NGUYÊN NHÂN BỊ MỔ MẮT, MỔ TIM, LỌC THẬN DO BỆNH TIỂU ĐƯỜNG …: Phần 5

NGUYÊN NHÂN BỊ MỔ MẮT, MỔ TIM, LỌC THẬN
DO BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

CÁCH ĐỀ PHÒNG VÀ CÁCH CHỮA

PHẦN 1 : Những nguyên nhân làm suy thận
PHẦN 2 : Cấp độ suy thận và cách thử nghiệm theo Tây y
PHẦN 3: Nguyên nhân bệnh thận theo Đông y
PHẦN 4 : Cách chữa theo phương pháp của Tây y
PHẦN 5 : Cách chữa theo phương pháp của Đông y Khí công
PHẦN 6 : Những bệnh không được uống nhiều nước
theo ngành Y Học Bổ Sung Khí Công Y Đạo
PHẦN 7 : Tham khảo các bài thuốc chữa thận theo Đông y
PHẦN 8: Chia xẻ kinh nghiệm chữa bệnh để mọi người tin tưởng có thể tự chữa
PHẦN 9 : Những khám phá mới về nước ép Câu Kỷ Tử

0006

PHẦN 5 : CÁCH CHỮA THEO PHƯƠNG PHÁP CỦA ĐÔNG Y KHÍ CÔNG.

NGUYÊN TẮC ĐIỀU CHỈNH 3 YẾU TỐ : TINH- KHÍ- THẦN

TINH : Là diều chỉnh bằng thức ăn, thuốc uống, lượng đường.

KHÍ : Là điều chỉnh 2 cách :

a-Phải biết tự tập luyện cơ thể bằng các bài tập của môn Khí Công Y Đạo làm cho tăng khí sinh hóa, chuyển hóa, hấp thụ vừa để bơm máu tuần hoàn, vừa chuyển hóa thức ăn, vừa kích thích co bóp các cơ nội tạng như tim, phổi, gan, bao tử, thận, ruột…

b-Biết tự điều chỉnh khí bằng huyệt, hoặc nhờ người khác giúp bấm huyệt hay hơ cứu giúp nơi khí huyết bế tắc được khai thông, phục hồi khí huyết tuần hoàn trở lại tốt như bình thường, tuy nhiên nếu cơ thể không còn khí, thiếu khí thiếu huyết thì dùng huyệt vô ích không có giá trị, chỉ tốn tiền bạc thời gian vô ích làm cho bệnh càng nặng thêm.

Muốn biết những thầy dùng huyệt để chữa bệnh cho mình có kết quả hay không phải kiểm chứng bằng máy đo áp huyết và máy đo đường đo trước khi chữa và sau khi chữa phải có kết qủa thay đổi, thí dụ như mình bị đau vai và cánh tay do bất cứ nguyên nhân gì, khi đo áp huyết bên cánh tay đau bị tăng cao, sau khi châm cứu, đo lại áp huyết của tay vai đó thấy áp lực khí tâm thu giảm xuống thấp thì đúng, và tay vai hết đau, ngược lại trước khi chữa, đo tay vai bên đau áp huyết thấp, sau khi chữa càng đau thêm, đo lại áp huyết càng xuống thấp hơn, thì áp dụng châm cứu là sai.

Điều chỉnh Tinh là thuốc uống hay ai chỉ uống thuốc này, ăn thức ăn nọ tốt cho bệnh này, bệnh kia, nhất là bệnh ung thư, cũng phải đo áp huyết 2 tay và đường trước và sau khi dùng để so sánh kiểm chứng xem có tốt cho mình không.

Thí dụ ung thư mà áp huyết mình cao, sau khi dùng thức ăn thuốc uống đó giúp áp huyết trở lại bình thường thì tốt, ngược lại làm áp huyết tăng càng cao thêm thì càng chết sớm. Ngược lại, mình bệnh ung thư, có áp huyết thấp, dùng thuốc người khác mách hay lắm, khi uống vào làm áp huyết càng tụt thấp thêm thì mau chết. Do đó cùng một bệnh ung thư, có người áp huyết cao, có người áp huyết thấp, một loại thuốc tốt cho người này lại làm chết người kia. Do đó đã có một thời rộ lên Canh Dưỡng Sinh, hay thực phẩm chức năng, lá đu đủ, măng cầu xiêm, fucoidin…cũng có người khỏi bệnh và cũng có người chết vì nó, nguyên nhân bệnh theo đông y có hư chứng (thiếu khí thiếu huyết đo áp huyết thấp) có thực chứng (thừa khí thừa huyết đo áp huyết qúa cao), trong khi các loại thuốc quảng cáo có thành phần chất này chất kia tốt lợi cho bệnh này bệnh kia, nhưng cái quan trong nhất mà bệnh nhân cần khỏi bệnh là phục hồi lại tình trạng khí huyết bình thường, áp huyết tâm thu không quá cao trên 140mmHg, không quá thấp dưới 100mmHg, nên các loại thuốc đó phải được ghi rỏ là : thuốc này làm tăng áp huyết thì người có bệnh áp huyết thấp sẽ cần, thuốc này làm giảm áp huyết thì người có bệnh cao áp huyết sẽ cần, uống sai lầm thuốc thì bệnh nặng hơn gây ra biến chứng sẽ chết, chứ không phải thuốc không tốt, hay thuốc có độc, mà do cơ quan sản xuất thuốc không chú ý đến áp huyết.

THẦN : Tập thở thiền chỉnh chức năng thần kinh kiểm soát điều chỉnh chức năng hoạt động của tạng phủ.

NGHIÊN CỨU CHUYÊN KHOA VỀ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG LÀM SUY THẬN :

Khi thận hư, theo đông y phải căn cứ vào ngũ hành tạng phủ để phân biệt chính thận hư do chấn thương không do các cơ quan tạng phủ khác, gọi là chính kinh bệnh, có hai loại hư là cơ sở hư, hay chức năng hư.

Do kinh mẹ là chức năng phổi yếu làm chức năng thận yếu, do gan yếu làm thận yếu, do tim yếu làm thận yếu, do bao tử yếu làm thận yếu…tìm được nguyên nhân cần phải có kinh nghiệm chuyên môn bắt mạch xem thận hư liên quan đến tạng phủ nào, có dấu hiệu lâm sàng ra sao để phối hợp thuốc vừa chữa gốc bệnh, vừa ngừa biến chứng, vừa chữa ngọn làm giảm dấu hiệu bệnh.

Dưới đây là những bài thuốc phục hồi lại thận có liên quan với các nội tạng khác nhau sẽ có những bài thuốc khác nhau :

I-Bài căn bản chữa bệnh thận do tăng cao creatinin :

Nước tiểu có nhiều bọt, giảm lượng nước tiểu, mệt mỏi, phù nề, thay đổi trọng lượng, đau đầu, khó thở, đau lưng dưới.

Dấu hiệu chức năng thận hư là nước tiểu trắng vì thận không lọc, uống nước trắng đi tiểu ngay ra mầu trắng là thận dư thừa nước phải bớt uống nước, uống nước nhiều mà đi tiểu ra ít hơn. Như vậy thận bệnh do hai nguyên nhân chính :

a-Mao mạch cơ bắp không được co bóp do thiếu đường làm teo mao mạch và cơ bắp :

Thường gặp ở người bị thiếu đường do lạm dụng thuốc chữa tiểu đường dài hạn đã làm cơ thể thiếu đường, có đường-huyết thấp dưới 5mmol/l =90mg/dL, và ở cả những người sợ bị bệnh tiểu đường mà không dám ăn đường. Đối với tây y gọi là sự phá hủy cơ bắp do ăn uống thiếu đường làm suy tuyến giáp do các loại thuốc uống chữa tuyến giáp (bướu cổ).

Ngược lại các lực sĩ muốn có cơ bắp rắn chắc, thể lực dẻo dai, đều phải bổ sung 2 loại năng lượng cần thiết làm mạnh cơ bắp là creatin từ thịt đỏ và đường glucose. Sau khi vận động tập luyện xuất mồ hôi thì lượng đường và chất thải creatinin tụt thấp, biến mất nên không bị suy thận.

Chúng ta lưu ý không nên hiểu lầm chất ngọt và đường, hoàn toàn khác nhau. Phần nhiều các thầy thuốc đông y không nghiên cứu thêm tây y, không dùng máy đo áp huyết và máy đo đường vẫn còn thành kiến sai lầm là nhịp tim không liên quan đến đường, nên có thầy thuốc đông y đã nói :

Đường là đuờng, nhịp tim là nhịp tim. Khi nhịp tim bị rối loạn vì đuờng thì mới dùng đuờng xử lý. Đuờng hay những chất ngọt vào cơ thể nó phải đuợc phân giải, phân chất và gạn lọc tinh khiết lắm mới đuợc dùng như năng luợng. Nếu nhịp tim bị rối loạn không phải do đuờng mà dùng đuờng để xử lý thì bệnh có thể không thuyên giảm mà có thề sinh họa.

Muốn biết rõ : nhịp tim bị rối loạn không phải do đuờng mà dùng đuờng để xử lý thì bệnh có thể không thuyên giảm mà có thề sinh họa. chứng tỏ thầy đông y này không có máy đo đường, tránh né việc thử đường, vì nếu có máy đo đường, chỉ đơn giản nhất là thử ngay thấy kết quả thì sẽ không nghi ngờ để nói lên câu này sẽ gây hoang mang cho các thầy đông y khác, nếu thấy cao thì không cần uống uống đường, nếu thấp là thiếu đường thì phải uống đường và thử lại thấy nhịp tim lên thì đúng không cần phải nghi ngờ thắc mắc như trên.

Nguyên nhân làm thay đổi nhịp tim theo đông y cũng chỉ là Khí và Huyết :

Khí làm thay đổi nhịp tim :

Thí dụ nhịp tim thấp, khi tập thể dục thể thao, chạy bộ, leo cầu thang, nhịp tim sẽ tăng, nhưng bị mệt tim và không duy trì được lâu, nên cần đường làm tăng nhịp tim sẽ không bị mệt tim và nhịp tim duy trì ổn định khi có lượng đường-huyết đúng tiêu chuẩn.

Huyết làm thay đổi nhịp tim :

Thiếu máu làm nhịp tim đập nhanh mới đủ đưa máu tuần hoàn đến các nơi nuôi tế bào, nếu đủ máu, nhịp tim sẽ trở lại bình thường.

Câu : Đuờng hay những chất ngọt vào cơ thể nó phải đuợc phân giải, phân chất và gạn lọc tinh khiết lắm mới đuợc dùng như năng luợng. Nghe có vẻ khoa học, nhưng cơ thể suy nhược, không có khí chuyển hóa lấy gì ép nó phải được phân giải, đó chỉ là lý thuyết. Giống như ăn cơm, thức ăn vào bao tử sẽ phải được phân giải thành chất bổ nuôi cơ thể là lý thuyết đúng với người không bệnh, còn chức năng bao tử hư, không có khí lực co bóp tự phân giải phân chất chuyển hóa thức ăn được, ăn vào ói ra, ăn không tiêu, gây biến chứng bệnh, chúng ta cần phải tập bài Kéo Ép Gối làm mềm bụng 300 lần là tạo sự co bóp nhân tạo 300 lần để kích thích cho bao tử và gan, thận, ruột giúp chúng mới có thể phân giải phân chất chuyển hóa thức ăn để không bị biến chứng trào ngược thực quản.

Cũng có những nhà trí thức khoa bảng phản đối với tôi về việc uống đường là phản khoa học trong khi cả thế giới sợ đường, ai cũng chỉ biết nói theo kinh điển : nếu cơ thể thiếu đường, thì cơ thể tự phân giải đường glycogen trong gan thành glucose, cũng là lý thuyết suông, nếu có glycogen trong gan mà chức năng gan yếu, đông y gọi là can khí suy, kiểm chứng bằng máy đo áp huyết qúa thấp không có khí lực làm sao phân giải. Điều khác nữa, mình kiêng đường đã nhiều năm cơ thể thiếu đường làm gì còn đường dự trữ trong gan, bằng chứng cụ thể thử đường-huyết thấp dưới tiêu chuẩn, do biến chứng thiếu đường lâu dài nên chúng ta bị suy thận phải lọc thận và cuối cùng đến giai đoạn lọc thận cũng phải điều chỉnh bằng đường glucose bù lại cho những năm thiếu hụt đường ?

Do đó, khi chính các bác sĩ bị bệnh hôn mê, do thiếu đường gây ra tắc tuần hoàn não, tây y cho là tai biến mạch máu não, không chữa được, chỉ có giải pháp rút ống cho chết, nhiều bệnh nhân trong hoàn cảnh thập tử nhất sinh, gia đình mời tôi vào bệnh viện chữa, lúc còn hôn mê chưa tỉnh táo, đường-huyết của bệnh nhân thấp dưới 4.0mmol/l, tôi cho uống đường tập khí công giúp cơ thể chuyển hóa khí huyết nhân tạo, được hồi phục sức khỏe dần dần là nhờ đường, ăn uống đi đứng được bình thường, khi đầu óc của các vị bác sĩ này tỉnh táo, lại phản đối đường theo thói quen nghề nghiệp, cũng nói là trong cơ thể có đường glycogen dự trữ trong gan, không cần uống đường, cho rằng đường-huyết 4-5mmol/l là tốt, nên cơ thể mất năng lượng, sức khỏe yếu dần không còn đi đứng nhanh nhẹn và không còn sức tập khí công như trước. Một người bạn bác sĩ của tôi cảnh báo rằng : Anh dại và liều lĩnh quá, anh chữa cho họ khỏi, họ không mang ơn anh, họ cho là nhờ tây y chứ không phải nhờ anh chữa mà khỏi, nhưng nếu họ chết họ sẽ chửi anh. Tôi khuyên anh từ nay về sau không nên chữa những ca nguy hiểm như vậy nữa. Như vậy, chuyện dài về bệnh đường-huyết thấp sẽ còn làm cho nhiều bệnh nhân điêu đứng vì lạm dụng thuốc chữa tiểu đường hay kiêng đường làm nhiều người chết âm thầm trong giấc ngủ hôn mê, nếu không được may mắn như các vị bác sĩ kể trên.

Chúng ta nhớ rằng chất ngọt không phải là năng lượng, như bánh, kẹo, chất ngọt từ bột là lactose, từ trái cây là fructose, mật ong nửa fructose, nửa glucose, đường củ cải đỏ là sucrose…khi vào cơ thể mau biến mất, không giúp tăng khí lực duy trì nuôi cơ co bóp làm nhiệm vụ tự phân giải chuyển hóa lâu bền được.

Khi thử đường glucose bằng xét nghiệm máu để xác định bệnh nhân có bị bệnh tiều đường hay không, thì tây y cũng phải cho uống rất nhiều đường, đến 75g đường cát sau 30 phút thử đường-huyết nếu cao hơn tiêu chuẩn thì mới xác định bệnh nhân có bị bệnh tiểu đường, còn theo kinh nghiệm các thầy Khí Công Y Đạo cho bệnh nhân có đường huyết thấp uống thêm đường cát vàng, cứ mỗi thìa cà phê đường cát vàng (glucose) làm đường huyết tăng 10mg/dL làm cơ thể tăng năng lượng cảm nhận có sức hơn và tăng nhiệt lượng cảm thấy bàn tay ấm hơn và làm thay đổi nhịp tim.

Còn chúng ta ăn uống chất ngọt như bánh kẹo, biscuit, mật ong, chất ngọt trái cây. thử đường bằng máy glucometer đường-huyết không tăng, không cho năng lượng và nhiệt lượng nên không thay đổi nhịp tim.

Trong đông y bắt mạch để biết nhịp đập của tim, tương đương với nhịp tim của máy đo áp huyết, tây y không biết quy luật hàn-nhiệt của đông y, nhưng biết bệnh nhân đang sốt có nhịp tim cao 120, còn đông y bắt mạch nghe nhịp tim để biết cơ thể hàn hay nhiệt, do đó tiêu chuẩn nhịp tim nằm trong khoảng 70-80 là tốt, không hàn không nhiệt, nếu nhịp tim càng thấp nhiều hơn là càng hàn cơ thể lạnh, đầu ngón tay chân và ngoài da lạnh, nếu nhịp tim càng cao hơn là càng nhiệt cơ thể càng nóng nhiều hơn.

Có hai vợ chồng già, giáo sư tiến sĩ người ngoại quốc đến tôi khám bệnh, cả hai đều có áp huyết thấp, nhịp tim thấp, chân tay lạnh, dễ nhiễm cảm, riêng người chồng bị sưng phù từ mắt cá cổ chân xuống bàn chân, tôi đo áp huyết và cho biết cả hai ông bà đều thiếu khí (tâm thu) thấp, thiếu máu (tâm trương) thấp, và thiếu đường nhịp tim thấp 55, tôi muốn đo đường để chứng minh cho ông bà biết thực tế đường-huyết là bao nhiêu, cả hai không cho đo đường, thiếu máu thì hai ông bà mỗi lần đến chữa tôi nhắc nhở muốn làm tăng máu cho tâm trương cao thì sau khi chữa, đi ăn phở, thì ông bà chịu nghe lời.

Tôi cho ông biết cơ thể thiếu máu thiếu đường sẽ bị hư thận không phải do bệnh tiểu đường cao, mà do kiêng đường, đường-huyết thấp, và những người uống thuốc trị tiểu đường làm hạ đường quá thấp dưới 5,0mmol/l sẽ làm yếu phổi, suy tim, suy thận, nhưng ông là nhà trí thức chỉ tin theo truyền thông tây y kiêng sợ đường mà không tin cơ thể thiếu đường gây ra bệnh yếu phổi, tiêu hóa kém, suy tim, suy thận như lời tôi nói.

Cho đến một ngày ông yếu sức phải đi bệnh viện cấp cứu, bác sĩ không tìm ra bệnh, mà thực ra nguyên bệnh nằm ngay trước mắt là đường-huyết hạ thấp, nhưng các bác sĩ tây y cho là tốt, bà đến nói với tôi về tình trạng sức khỏe của ông cơ thể yếu và đau nhức tay chân, đi không vững, bà nói ông đang ngủ, mệt tim, sưng đau chân, để chiều tôi dẫn ông lại.

Khi ông đến, tôi đo áp huyết qúa thấp, qúa nguy hiểm chưa từng thấy, áp huyết tay phải 88/45mmHg nhịp tim 54. Tôi nói trường hợp này tôi không dám chữa nếu ông không uống đường, ông nói tại sao lại thiếu đường, tôi ăn bánh biscuit, ăn trái cây ngọt, bánh ngọt, uống sữa nhiều lắm làm sao thiếu đường được. Tôi nói những thứ ông nói là chất ngọt không phải là đường glucose, ông không muốn thử đường cũng được, nhưng ông phải uống đường cho áp huyết tăng cao ông mới có sức khỏe để đi về nhà được, đường làm tăng sức đề kháng cơ thể để cứu nguy cho ông ngay bây giờ. Nếu ông đến bác sĩ khác, thì họ sẽ gọi xe cứu thương đưa ông vào bệnh viện cấp cứu ngay trong tình trạng qúa suy nhược này của ông.

Ông bằng lòng, vì ông biết rằng tuần qua đã đi cấp cứu bệnh viện, bác sĩ tìm không ra bệnh. Tôi pha 3 thìa đường cát vàng với 1 ly nước ấm nóng, sau khi ông uống xong, nằm nghỉ 10 phút, tôi đo lại áp huyết kết qủa ông thấy trước mắt áp huyết tăng lên 117/75mmHg 80, do đường đã giúp chuyển hóa thức ăn bổ thành máu, tâm trương tăng thì tâm thu cũng tăng, và tăng nhiệt làm nhịp tim tăng từ 54 lên 80, lúc đó ông vui mừng, cảm thấy người khỏe, không bị mệt tim khó thở, ông mới chịu tin sự lợi hại của đường glucose.

Trường hợp này không biết các thầy đông y đã thực chứng chưa mà không tin đường glucose cho năng lượng và nhiệt lượng làm thay đổi mạch hàn-nhiệt của cơ thể, thì không thể nói qủa quyết đường là đường, nhịp tim là nhịp tim được. Nói không có thực chứng chỉ là đoán mò.

b-Chức năng thận dương không lọc do thận suy.

Bệnh thận do 2 yếu tố : Không đủ hỏa khí cho chức năng thận co bóp để lọc thận, và thận âm suy không có đủ nước, đủ máu.

Về khí hóa ngũ hành tạng phủ đông y, chức năng lọc của thận phải nhờ hỏa khí của tim đưa hỏa xuống thận, giống như nước trong sông biển cần ánh nắng mặt trời chiếu xuống làm nước bốc hơi thành mây khiến thủy triều xuống, rồi mây thành mưa trả nước về cho biển làm thủy triều lên. Nếu không có nắng nóng của mặt trời thì nước không có sự thay đổi chuyển hóa. Do đó nguyên tắc khí hóa ngũ hành tạng phủ của đông y trùng với lý thuyết tây y, chức năng lọc máu của thận (GFR=Glomerular filtration rate) giảm do bệnh của tim suy do xơ vữa động mạch, cứng động mạch, do giải phẫu tim như chỉnh sửa phình mạch hay chèn stent, hoặc do thận thiếu nước không đủ lọc creatinin .

Qua hai nguyên nhân chính này đều có liên quan đến đường huyết, có đủ đường huyết mới giúp các cơ co bóp của tim, thận, cơ bắp, mao mạch, động mạch và tĩnh mạch hoạt động tốt. Nếu thiếu đường huyết do tiêu chuẩn ngành y tự động hạ thấp tiêu chuẩn trên 6.5mmol/l là có bệnh tiểu đường cần phải dùng thuốc hạ đường khiến cho cơ thể thiếu đường gây ra biến chứng của nhiều bệnh nan y như bệnh tiêu hóa kém, bệnh tim mạch, bệnh thận, bệnh mắt, loãng xương, mất trí nhớ, mất ngủ, gây ra các bướu mỡ, bướu cổ, bướu trong ổ bụng, liệt cơ co bóp ruột, trào ngược thực quản….khác với ngành dược năm nay ở Montreal đã được nâng tiêu chuẩn lên so với các năm trước ghi trên hộp que thử đường từ 6.8-8.5mmol/l là bình thường.

CÁCH ĐIỀU CHỈNH TINH :
Điều chỉnh thức ăn, thuốc uống phòng bệnh và chữa bệnh :

Theo đông y cách chữa là phòng ngừa bệnh bằng cách đối chứng trị liệu chữa vào nguyên nhân gốc bệnh như :

A-Cách chữa bằng nước uống như trà :

1-Uống trà xanh :

Trà có chất chát, tính thu liễm, uống 1 ly trà thì đi tiểu ra nhiều nước để chống phù nề do thận ứ nước không có khả năng lọc máu. Có thể dùng trà Hoa Cúc sau mỗi bữa ăn. Pha 2 thìa trà với 1 ly nước nóng. Làm hạ áp huyết, người có áp huyết thấp không dùng được.

2-Trà lá cây Tầm Ma khô (Urtica dioica)

Tên thương mại là Nettle tea. Giúp loại bỏ các chất thải và giúp thận lọc máu lợi tiểu. Pha 2 thìa trà với ly nước nóng sau mỗi bữa ăn. Làm tăng áp huyết, người cao áp huyết không dùng được.

3-Trà rễ Bồ Công Anh (Dandelion)

Làm lợi tiều loại bỏ độc tố, cải thiện chức năng thận làm giảm phù nề do thận sưng ứ nước. Dùng trà rễ Bồ Công Anh sau mỗi bữa ăn.

4-Quế

Chữa thận tăng khả năng lọc thận và làm hạ creatinin, điều chỉnh lượng đường trong máu.

1 ly nước nóng với ½ thìa quế giã thành bột, pha uống làm 2 lần/ ngày.

5.Trà Sâm Sibérian

Thúc đẩy chức năng thận làm giảm creatinin, chống mệt, chống tinh thần căng thẳng (stress). Thị trường có bán thành từng gói, sau mỗi bữa ăn pha 150g với 1 ly nước nóng.

Trà sâm Siberian làm lợi tiểu, khác với trà sâm Á Châu chống lợi tiểu. Làm hạ áp huyết, người áp huyết thấp không dùng được.

6-Hoàng Kỳ (Astragalus)

Dùng 6-12g dạng sống hay 3-9g dạng chín, sắc nước uống mỗi ngày.

Chữa thận hư, viêm thận tiểu cầu mãn tính, đái tháo đường, đái đục, phong thấp, đau xương. bệnh thận mãn tính, lợi tiểu nhẹ, tăng chức năng thận khí, loại bỏ chất thải trong máu, tăng cường trao đổi chất lợi cho tiêu hóa.

7-Mướp đắng (Khổ qua)

Bỏ hột phơi khô tán bột, làm thuốc chữa bệnh tiểu đường làm hạ đường và áp huyết.

Sau bữa cơm uống 1 thìa cà phê với nước ấm.

8-Nước Cây tầm phỏng tươi.

Dùng 60g.cây tươi. Sắc uống mỗi ngày.

Phân tích công dụng Cây tầm phỏng theo đông tây y

Tên khoa học Cardiospermum halicacabum L., tên khác là xoan leo, phong thuyền cát, có vị đắng hơi cay, tính mát, có tác dụng giảm đau, tiêu sưng, thủng, lương huyết, giải độc, mau làm lành vết thương. Rễ làm ra mồ hôi, lợi tiểu, khai vị, nhuận trường, chữa viêm đường niệu, phù thận, thấp khớp, tiểu đường.

9-Trà Hà thủ ô :

Trà gói Hà thủ ô có bán sẵn pha nước uống.

Làm hạ lipid huyết và cholesterol, dự phòng xơ mỡ động mạch, bổ gan thận, bổ máu, chữa thận suy, gan yếu, mất ngủ, thiếu máu, đau lưng, khí hư, làm đen râu tóc.

Chống chỉ định :

Người có áp huyết thấp và đường thấp không dùng được hà thủ ô, kiêng hành tỏi, củ cải.

10-Nước trà đậu đen, rễ qua lâu :

Đậu đen, Rễ qua lâu mỗi thứ 1 lạng, nấu uống như nước trà mỗi ngày làm tăng chức năng thận giúp thận dương chuyển hóa.

Phân tích công dụng của Đậu đen theo tây y :

Đậu đen có tên khoa học Vigna cylindrica (L.)Skeels, chứa 24,40% protein, 1,70% lipid, 53,30% glucid, 4% cellulose. Trong 100g đậu có 5mcg Vit.A, 0,5mg Vit.B1, 0,21 mg Vit.B2, 1,8mg Vit.PP, 8mg Vit.C, 970mg lysin, 310mg tryptophan, 1160mg phenylalanin, 56mg Ca, 354mg P, 6 mg Fe.. Nó có tác dụng chống oxy hóa ở mức độ vừa phải, lợi tiểu.

Phân tích theo đông y :

Đậu đen có vị ngọt nhạt, tính bình mát, bổ gan thận, bổ huyết trừ phong, thanh thấp nhiệt, hạ khí, lợi tiểu, giải độc, tiêu khát.

Phân tích công dụng của rễ Qua lâu theo tây y :

Thiên hoa phấn hay Qua lâu còn gọi là dưa trời, dưa núi, tên khoa học Trichosanthes kirilowi Maxim. Rễ tán bột dùng ngoài trị eczema, nước hãm rễ qua lâu rửa vết thương. Trong rễ qua lâu có chứa các protein như Karasurin A,B,C, có tính kềm mạnh dễ làm sẩy thai, trichosanthin và TAP-29 có hoạt tính chống u bướu, virus kể cả HIV (Nghiên cứu của Thorup John E CA,1996), các polysaccharid gồm glycose, galactose, fructose, manose, xylose làm hạ đường huyết và chống tăng đường trong máu.

Phân tích theo đông y :

Qua lâu có vị ngọt đắng tính mát, vào hai kinh phế vị, tác dụng thanh phế nhiệt, hóa đàm, nhuận phế, hoạt trường. Rễ qua lâu có vị ngọt chua, tính mát, giáng hỏa sinh tân dịch, lợi sữa, chữa nhiệt bệnh, tiêu khát, vàng da, đau vú, trĩ dò, lở ngứa, sưng tấy.

11- Uống nước sắc bông ổi (cứt lợn) uống thay trà.

Dùng toàn cây bông ổi bỏ rễ lấy 40g, có thể nấu chung với hoài sơn, rễ qua lâu , mỗi thứ 10g, sắc uống thay trà.

Phân tích công dụng của Bông ổi theo đông tây y :

Tên khoa học Lantana camara L. chứa các hợp chất triterpen, acid, tinh dầu.. Lá hơi có độc, có mùi hôi, tính mát, tác dụng kháng khuẩn, chống sốt rét, hạ sốt, tiêu sưng, nhưng có chứa triterpenoid pentacyclic gây ứ mật hại cho gan, sẽ có triệu chứng chán ăn, táo bón, vàng da, nhậy cảm với ánh sáng. Hoa có vị ngọt nhạt, tính mát có tác dụng cầm máu, tiểu đường. Rễ có vị ngọt dịu, đắng, tính mát có tác dụng hạ sốt, giải độc, tiêu độc, giảm đau.

12-Nhân sâm, Rễ qua lâu, tán bột :

Bài thuốc chữa tiểu đường, thiếu khí, mất ngủ : Mỗi thứ 3 chỉ, nghiền thành bột. Uống mỗi ngày như trà.

Phân tích công dụng của Nhân sâm theo tây y :

Tên khoa học Panax ginseng C.A.Mey. tăng cường qúa trình hưng phấn của vỏ đại não, kháng mệt mỏi, cải thiện giấc ngủ rõ rệt, tăng sức đề kháng chống độc của cơ thể như bị nhiễm chiếu xạ, nhiễm virus, cấy ghép ung thư, nhiễm độc rượu, carbon, thiếu oxy, sốc điện hoặc cử động bị gò bó, thúc đẩy tuyến thượng thận tiết hormon corticosteron thúc đẩy qúa trình phân hủy đường, tăng cường chuyển hóa năng lượng có tác dụng làm tăng hàm lượng erythropoietin trong tủy sống, thúc đẩy qúa trình tổng hợp acid mucleic, protein trong tế bào gan, tinh hoàn, tủy xương và tổng hợp albumin trong huyết thanh.

Phân tích theo đông y :

Nhân sâm vị ngọt, hơi đắng, tính ôn vào các kinh tỳ, phế, tâm, có tác dụng đại bổ nguyên khí ngũ tạng, phục mạch cố thoát, sinh tân, an thần, trừ tà khí, minh mục, khai tâm ích trí, tăng thể lực trí lực, trị thở khó, ho hen, tim đập hồi hộp, tổn thương tân dịch, miệng khát, đái đường, suy nhược cơ thể, mất máu, tỳ hư tiết tả.

13-Phá cố chỉ, Tiểu hồi tán bột :

Chữa biến chứng tỳ thận suy, tiểu nhiều của bệnh tiểu đường :

Phá cố chỉ ngâm rượu sao, Tiểu hồi sao mỗi vị 100g, tán bột làm viên, mỗi ngày uống 5g, ngày hai lần.

Phân tích công dụng của Phá cố chỉ theo tây y :

Tên khoa học Psoralea corylifolia L.,trong hạt chứa hợp chất flavonoid chống kết tập tiểu cầu, hoạt chất bakuchiol chống u bướu, có hỗn hợp psoralen và isopsoralen chữa bệnh bạch biến không do giang mai, các nguyên bào sắc tố đen được kích thích làm cho da trở nên hồng hào.

Phân tích theo đông y :

Phá cố chỉ vị cay, đắng, mùi thơm hắc, tính nóng vào 3 kinh tỳ, thận, tâm bào có tác dụng bổ mệnh môn hỏa, nạp thận khí, chữa đau lưng, tỳ thận hư, mỏi gối, tiểu tiện nhiều, khí hư, hoạt tinh, liệt dương, thuốc bổ cho người già, chữa được bệnh lang ben có nguồn gốc giang mai giúp da trở nên hồng hào. Hạt phá cố chỉ dùng làm thuốc nhuận trường, kích dục, trừ giun, lợi tiểu, cho xuất mồ hôi khi bị sốt, chữa thiếu máu do thiểu năng tạo máu của tủy xương. Bột nhão làm thuốc bôi da chữa viêm da, bạch biến, vẩy nến.

Chống chỉ định :

Người âm hư hỏa vượng, tiểu ra máu, đại tiện táo bón không nên dùng.

Phân tích công dụng của Tiểu hồi theo tây y :

Tên khoa học Foeniculum vulgare Mill. chứa các glucosid, acid petroselinic làm giảm cholesterol trong máu, chống co thắt, giảm áp huyết nhẹ, có độ hòa tan cao trong lipid ức chế dòng Ca2+ đi vào và dự phòng sự tăng độ thấm của Na+ và phong bế dẫn truyền thần kinh, trợ tim.

Phân tích theo đông y :

Tiểu hồi có vị cay, mùi thơm, tính ấm, vào 4 kinh phế, thận, tỳ, vị, tác dụng lý khí, khử hàn, đau đầy bụng, ăn không tiêu, nôn mửa, tiêu chảy, đau lưng do thận suy, ngộ độc thức ăn.

Chống chỉ định :

Âm hư hỏa vượng không dùng được.

14-Rễ tầm xuân

Chữa đái tháo đường, khát uống nhiều, đái dắt nhiều lần, đái dầm :

Dùng 20-30g rễ khô sắc uống thay trà trong ngày.

Phân tích công dụng của Rễ tầm xuân theo tây y :

Tên khoa học Rosa multiflora Thumb. còn có tên là hoa hồng dại, dã tường vi.. Qủa chứa multiflorin A,B và dầu béo, có vị chua, tính bình, thanh nhiệt, hoạt huyết, lợi thủy, giải độc, dùng làm thuốc nhuận trường, lợi tiểu mạnh, chữa phong thấp nhức mỏi, hành kinh đau bụng, kinh nguyệt không đều, lá giã để đắp vết thương lở loét, bong gân. Hoa chứa astragalin, lá chứa Vit.C, Chất multiflorin gây tiêu chảy, làm hạ lipid huyết, cholesterol, ức chế hiện tượng ngưng tập tiểu cầu do ADP, chống viêm, giảm đau.

Phân tích theo đông y :

Lá có vị đắng chát, tính hàn, thanh nhiệt, hóa trọc, thuận khí, hòa vị, chữa ho, nóng ngực, tâm phiền, miệng khát.

Rễ có vị đắng chát, tính mát dùng để thanh nhiệt, giải độc, lợi thấp, khu phong, hoạt lạc, chữa bệnh chảy máu mũi, bệnh tiêu khát đái tháo đường, tiểu nhiều của người già.

15-Cỏ bờm ngựa, Bạch qủa :

Chữa tiểu đường, viêm thận, thiếu máu não.

Cỏ bờm ngựa ( Kim ty thảo ) 60g, Bạch qủa 12 hạt. Sắc uống.

Phân tích công dụng của Cỏ bờm ngựa theo đông tây y :

Cỏ bờm ngựa có còn gọi là kim ty thảo vị ngọt, nhạt, tính hơi mát, lợi thủy, thông lâm, thanh nhiệt, lương huyết, chữa nhiễm khuẩn tiết niệu, viêm thận, thủy thủng, đái buốt, đái vàng, đái ra dưỡng trấp, tiểu đường, viêm gan, hoàng đản, sốt, cảm mạo.

Phân tích Bạch qủa theo tây y :

Tên khoa học ginkgo biloba L. tên khác là Ngân hạnh, chứa các flavonoid quercetin, kaempferol và isorhamnetin có tác dụng giãn mạch chống co thắt do histamin và bari clorid gây ra, bảo vệ gan làm giảm peroxy hóa gốc tự do-lipid gây ra bởi ciclosporin A, tác dụng chống oxy hóa của huyết tương kéo dài thời gian, chống tổn thương mô não, khỏi thiếu máu cục bộ ở não và tim, điều hòa lưu lượng máu não và tim, chữa phù não do các chất độc hại thần kinh, tăng trí nhớ, cải thiện chức năng tiền đình và thính giác, giảm đau, ức chế các vi khuẩn.

Cao bạch qủa tiêu chuẩn hóa với liều 120mg có tác dụng giống như dihydroergotoxin với liều 4,5mg có tác dụng điều trị bệnh tắc mạch ngoại biên làm đau, đi đứng khó khăn, chóng mặt ù tai, điếc, sa sút trí tuệ.

Phân tích theo đông y :

Trong y học dân gian, Bạch qủa dùng trị giun, thúc đẻ, viêm phế quản, viêm mũi mạn tính, cước khí, viêm khớp và phù chân tay, xanh tím đầu chi do viêm tĩnh mạch.

16-Dùng quả chuối hột còn xanh :

Chữa tiểu đường, mờ mắt, táo bón, cao áp huyết, sạn thận :

Dùng qủa chuối hột còn xanh 30g sắc uống hằng ngày.

Phân tích công dụng của Chuối hột theo đông tây y :

Tên khoa học Musa brachycarpa Back. Tên khác là chuối chát, để chữa sạn thận, bàng quang, dùng 30-50g quả chuốt chát thái mỏng sao vàng hạ thổ rồi sắc 4 chén còn 1 chén uống mỗi ngày, hoặc hãm nước sôi uống như trà mỗi ngày thờì gian 1 tháng có kết quả vừa có tác dụng giải độc, kích thích tiêu hóa. Nước tiết ra từ thân cây chuối hột chữa tiểu đường, quả chuối hột chữa tiểu đường, viêm thận, cao áp huyết.

17-Trà cỏ ngọt :

Mỗi ngày uống 10g lá cỏ ngọt chia làm 4 lần trong ngày. Ở ngoài thị trường có bán sẵn gói trà cỏ ngọt.

Phân tích công dụng của Cỏ ngọt theo tây y :

Tên khoa học Stevia rebaudiana (Bertoni )Hemsley. Lá cỏ ngọt chứa các ent-kauren diterpen glycosid như steviosid, rebaudiosid A,B,C,D,E, dulcosid, steviobiosid, có các vị ngọt khác nhau, nhưng có độ ngọt 150-300 lần đường mía. Có tác dụng hạ đường huyết, glycogen gan giảm. Thí nghiệm trên những người bị bệnh tiểu đường thấy glucose huyết giảm 35%, có tác dụng thư giãn mạch, và mạch tiểu cầu thận, tăng bài niệu và tăng thải trừ natri. Nếu người cao áp huyết, uống trà cỏ ngọt liên tiếp 30 ngày thấy áp huyết cả tâm trương lẫn tâm thu giảm khoảng 9.5%.

Phân tích theo đông y :

Cỏ ngọt có vị ngọt rất đậm, chữa được bệnh tiểu đường, có khả năng làm giảm nhu cầu chất ngọt và chất bột nên có tác dụng chữa bệnh béo phì. đường ngọt trong cỏ ngọt hiện nay thay thế đường saccharose trong kỹ nghệ làm bánh kẹo.

Chống chỉ định :

Không dùng cho trường hợp người gầy ốm suy nhược vì nó phân hủy chất bột làm cho người gầy ốm suy nhược thêm.

***

Cách dùng thuốc :

1-Áp huyết thấp người phù nề suy tim tâm hỏa yếu thừa nuớc trong thận, người lạnh, tiểu đêm:

Dùng Phụ tử lý trung hoàn viên tễ, mỗi ngày uống 2 lần trước bữa ăn, mỗi lần ½ viên, nếu viên nhỏ mỗi lần uống 20 viên

2-Bí tiểu, sạn thận, viêm tuyến tiền liệt.

Ra tiệm thuốc bắc mua thuốc viên Kim Tiền Thảo là dược thảo thiên nhiên dân gian gọi là lá cỏ đồng tiền, mỗi tối 5 viên trước khi đi ngủ để thuốc có thời gian làm mềm sạn trong đêm, sáng thức dậy uống thêm 5 viên làm vỡ vỏ sạn trước khi đi tiểu. Khi đi tiểu để ý nước tiểu ra nhiều hơn và đục như nước vo gạo là sạn đã tan thành bột theo nước tiểu ra ngoài. Dùng 5 tối. Dù không có sạn, nhưng nó cũng làm thông tiểu đẩy những tinh bột, những phân tử protein bị kẹt trong màng lọc thận không ra được làm ứ nước trong thận khiến sưng thận, viêm sưng tuyến tiền liệt.

3-Chữa thiếu máu :

Tiêm thuốc bổ máu B12, hay uống sirop B12 hay thuốc viên B12, chất sắt, hay tiêm Epoetin alfa là thuốc nhân tạo để điều trị bệnh thiếu máu. Erythropoietin là một loại protein giúp thận kích thích tủy xương để sản xuất các tế bào hồng cầu mang oxy và làm tăng số lượng tế bào máu đỏ, giúp ăn ngủ ngon.

Dấu hiệu thiếu máu thường mệt mỏi, uể oải, khó thở, xây xẩm, mất tập trung, khó ngủ, giảm khả năng tình dục.

4-Nếu đi cầu, đi tiểu ra máu.

Ra tiệm thuốc bắc mua 1 pound (450g) Râu Bắp Khô. Chia làm hai, mổi ngày lấy 1/2 nấu với 2 lít nước cạn còn 1 lít, uống hết dần trong ngày, uống 2 ngày. Trong râu bắp khô chứa nhiều vitamin K cầm máu xuất huyết nội tạng, làm lành vết thương trầy xước, vết khâu mổ trong cơ thể.

5-Nếu suy thận áp huyết thấp, yếu chân, đau lưng, tiểu đêm.

Ra tiệm thuốc bắc mua 3 loại thuốc, mỗi loại 1 gói nặng 1 pound 450g : Ba Kích, Đỗ Trọng, Ngưu Tất, mỗi gói đem về chia làm 8 phần.

Mỗi ngày dùng 1/8 mỗi thứ, nấu chung trong ấm sắc thuốc bằng điện, đổ 4 chén nước, nấu cạn còn 1 chén, chia 2 uống sáng và tối.

Mỗi ngày uống 1 thang, tiết kiệm thì 1 thang nấu lần thứ hai cũng như trên, uống sáng và tối cho ngày thứ hai.

Công dụng : Đỗ Trọng bổ thận, Ba Kích bổ xương lưng, cột sống, đĩa đệm, Ngưu Tất là đầu gối con trâu, thuốc làm mạnh đầu gối, mạnh chân.

Chống chỉ định : Áp huyết cao không dùng được, thuốc làm áp huyết tăng cao, dùng cho người áp huyết thấp.

Nếu chỉ dùng riêng vị thuốc Ngưu Tất thì áp huyết không tăng mà còn làm hạ áp huyết xuống từ từ, vì khí của thuốc làm giáng khí.

6-Nếu gan nhiệt dùng Lá Nha Đam Aloe vera :

Phân tích theo tây y :

Lá Nha đam tên khoa học Aloe vera L. var. chinensis (Haw.) Berger, tên theo đông dược là Lô hội ( Asphodelaceae ), còn gọi là lá lưỡi hổ. Chứa 13,6% các chất thuộc nhóm hydroxymethylanthraquinon như aloin A,B, isobarbaloin C21H22O9 , hợp chất emodin, aloemodin C15H10O6, acid chrysophanic, aloeresistabol, nhóm polysaccharid có glycomannan, acemanan, galactan, galacturonan, acid amin, enzym, phytosterol và muối khoáng. Chất nhựa chứa 30-40%, nhựa khô lá lô hội ( nha đam ) kích thích chuyển động của kết tràng, thúc đẩy nhanh phân qua ruột kết, làm tăng độ thấm quanh tế bào qua niêm mạc kết tràng do ức chế Na+, K+, adenosin triphosphatase, các aloin A,B không hấp thu ở ruột non, có tác dụng tẩy ruột sau khi uống 24 giờ, nếu dùng qúa liều sẽ bị ngộ độc đau quặn bụng tiêu chảy nặng, mất dịch chất và chất điện giải.

Thuốc gel Aloe vera là gel nhầy thu được từ tế bào nhu mô lá tươi lô hội làm mau lành vết thương do kích thích trực tiếp hoạt tính của đại thực bào và nguyên bào sợi, giảm phản ứng da do phóng xạ, chữa thiếu máu cục bộ trên da bị tổn thương do phỏng, do điện giật và do lạm dụng tiêm thuốc động mạch, gel cũng chống viêm cấp tính hay mạn tính.

Chống chỉ định :

Gel dùng chữa phỏng không thích hợp với người bị dị ứng da.

Phân tích theo đông y :

Lô hội có vị đắng, tính hàn, vào 4 kinh can, tỳ, vị, đại trường, có tác dụng thanh nhiệt, mát gan, thông đại tiện, nhuận trường, tẩy ruột. Gel lô hội chữa trầy da, thâm tím, phỏng, chữa trĩ, trứng cá, vẩy nến, viêm da, mẩn ngứa do dời ăn.

Chống chỉ định :

Không dùng trong những trường hợp tắc, hẹp ruột, mất trương lực, mất nước, viêm ruột thừa, táo bón mãn tính, viêm thận, lạm dụng dùng lô hội sẽ làm hạ kali huyết, calci huyết, nhiễm acid chuyển hóa, làm bài tiết calci quá mức trong phân và nhuyễn xương cột sống. Không nên dùng lô hội lâu dài để chữa bệnh tiểu đường và cao áp huyết sẽ làm hạ kali và calci huyết xuống thấp dẫn đến viêm thận.

7-Nếu suy gan thận cao mỡ suy nhược dùng Kỷ Tử :

Những người già trên 60 tuổi hoặc những người bị bệnh ung thư, nếu ăn sống mỗi ngày 5g hạt kỷ tử khô trong 10 ngày liên tiếp thì hoạt độ men superoxid dismitase (SOD) tăng 48%, Hemoglobin (Hb) tăng 12% và Lipid peroxyd giảm 65%, nó làm tăng cường hệ miễn dịch đã bị suy giảm ở người già, điều chỉnh được tỷ lệ chuyển hóa của nguyên bạch cầu (leukocytoblast ), globulin miễn dịch trong huyết thanh như IgG, IgA và IgM đều tăng, nước sắc kỷ tử uống liên tục mỗi ngày trong 4 tuần lễ thì cholesterol huyết, beta lipoprotein và triglycerid đều giảm, lượng bạch cầu tăng và ngăn ngừa hiện tượng giảm bạch cầu do cyclophosphamid gây nên trong điều trị ung thư.

Phân tích theo đông y :

Kỷ tử có vị ngọt tính bình, vào hai kinh can thận, có công dụng dưỡng gan, sáng mắt, bổ phế thận, ích tinh, nó được coi là vị thuốc bổ toàn thân dùng cho cơ thể suy nhược, tinh huyết bất túc, có tác dụng bổ huyết, ức chế tế bào ung thư.

Nước sắc Kỷ tử : Dùng 6-12g kỷ tử (hạt cây câu kỷ ) sắc nước uống như trà mỗi ngày.

Đông y đánh giá Kỷ tử là loại thuốc bổ toàn thân, làm hạ cholesterol, hạ đường huyết, hạ áp huyết, bảo vệ gan, làm chậm sự lão suy, dùng cho cơ thể suy nhược, can thận âm suy, tinh huyết kém, thần kinh suy nhược, trí nhớ kém, lưng gối mỏi đau, hoa mắt, thị lực giảm, di tinh, đái đường.

Chống chỉ định :

Khi có bệnh ngoại tà, thực nhiệt, tỳ hư, tiêu chảy thì ngưng không được dùng.

Phòng bệnh chữa bệnh bằng thức ăn :

Kiêng ăn các loại dưa, cà, các loại mắm lên men, bia, rượu, thuốc lá, ăn vừa muối hay ít, nếu phù phải ăn nhạt, uống nước đun sôi để nguội hay sữa, nước rau củ, những thức ăn ít protein như miến, củ dong, bột sắn, khoai lang, khoai sọ, trứng, thịt nạc, cá, tôm, trái cây như chuối, nhãn, vải, na, xoài, đu đủ, nho, các loại rau như bầu bí, mướp, rau cải, bắp cải, dưa leo.

1-Canh bù ngót :

Dùng 100g rau ngót nấu canh với giò sống ăn thường xuyên.

Phân tích công dụng của Rau bù ngót theo tây y :

Bù ngót còn có tên bồ ngót, rau ngót, tên khoa học là Sauropus adrogynus (L.) Merr. Có chứa nhiều chất dinh dưỡng hàm lượng protein cao gồm 79,80g nước, 7,80g protein, 1,80g chất béo, 6,90g carbohydrat, 1,90g chất xơ, vit.A 10000 đơn vị, B1 0,23mg, B2 0,15mg, C 136mg, Ca 234mg, P 64mg, Fe 3,10mg, ngoài ra còn có lysin, methionin, valin, tryptophan, phenylalanin, threonin, valin, leucin, isoleucin.

Phân tích theo đông y :

Lá rau ngót có vị ngọt, tính mát. Rễ có vị ngọt nhạt hơi đắng, tính mát, có tác dụng lương huyết, hoạt huyết, giải độc, lợi tiểu, chữa sót nhau, tưa lưỡi, đái dầm, tiểu khó, nghẹt bàng quang.

Chống chỉ định :

Nước ép rau ngót tươi làm co bóp tử cung, dùng để chữa bệnh sót nhau sau khi sanh, nên phụ nữ có thai cấm dùng.

2-Canh hoặc chè khoai mài hột sen :

Dùng 100g khoai mài, 50g hột sen nấu canh thịt, xương heo. Hoặc khoai mài khô trong tiệm thuốc bắc bán gọi là hoài sơn, nấu chung với hột sen, cho ít đường phèn ăn như chè.

Phân tích công dụng của Khoai mài theo tây y :

Tên khoa học Dioscorea persimillis Prain et Burkill, Khoai mài chứa 63,25% tinh bột, 6,70% chất đạm, 0,45% chất béo có giá trị dinh dưỡng qúy đứng sau gạo và bắp ngô, ngoài ra nó có chứa thành phần mucin là một protein nhớt allantoin, các acid amin arginin, cholin và men maltase, men này có khả năng thủy phân đường rất lớn, hồi phục chức năng co bóp của nhu động ruột để tăng hấp thụ và chuyển hóa đường.

Phân tích theo đông y :

Khoai mài ở tiệm thuốc bắc gọi là Hoài sơn hay Sơn dược, vị ngọt, tính bình, vào các kinh phế, tỳ, vị, thận để chữa tỳ vị hư nhược, thiếu máu, ăn uống kém tiêu hóa, viêm ruột kinh niên, tiêu chảy lâu ngày không khỏi, phổi yếu, ho, sinh tân dịch, tăng thể lực, sinh cơ bắp, nước miếng, bổ thận chữa di tinh, đái đường, bạch đới, chống khát nước, đổ mồ hôi trộm.

3- Canh rau khoai lang đỏ :

Dùng 200g rau khoai lang đỏ luộc, nêm muối cho vừa làm canh ăn mỗi ngày.

Phân tích công dụng của Khoai lang theo đông tây y :

Tên khoa học Ipomoea batatas (L.) Lamk. chứa các protein, acid amin, pectic, chất khoáng Ca, Mn, Kali, Na, Phosphor, Clor, Sulfur, Fe, Iode, Cu, Zn, các enzym, chất béo, chất xơ, lá chứa vit E, có hoạt tính ức chế mạnh aldose reductase ở thủy tinh thể trong bệnh tiểu đường, kháng nấm, vi khuẩn.

Khoai lang có vị ngọt tính bình, có tác dụng bổ, nhuận tràng làm phân mềm không đau bụng. Dùng 1 củ khoai lang sống giã nhỏ, chế nước sôi uống vào sáng sớm để chữa táo bón. Ăn khoai chín đại tiện sẽ thông.

4- Cháo đậu xanh :

Dùng 50g đậu xanh còn vỏ, 50g gạo tẻ nấu chung thành cháo ăn mỗi ngày để chữa tiểu đường, khát nhiều, uống nhiều tiểu nhiều .

5-Cháo Lá mía heo :

Dùng lá mía heo 1 cái, Hoài sơn 60g, Ý dĩ 120g. Nấu cháo ăn trong ngày.

Chữa tiểu đường kèm theo sạn mật .

6- Cháo Ý dĩ hạt sen :

Dùng 50g Ý dĩ, 20g hạt sen và 100g thịt heo nạc xay nấu thành cháo.

Là món ăn cho những người cơ thể gầy yếu suy dinh dưỡng, tiêu trướng nước ổ bụng, hạ nhịp tim.

7-Nếu bí tiểu phù thủng do nhiệt ăn canh qủa BẦU :

Phân tích theo tây y :

Qủa bầu là một loại thức ăn dùng để chữa bệnh, tên khoa học Lagenaria siceraria (Molina ) Standl. Kết qủa thử nghiệm trong bầu có chất cucurbitacin B có tác dụng bảo vệ gan chống hoại tử, làm tăng hấp thụ tích lũy chất đường trong gan, ngăn ngừa được tế bào gan nhiễm mỡ và ức chế sự tăng sinh xơ ở gan.

Phân tích theo đông y :

Qủa bầu có vị ngọt nhạt, tính lạnh, giải nhiệt, độc, thông tiểu, tiêu thủng, trừ ngứa, ăn bầu nhiều chữa táo bón, đầy hơi, sưng ống chân, nước luộc là thuốc thông tiểu.. Thịt qủa bầu sống chữa đái rắt, sỏi thận. Giã đắp chữa sưng nóng đỏ đau. Hạt bầu chữa răng lợi sưng đau và trị sán .

Chống chỉ định :

Người hư hàn tạng lạnh không nên dùng vì tính hàn của bầu khi ăn nhiều có thể gây nôn tháo.

8-Canh mướp đắng :

Ngày dùng 1-2 qủa mướp đắng còn xanh bỏ hạt nấu chín, ăn cái uống nước mỗi ngày.

Chữa bệnh đái tháo đường do bao tử nhiệt, huyết áp cao, không phụ thuộc insulin :

Dùng qủa mướp đắng còn xanh thái mỏng phơi khô, tán bột. Mỗi ngày uống 12-20g chia làm 2-3 lần uống sau bữa ăn với nước.ấm.

Chỉ có lợi cho người bị bệnh tiểu đường có thân nhiệt cao, người nóng, cổ khô khát, áp huyết cao, bệnh thuộc thực nhiệt. Người bị thực chứng khi dùng nó một thời gian thấy khoẻ, lượng đường và áp huyết ổn định thì ngưng, nếu uống tiếp bệnh trở thành hư chứng làm cơ thể suy nhược thêm.

Chống chỉ định :

Không có lợi cho người bị bệnh tiểu đường thuộc hư nhiệt, hư chứng, tim suy, người lạnh, áp huyết thấp dưới 110mmHg, nhịp tim thấp dưới 65, đường-huyết thấp dưới 7mmol/l, nếu dùng nó lượng đường và thân nhiệt xuống thấp làm cho người yếu sức, chân tay bủn rủn, chóng mặt, biếng ăn, mệt tim. .

Phân tích công dụng của Mướp đắng theo tây y :

Mướp đắng hay khổ qua có tên là Momordica charantia L. có chứa các glucosid triterpenic, các chất hạ đường huyết, các protein, các acid amin, các lipid, các sắc tố, các vitamin B1,B2, PP, E, Béta caroten, các chất khoáng Ca, Mg, Cu, Fe, Zn, các hợp chất lectin..

Khi thử nghiệm cho chuột trắng uống đường glucose 45 phút trước khi cho uống dịch ép qủa mướp đắng rồi đo lại lượng glucose trong máu thấy giảm. Nó làm đường huyết giảm và làm tăng tính hấp thụ dung nạp glucose mà không phụ thuộc insulin được điều trị hoặc phụ thuộc vào sự hấp thụ glucose qua ruột và có liên quan đến tác dụng ngoài tụy tạng ( tỳ ).

Phân tích theo đông y :

Qủa và lá mướp đắng có vị đắng, tính hàn ( lạnh mát), hạt có vị đắng ngọt, tính ấm, có tác dụng thanh nhiệt, nhuận trường, bổ thận, giảm tiêu khát, lợi tiểu.

Quả mướp đắng dùng làm thuốc mát, chữa hạ sốt, đái buốt ra ít một, bệnh phù thủng do gan nhiệt. Quả mướp nấu nước tắm trừ rôm sẩy cho trẻ em.

Lá mướp đắng khô 12g tán bột hòa với nước dùng làm thuốc uống kết hợp với lá tươi giã nát đắp trên nhọt sưng tấy nhiễm độc.

Hoa mướp đắng phơi khô tán bột uống chữa đau bao tử nhiệt, loét.

Nước ép của lá liều cao có độc dùng để gây nôn, trị giun sán, hoặc đắp vào chỗ vết rắn cắn.

Chất đắng vào tim, tính hàn của mướp khắc chế tâm hỏa tà nên hỏa tà không hại được phế kim, lúc đó phế khí sẽ phục hồi làm chứng khô cổ khát nước không còn nữa, khi phế kim mạnh sẽ sinh thủy giao xuống thận để nuôi thận. Thận đầy đủ thủy sẽ khí hóa thành thủy khí qua mệnh môn tam tiêu lên tâm để khắc chế tà nhiệt trong tim và phục hồi sự khí hóa thủy hỏa được quân bình. Tính dược của mướp đắng còn điều hòa tỳ vị làm tiêu chất cứng khô nóng ở bao tử, làm hết khát nước, trị vọp bẻ khi thổ tả, trừ thấp nhiệt, tiêu sưng phù, ngăn tiêu chảy và trợ tỳ hấp thụ được chất ngọt. Khi bị bệnh tiểu đường thì tỳ hư không hấp thụ và chuyển hóa được chất đường, nên chất đường cứ trôi theo trong máu khiến máu tăng nồng độ khi đường lên men làm tâm thêm nhiệt tà truyền xuống thận theo hệ tam tiêu nên lượng đường cũng có trong nước tiểu, trong khi đó tạng tỳ không chuyển đường để nuôi cơ bắp và da thịt, khiến cơ thể mệt mỏi, da thịt teo gầy, cho nên mướp đắng là vị thuốc trị tiểu đường rất công hiệu tả tà nhiệt ở tâm làm hết tiêu khát, giúp tạng tỳ tăng tính hấp thụ chất ngọt.

9-Bồ công anh (Cây cải trời=dandelion):

Nấu canh hay làm rau trộn dầu dấm

Phân tích công dụng của Bồ công anh theo tây y :

Có hai loại, loại có tên khoa học Lactuca indica L. còn gọi là cây diếp dại, cây mũi mác. Chứa khoảng 90% nước, còn lại là protid, glucid, xơ, tro, caroten , vit.C, chất đắng chính là lactucin và lactucopicrin, beta amyrin, taraxasterol, germanicol. Có tác dụng ức chế men oxy hóa khử peroxydase và catalase.

Loại khác tên khoa học Taraxacum dens-leonis Desf. Gọi là bồ công anh thấp hay bồ công anh Trung quốc, chứa flavonoid toàn phần, nhựa, tinh dầu, pectose, acid béo, sáp, có tác dụng kháng khuẩn, virus, virus bệnh đậu bò, nấm, chống amip, tác dụng trên nhịp thở và biên độ hô hấp, chống tế bào ung thư trên biểu mô mũi, thanh quản, ung thư bạch cầu dòng lympho, tế bào sarcom 180 và tế bào gây u gan, giảm glucose huyết.

Phân tích theo đông y :

Bồ công anh Lactuca có vị ngọt, hơi đắng, tính hàn để giải nhiệt độc, tiêu viêm, thanh nhiệt, tán kết, điều trị tỳ vị uất hỏa, sưng vú, áp xe, tràng nhạc, mụn nhọt.

Loại Bồ công anh thấp Taraxacum có vị ngọt, hơi đắng, tính bình, hơi hàn, vào kinh tỳ vị, thanh nhiệt, giải độc, lương huyết, tiêu ung, thông sữa lợi tiểu, ăn ngon, các loại bệnh về gan mật, các bệnh về tiêu hóa, suy thận, sạn thận, cholesterol huyết, xơ vữa động mạch, bệnh ngoài da, thấp khớp, thống phong, suy nhược thiếu máu..

Chống chỉ định :

Không dùng trong trường hợp âm hư, tràng nhạc hay ung nhọt đã vỡ mủ.

CÁCH ĐIỀU CHỈNH KHÍ BẰNG CÁCH TẬP KHÍ CÔNG :

1-Chữa theo đối chứng :

Thử đường-huyết trước và sau khi ăn 30 phút :

Những bệnh nhân tiểu đường khi thử đường đôi khi kết qủa không chính xác, nên khi dùng thuốc chữa tiểu đường, hay tiêm insulin vô tình gây hôn mê bất tỉnh.

Nguyên nhân do tắc mao mạch nơi đầu ngón tay.

Có nữ bệnh nhân tuổi lão niên đo đường-huyết ở ngón tay trước khi tập khí công là 10mmol/l

Sau khi tập khí công cảm thấy mệt, chóng mặt, chân yếu sức, trán xuất mồ hôi….đó là dấu hiệu đường-huyết tụt thấp, nhưng khi thử đường trên ngón tay lại vẫn cao còn 9.0mmol/l, cho nên bà vẫn nói là tôi tập khí công nhiều lắm mà đường không xuống, vẫn phải uống thuốc chữa bệnh tiểu đường.

Tôi nói con số 9.0mmol/l là đường cũ trong máu do mao mạch đầu ngón tay bị tắc, máu từ động mạch tim ra đến đầu ngón tay qua mao mạch đầu ngón tay theo mao mạch vào tĩnh mạch tuần hoàn về thận lọc máu về gan lên tim.

Muốn biết có phải tắc mao mạch đầu ngón tay, thì khi châm đầu ngón tay sẽ ra máu đặc đen, nên thử đường là 9.0mmol/l, sau khi nặn hết máu đen đặc ra thì máu loãng dần, đo lại đường xuống còn 7.0mmol/l. Tiếp tục nặn ra máu bị tắc không ra, đến khi ra máu lại thử cùng chỗ, đường xuống còn 6,1mmol/l, rồi lại vuốt từ cánh tay cho thông máu chảy ra đầu ngón tay thử lại đường xuống còn 5.4mmol/l. Đây mới là kết qủa trung thực sau khi tập khí công.

Điều này chứng tỏ sau khi tập trong cơ thể mất đường nên cơ co bóp tim yếu sẽ bị mệt, nhưng khi ở tay 9.0mmol/l làm bệnh nhân nghĩ rằng mình có bệnh tiểu đường vẫn còn cao, nên tiên insulin vô tình làm đường xuống dưới 4.0mmol/l gây ra tình trạng hôn mê ngủ say hay té ngã vô ý thức.

Dấu hiệu tê lạnh tay, người mệt mất sức, vẫn tiêm insulin mà thử đường trên tay vẫn cao là do nguyên nhân tắc mao mạch đầu ngón tay, nhiều người không biết điều này vẫn tiêm insulin, nên gây ra biến chứng đối với nhiều người thành bệnh suy tim, suy thận, chân tay yếu, chán ăn, mệt mỏi, mất trí nhớ, ăn không tiêu, mắt mờ, thiếu máu, thiếu khí teo cơ chân tay, ung thư ….

2-Các bài khí công tự tập :

Bài Kéo Ép Gối Thổi Hơi Ra Làm Mềm Bụng 300 lần.

Làm mạnh chức năng chuyển hóa, tăng cường chức năng lọc thận, nhưng muốn chức năng thận hoạt động tốt cần phải giữ lượng đường trên dưới 8.0mmol/l thì Tâm-Thận giao nhau để cùng nhau chuyển hóa chất thải và ngừa được chứng thoái hóa dạng tinh bột làm tăng lượng đường trong máu ít ai ngờ tới nếu không nhờ khám phá của tây y.

Sau khi tập bài căn bản về chuyến hóa Kéo Ép Gối Thổi Hơi Ra Làm Mền Bụng như trên sau mỗi bữa ăn, đường-huyết sẽ xuống thấp, nếu đo lại đường-huyết thấp thì phải dùng thêm đường nếu đường thấp dưới 6.0mmol/l thì chức năng chuyển hóa của Tâm-Thận yếu làm chất thải creatinin tích lũy trong máu tăng dần làm suy tim, suy thận.

Sau mỗi khi tập xong đo lại áp huyết .

Bài này cũng có công dụng điều chỉnh chức năng tiêu hóa của gan và bao tử, nếu chán ăn, thì tập 100 lần trước khi ăn 30 phút, giúp gan tiết mật và chất chua kích thích thèm ăn, sau khi ăn chức năng bao tử yếu không chuyển hóa hấp thụ thức ăn, thức ăn ứ đọng trong bao tử lên men gây ợ chua, trào ngược thực quản, làm tăng áp huyết, nên sau khi ăn 30 phút trở lên, tập bài này 300 lần giúp co bóp gan bao tử nhân tạo, bao tử nhồi ép thức ăn thành chất lỏng để chuyển hóa thành chất bổ, đẩy xuống ruột non, bao tử sẽ không bị bệnh, điều chỉnh được bệnh táo bón hay tiêu chảy.

Nếu ép sát đầu gối vào bụng, kích thích thận co bóp sẽ làm thông những cặn vôi, tinh bột bị nghẹt trong hệ thống lọc của thận.

Bài Cúi Lạy (Phật hay Chúa) 100 lạy

Nếu áp huyết cao thì tập bài Cúi Lạy (Phật hay Chúa) 100 lạy làm hạ creatinin vừa làm hạ áp huyết, làm hạ đường-huyết vừa chữa bệnh tâm-thận, làm mạnh chức năng lọc máu cho thận.

Bài Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực 100 lần

Nếu áp huyết xuống thấp thì tập bài Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực 100 lần vừa làm tăng áp huyết nhưng làm hạ đường, vừa chữa bệnh tâm-thận mạnh chức năng lọc máu cho thận.

Công dụng bài tập này chữa đau hông sườn, thần kinh tọa, sưng đau ruột, tuyến tiền liệt, bướu tử cung, điều chỉnh táo bón, tiêu chảy, bí tiểu, tiều đêm.

Bài Làm Tan mỡ Bụng 3-5 lần + Kéo Ép gối 50 lần

Nếu có đường dư thừa tích lũy trong mỡ ổ bụng, viêm tuyên tiền liệt, thận ứ nước, bụng ứ nước, đi tiểu đêm thì tập thêm bài Làm Tan mỡ Bụng 3-5 lần.

Bài tập này làm săn chắc các cơ căng cứng nên sẽ bị đau cơ lưng bụng, nên phải tập tiếp bài Kéo Ép Gối làm thư giãn gân lưng sẽ hết đau lưng.

Lưu ý : Sau khi tập xong, đo áp huyết 2 tay và đường-huyết phải lọt vào tiêu chuẩn tuổi, và lượng đường giữ ở mức an toàn khi đói từ 6.0-8.0mmol/l, khi no từ 8.0-10.0mol/l mới đủ nuôi cơ bắp co bóp đàn hồi, mới làm giãn nở mao mạch để máu lưu thông trao đổi máu mới và đẩy chất thải creatinin trong cơ bắp cho thận lọc tống ra ngoài theo đường tiểu.

Tóm lại đường huyết thấp theo ngành y, Hiệp Hội các bác sĩ tự động hạ thấp tiêu chuẩn so với ngành dược đã gây ra biến chứng của nhiều bệnh nan y thời đại.

Nếu muốn thân thể khỏe mạnh không bệnh tật thì cần phải đủ máu đủ đường nuôi tế bào giúp chức năng tạng phủ chuyển hóa hấp thụ và loại bỏ chất thải xấu trong cơ thể ra ngoài.

Nếu thiếu đường, thiếu máu, thiếu khí thì 3 chức năng này không hoạt động tốt, những chất thải trong cơ thể tích tụ gây ra nhiều bệnh nan y khó chữa dẫn đến tử vong mà tây y không biết nguyên nhân gốc bệnh, chỉ chữa ngọn bệnh theo biến chứng từng bệnh đã phát hiện ra, còn đông y chữa nguyên nhân gốc bệnh khi bệnh chưa xuất hiện ra gọi là chữa bệnh khi chưa bị bệnh.

Bài đi cầu thang 1 bậc 600 lần :

Bài này làm mạnh lưng gối, hạ áp huyết và hạ đường khi tập xuất mồ hôi trán, nhớ rằng khi đang tập mà mệt là đường-huyết tụt thấp phải uống thêm 2-3 thìa cà phê đường cát vàng.

3-Các bài tập khí công người khác tập cho mình :

Bài Ép lưng thận :

Nằm úp, nhờ người dùng 1 tay cầm cổ chân ấn gót chân bệnh nhân vào mông, bàn tay kia đặt tại giữa cột sống đối xứng với rốn là vị trí của Mệnh Môn, khi ép gót chân vào mông và đè ấn lưng xuống thì bảo bệnh nhân cùng lúc miệng thổi hơi ra cho bụng xẹp, làm cho lưng hạ xuống, khi lưng nhồi lên lại ấn đè thổi hơi ra cho lưng hạ xuống, làm 18 lần mỗi bên chân, động tác này kích thích thận co bóp khi thận được ấn đè nhồi lên nhồi xuống, bài này tập mỗi ngày 1000 lần tương đương với phương pháp lọc thận nhân tạo bằng khí, làm tăng lực co bóp cho thận, ép thận xuống thì nước cũ và những chất thải, độc tổ bị đẩy ra khỏi thận, khi thận nhồi lên là đang hút vào những chất thải, lại ép xuống đẩy chất thải ra.

Còn thận đã mất lực co bóp, tây y lọc thận bằng nước với hóa chất chỉ là rửa thận loại creatinin ra ngoài, chứ tự chức năng thận không được phục hồi, do đó chưa có bệnh nhân nào bị lọc thận xong là khỏi, mà vẫn phải tiếp tục lọc thận nhân tạo cho đến khi thay thận hay cho đến suốt đời đến lúc chết.

Tại sao thận mất chức năng co bóp, lý do dễ hiểu thận là một bộ máy lọc trời cho, nó cũng có công suất và số giờ hay số lượng lọc máu nhất định theo phương pháp tự nhiên, thí dụ trong các bữa ăn có đầy đủ cơm canh nước như người Á Châu, trung bình đã có 2-2.5 lít nước mỗi ngày chứa sẵn trong thức ăn, trong cơm, canh, nước trà, cà phê, trái cây.

Mỗi giờ theo dõi chức năng thận lọc máu cứ 1 giờ thận lọc máu, loại chất thải cho 3 bữa ăn và uống nước khi khát, với công suất 6 lít/ mỗi giờ lọc nước và máu qua máy lọc thận. Như vậy mỗi ngày thận lọc 24 giờ được 144 lít chắt ra máu và những chất tốt tái hấp thụ 99% theo máu về tim còn chất thải cặn bã 1% đưa xuống đường tiểu ra ngoài.

Trời cho chúng ta có bộ máy lọc thận tối đa 5.256.000 lít nếu chúng ta sống thọ 100 năm.

Thức ăn của chúng ta khác với thức ăn của người tây phương, trong bữa ăn của họ không có nhiều nước, đa phần là chất khô, do đó họ cũng biết cơ thể phải cần 2.0-2.5 lít nước mỗi ngày thì cũng đúng. Khi chúng ta đi khám bác sĩ, họ cũng khuyên chúng ta phải uống đủ lượng nước 2.0-2.5 lìt nưóc mỗi ngày, nhưng chúng ta không tính rằng chúng ta theo tiêu chuẩn Á đông cũng đã đủ lượng nước theo yêu cầu, nay lại uống thêm nuớc bổ sung, đi đâu cũng kè kè chai nước cố uống cho thêm 2 lít nước nữa, nên công suất máy lọc thận phải làm việc gấp đôi nên thời gian lọc sẽ giảm đi chỉ đến 50 năm là hỏng máy, thận hư, phải nhờ lọc bằng máy nhân tạo.

Trọng lượng cơ thể chúng ta chứa 70-80% là nước, trừ những người gầy ốm thiếu nước mới cần uống nước, khi bộ máy lọc thận của chúng ta hư, 70-80% nước có sẵn trong người nó đã không lọc được mà còn khuyến khích mỗi ngày cần phải uống nhiều nước để lọc thận thì không hợp lý làm thận ứ nước phình động mạch, tĩnh mạch, sưng phù tim thận, mặt sưng phù, đầu gối có nuớc, chân sưng phù đi đứng nặng nề khó khăn, thận không lọc ứ chất thải và chuyển hóa dạng tinh bột làm tắc nghẹt bộ phận lọc của thận sinh ra ứ nước trong thận và sạn thận .

Có cả những người quan niệm uống nhiều nước để đi cầu dễ mà vẫn bị táo bón giả, lý do uống nhiều nước làm phình giãn ruột khiến ruột mất chức năng co bóp đẩy phân, làm ung thư ruột do thể tích ruột phình giãn sẽ chứa phân của nhiều ngày mới đầy, sau 5-7 ngày đầy phân ở phần trên thì phân cũ nằm phần dưới ở trực tràng mới bị đẩy ra khỏi hậu môn chảy ra phân lỏng đen hay xanh, ngoài ra ruột nặng đè vào động mạch háng làm tê phù sưng đau nhức, bụng to kéo dây thần kinh lưng làm ép đĩa đệm xẹp xuống thành khô cứng gọi là gai cột sống, thoái hóa đĩa đệm, đè ép vào bọng đái làm bí tiều dù có uống nhiều nưóc nó cũng không ra, làm sưng to tuyến tiền liệt ở đàn ông, đẩy cửa mình lòi ra ngoài ở đàn bà.

Ấn đè huyệt Khí Hải :

Người khác ấn đè, nếu tay bệnh nhân yếu sức, bệnh nhân còn tỉnh táo, tay còn khỏe tự bệnh nhân dùng đầu cây bút to như ngón tay cái, ấn đè vào huyệt Khí Hải là điểm từ rốn xuống đỉnh xương mu chia làm 5 đoạn, thì huyệt Khí Hải tính từ rốn xuống ở điểm 1 đoạn rưỡi.

Ần đè sâu 3-5cm giữ lâu trong 30 phút trở lên, Nó là biển khí tập trung khí lực về huyệt này giúp cho thận lọc, chúng ta nghe tiếng khí và nước chuyển động trong bụng kêu ọc ọc, cảm thấy bụng nóng ấm, cảm thấy khí xuống chân ấm giúp chân hết phù nước hay chân bị mất cảm giác, và chúng ta cảm thấy muốn đi đại tiện, tiều tiện.

Có những bệnh nhân đang lọc thận theo tây y, nhưng khi nằm lọc thận, tự dùng ngón tay cái hay chụm 3 ngón tay ấn đè vào huyệt này sâu 3-5cm càng lâu càng mau khỏi bệnh, và nhờ phương pháp này mà được xuất viện sớm khỏi phải lọc thận.

Có người tự sáng chế một khung gỗ vuông, khoét 1 lỗ, đặt con ốc kim loại to bằng ngón tay cái, điều chỉnh con ốc cao hay thấp để đè sâu vào huyệt không cần dùng ngón tay, nên nằm thoải mái, chỉ nhắm mắt dùng ý, nghe xem thận đang lọc trong bụng làm chuyển động khí, nước và máu như thế nào.

Công dụng của huyệt Khí Hải làm hạ áp huyết, hạ đường, hạ sốt, chữa bệnh đàm suyễn khó thở, chữa táo bón, đau lưng, điều chỉnh các loại hormon trong cơ thể, chuyển hóa thức ăn thành khí lực phục hồi mọi chức năng co bóp của tạng phủ, diều chỉnh nhịp tim, tăng thân nhiệt, tăng cường trí nhớ, chữa bệnh về đường tiểu như tiểu đêm, tiểu không thông, tiều són nhiều lần….

CÁCH ĐIỀU CHỈNH KHÍ BẰNG HUYỆT TRÊN MẠCH NHÂM

Từ huyệt Trung Đình xuống rốn là Thần Khuyết chia 8 phần, có 8 huyệt tính từ Cưu Vĩ. Từ rốn xuống đỉnh xương mu là huyệt Khúc Cốt chia 5 phần, huyệt Khí Hải cách rốn 1 phần rưỡi.

Hội Âm : Chữa viêm niệu đạo, lỗ tiểu nóng, viêm tuyến tiền liệt.

Khúc Cốt : Tiêu viêm bàng quang, tử cung, dịch hoàn.

Trung Cực : Ôn điều huyết thất tinh cung, lý hạ tiêu, trợ khí hóa lợi bàng quang, lợi thấp nhiệt, (tả chữa bí tiểu, viêm đường tiểu, tắc tiểu, bướu vùng hạ tiêu ở ruột, tử cung, tuyến tiền liệt).

Quan Nguyên : Bồi thận cố bản, bổ khí hồi dương, ôn điều thất tinh cung, trừ hàn thấp, phân thanh trọc, điều nguyên, tán tà, tiêu viêm nhiễm, ứ kết, bảo kiện gan tỳ thận âm dương..

Khí Hải : Ðiều ích tích nguyên khí bổ thận khí hư, lý kinh đới, ôn hạ tiêu, khử thấp trọc, hòa vinh huyết.

Công dụng của huyệt Khí Hải làm hạ áp huyết, hạ đường, hạ sốt, chữa bệnh đàm suyễn khó thở, chữa táo bón, đau lưng, điều chỉnh các loại hormon trong cơ thể, chuyển hóa thức ăn thành khí lực phục hồi mọi chức năng co bóp của tạng phủ, điều chỉnh nhịp tim, tăng thân nhiệt, tăng cường trí nhớ, chữa bệnh về đường tiểu như tiểu đêm, tiểu không thông, tiều són nhiều lần….

Thần Khuyết : Ôn thông nguyên dương, cấp cứu hồi dương cố thoát, kiện vận trường vị, vận khí cơ trường vị hóa hàn thấp trệ. Bụng lạnh bị mất nhiệt năng. Chườm nóng bằng túi tro nóng, cát nóng, muối nóng với lá ngải cứu khô chữa bệnh đau bụng tiêu chảy, trúng độc thực phẩm, dịch tả.

Thủy Phân : Trị viêm sưng thận, vận tỳ thông lợi thủy thấp.

Hạ Quản : Trợ vận hóa trường vị, tiêu trệ thực tích.

Kiến Lý :Thư giãn lồng ngực, Vận tỳ, lý khí, hòa vị tiêu tích, hóa thấp.

Trung Quản : Lý trung tiêu điều thăng giáng, hòa vị, khí hóa thấp trệ.Tăng hấp thụ tiêu hóa, huyệt bổ toàn thân, tương đương với thuốc Campolon fort.

Thượng Quản : Ðịnh thần chí sơ khí cơ, lý tỳ vị, hóa đàm trọc, hóa thấp giáng nghịch.

Cự Khuyết :Hóa thấp trệ trung tiêu, điều lý khí, thông hòa vị, lợi cách mô, thanh tâm đînh thần, tâm khí bất túc, khí huyết suy nhược.

Cưu Vĩ : Ðịnh thần, thư ngực, đau tức dưới tim làm khó thở.

Trung Đình :Trục hàn ở cách mô làm ăn không tiêu, không xuống, ứ nghẹn.

Chiên Trung : (giữa 2 núm vú) Thông khí, điều khí giáng nghịch lợi cách, giải uất khí, thanh phế hóa đàm, tăng cường vinh vệ khí, tăng hơi thở, tăng oxy trong máu, tăng hồng cầu.

CÁCH DÙNG HUYỆT :

TẢ : Trong trường hợp bệnh thực chứng, ấn vào huyệt cảm thấy đau tức, thì ấn đè day bấm hơi đau để chuyển khí, nếu đúng bệnh, bệnh nhân thấy dễ chịu.

Nếu có cục hòn nổi cộm nơi huyệt, thì ấn bằng thất tinh châm cho lâu để tan bướu.

BỔ : Trong trường hợp hư chứng, ấn đè sâu mới cảm thấy cứng đau, thì dùng ngải cứu không khói (mua ở tiệm thuốc bắc), dùng dầu bôi trơn vào huyệt ngừa phỏng, dùng hai ngón tay trỏ và giữa đè vùng bụng hai bên vị trí huyệt lõm xuống sâu 3-5cm, bàn tay kia cầm ngải cứu để cao trên huyệt cách xa huyệt 3-4cm cố định, thời gian hơ trên huyệt lâu 36 giây, là lấy ra, gạt tàn tro cây ngải cứu, cứ mỗi lần hơ gọi là 1 mồi.

Ngày xưa, người ta cắt 1 lát gừng mỏng để lên huyệt, trên miếng gừng người ta lấy sợi ngải cứu khô vo tròn để lên miếng gừng và đốt cháy cục ngải cứu đó cho đến khi cháy hết gọi là 1 mồi, ở xứ ngoại quốc không áp dụng được vì hệ thống báo cháy trong nhà sẽ hú còi.

Chúng ta có thể cắt 1 miếng bìa carton dầy, ngang 5cm, dài 10cm, khoét 3 lỗ 1cm vuông, theo chiều dọc cách nhau vừa đúng vị trí 3 huyệt liên tiếp, để hơ 3 huyệt một lần, hơ huyệt 1 một mồi, sang huyệt 2 một mồi, sang huyệt 3 một mồi, trở lại hơ tiếp mồi thứ hai cho 3 huyệt, rồi mồi thứ ba, mồi thứ tư…

Thỉnh thoảng lại bôi dầu trên huyệt ngừa phỏng.

Theo dõi kết qủa hơ huyệt :

-Những huyệt nào vừa hơ, bệnh nhân cảm thấy nóng là huyệt đó không cần hơ.

-Những huyệt nào hơ ít mồi đã nóng là bệnh nhẹ, thì giảm thời gian hơ đếm xuống còn 18 giây, nếu chưa đến 18 giây cảm thấy nóng là huyệt đó đã phục hồi, không cần hơ nữa.

-Những huyệt nào hơ thật nhiều mồi mà bệnh nhân chưa cảm thấy nóng là bệnh nặng, không được tăng thời gian đếm cho nóng thì cháy da không có lợi và làm chết huyệt, vẫn phải hơ lâu 36 gây làm nhiều mồi.

Để ý khi các huyệt được hơ cứu thông khí huyết, chúng ta sẽ nghe thấy tiếng bụng sôi kêu ọc ọc, khí huyết chạy xuống dưới ruột, hết dấu hiệu bị tức nghẹn đau nhói ngực, khó thở, ngáp ợ hơi, hết bị nhức đầu chóng mặt buồn nôn, do ăn không tiêu làm tăng áp huyết.

machnham

Người bình thường muốn ăn uống tiêu hóa tốt, muốn khỏe mạnh, mỗi ngày có thể tự hơ cứu vào 4 huyệt Thượng Quản, Trung Quản, Kiến Lý, Hạ Quản, mà ngày xưa ông Tổ Biển Thước (sinh trước tổ Hoa Đà khoảng 1000 năm thời Tam Quốc Chí) gọi tắt 4 huyệt này là Thượng-Hạ-Uyển, day bấm 4 huyệt này mỗi ngày, hay thỉnh thoảng hơ cứu, cứu chữa được nhiều người khỏi bệnh nan y, cơ thể suy nhược do không ăn uống được, yếu sức dần, nó phục hồi sức khỏe nhanh tương đương với tiêm mỗi ngày một mũi thuốc bổ Campolon fort của tây y.

—>Xem tiếp Phần 6