THỌ, CHỐNG SÂU RĂNG,
LÀM HẠ ĐƯỜNG HUYẾT DÙNG ĐỂ CHỮA BỆNH TIỂU ĐƯỜNG.

SỬ DỤNG ĐƯỜNG VÀNG – CÓ RẤT NHIỀU LỢI ÍCH CHO SỨC KHỎE

duongtrang

Đường trắng được sản xuất với công nghệ ngày càng cao hơn một bậc so với sản xuất đường vàng. Sử dụng đường trắng tức là sử dụng loại đường có phần trăm tinh thể đường (nguyên chất) càng cao và chứa ít tạp chất nhất, là biểu hiện của nền “ văn minh công nghiệp” càng cao.

Nhu cầu sử dụng đường trắng của con người ngày một tăng lên, nhất là ở các nước phát triển.

Thế nhưng vì sao người viết bài nầy lại nêu lên một vấn đề có vẻ trái ngược. Thực sự là như thế và trong sự phát triển khoa học kỹ thuật có những điều con người đã làm, đang làm và sẽ làm, nhưng không phải làm vì lợi ích thực tế mà vì những lợi nhuận của kinh tế thị trường (chẳng hạn như sản xuất ra đường trắng và khuyến khích dùng nó, hoặc sự lạm dụng của các loại kháng sinh trong việc chữa trị những bệnh nhẹ, hoặc uống ngừa linh tinh… là những ví dụ ). Chúng tôi muốn nêu lên vấn đề nầy để bạn đọc tham khảo góp thêm dòng suy nghĩ.

Đường là loại thực phẩm quá quen thuộc với mọi gia đình, công dụng của đường trong dinh dưỡng thì có lẻ không phải bàn. Tương tự như nhau, các chất bột đường (glucid), đạm (protid), béo ( lipid) trước khi được hấp thu vào máu để lưu thông khắp mọi nơi đáp ứng cho nhu cầu hấp thu dinh dưỡng của các tế bào ở các mô trong cơ thể, chúng phải qua quá trình biến đổi sinh hóa (do hệ thống enzyme của bộ máy tiêu hóa) thành những dạng chất hữu cơ đơn giản phù hợp cho sự hấp thụ của cơ thể. Đường nói chung cũng như vậy nhưng cũng có một số loại đường cơ thể có thể hấp thu ngay như đường glucose, fructose….

Đối với loại đường bán buôn ở các cửa hiệu tạp hóa ngoài thị trường, thường là đường saccharoza. Ta tạm thời phân ra hai loại đường, đường vàng và đường trắng. Trong nhóm đường trắng có hai dạng. Đường trắng thường còn một số tạp chất do công nghệ sản xuất quá trình tinh luyện chưa cao (các loại đường RS) và loại đường tinh luyện có thể nói coi như không chứa tạp chất (gọi là đường RE).

duongvanggĐường vàng là những tinh thể đường trắng, nhưng được bao phủ bằng một màng mật mỏng. Màng mật mỏng nầy gồm một số loại đường khác và các chất hữu cơ rất bổ ích…chưa được tẩy sạch thành đường trắng.

Hai loại nguyên liệu chính (cây mía và củ cải đường), ngoài saccharoza với hàm lượng 25 % trong củ cải đường và 13-18 % trong mía. Các chất arabinoza, rafinoza và những loại đường khác có hàm lượng thấp hơn, các loại axid glicolic, glutarovic, adipic, malic, oxycaprilovic, hydro cofeinoic và những acit hữu cơ khác cũng có mặt. Đặc biệt cần nhấn mạnh đến axit fitinovic (inozithesa fotforic) các muối calci magne, chúng là những fitin, một phương tiện của y học với phổ tác dụng rộng trong phòng bệnh và chữa bệnh. Đáng chú ý nhất là axit oleanolovic nó có trong thành phần của hàng loạt triterpenovic glicozid, những hoạt chất chính của nhân sâm hoặc một số cây khác thuộc họ Aralia, ngủ gia bì. Trong củ cải đường axit oleanolovic tồn tại ở dạng glicozid được gọi là “xio keruobensaponin”. Trong mía có brassi kasterin và sitosterin. Sitosterin được biết đến như một trong những thứ thuốc tốt nhất để chữa các bệnh xơ vữa. Trong củ cải đường, các sterin có dưới dạng spinassterin, trong cả 2 loại củ cải đường và mía đều có một tổ hợp lớn của các axit amin, đáng chú ý là một số purin (adenin, guanin) và đặc biệt là vitamin C và các vitamin nhóm B, mía và củ cải đường cũng chứa nhiều nguyên tố vi lượng.

Có nhiều nghiên cứu về đường vàng được tiến hành ở bộ môn sinh lý và dược lý của Viện sinh học biển thuộc Trung tâm khoa học viễn đông của Viện Hàn Lâm Khoa học Liên Xô (trước đây) cho thấy tính vô hại của đường vàng với động vật khi sử dụng với liều lượng tới 15 gam trên 1 kg thể trọng, tức gấp nhiều lần lượng đường mà con người vẫn dùng ( chuột có thể chịu được đến 50 gam đường vàng/kg thể trọng hằng ngày, nhưng với liều lượng như vậy thấy có xuất hiện sự kích thích các tuyến sinh dục). Khi cho chuột ăn những lượng lớn đường vàng 2,5-15 gam/kg thể trọng trong thời gian dài (tới 1,5 năm) Đã xác định thấy rằng đường vàng vẫn không độc hoặc không có tác hại gì đối với độ lớn và sự phát triển của động vật, đối với máu và sự tan máu, đối với khả năng sinh sản con cái và không gây sâu răng.

Đường vàng chứa hơn 90 % saccharoza, phần còn lại là những loại đường khác và các chất hữu cơ (thể hiện ở lớp màng mật mỏng bao quanh tinh thể đường trắng) khi ăn đường vàng sẽ không bị những tác hại như với đường trắng.

Một số hiệu quả tích cực của đường vàng đã được chứng minh :

1-Nó kéo dài thời gian hoạt động của chuột bạch, tính theo đơn vị tăng lực (ĐVTL) một gam các chất gắn liền với saccharoza trong đường vàng (225-250 ĐVTL) có tác dụng mạnh gấp vài lần các chiết xuất của nhân sâm (67 ĐVTL) hoặc của Eleuterococ (Ngủ gia bì) (56 ĐVTL).

2-Cải thiện chức năng tái tạo các mô của cơ thể chuột bạch, sức lớn và sự phát triển của chuột bạch.

3-Với liều lượng sử dụng 30 gam đường trắng/kg thể trọng/ngày thời gian sống trung bình của chuột bạch giảm từ 20 tháng ( đối chứng ) xuống 17,5 tháng, nhưng với liều lượng đường vàng như vậy thời gian sống trung bình tăng lên đến 27,5 tháng.

4-Có tác dụng chống sâu răng.

5-Không gây các phá hủy sự trao đổi hydrat carbon như đặc trưng của đường trắng, không thấy có sự tăng vọt hoạt tính cấp phát giảm mức độ đường trong máu ( giảm glucose trong máu- giảm đường huyết).

6-Gây ra sự biến đổi nhỏ trong sự trao đổi lipid : nó làm tăng hàm lượng cholesterin và beta lipoprotein của huyết thanh máu. Cholesterin và lipit của gan chuột ở mức độ thấp hơn rất nhiều. Quan sát trên người, đường vàng làm bình thường hóa khi các chỉ tiêu về đường, beta lipoprotein và cholesterin của huyết thanh máu bị tăng cao.

Xét những điều đã trình bày ở trên. Có thể nói một cách hoàn toàn đúng đắn rằng đường vàng là loại đường của sức khỏe”. Trong gia đình nên sử dụng đường vàng thường xuyên. Hạn chế hoặc chỉ nên sử dụng đường trắng trong những trường hợp lễ tân, tiếp khách…

Trong công nghệ sản xuất đường trắng (loại đường trắng thường RS). Để làm cho hạt đường trắng, người ta không thể không dùng chất tẩy màu bề mặt, kết hợp ở giai đoạn cuối ly tâm để tách hạt đường với lớp mật mỏng bao quanh tinh thể đường ( như phần đầu đã nói). Tuy nhiên phản ứng tẩy màu không thể xảy ra hoàn toàn, do vậy vẫn còn một số ít dung dịch chất tẩy màu còn xót lại trong đường thành phẩm, với dạng acit tự do, gây không ít độc hại. Trong khi lớp mật mỏng có nhiều bổ dưỡng thì đã được loại bỏ. Còn đối với đường tinh luyện (RE) tuy sản phẩm không còn chứa chất độc hại, nhưng những chất bổ ích (từ mật đường bao quanh các tinh thể đường trắng) thì không còn nữa. Đường tinh luyện chỉ là dạng năng lượng tiêu chuẩn, đơn thuần dễ hấp thụ mà thôi.

Do vậy nếu phải chọn loại đường nào để dùng. Thiết nghĩ chúng ta nên thường xuyên chọn dùng loại đường vàng trong các chế biến thức ăn ở nhà bếp, hoặc dùng để pha cà phê uống, hoặc những sử dụng khác mà chúng ta không cần phải sử dụng đường trắng. Đường trắng chỉ sử dụng trong các dịp lễ tân, tiếp khách chiêu đãi mà thôi.

Ths. Hứa Chu Khem