NGUYÊN NHÂN BỊ MỔ MẮT, MỔ TIM, LỌC THẬN DO BỆNH TIỂU ĐƯỜNG …: Phần 3

NGUYÊN NHÂN BỊ MỔ MẮT, MỔ TIM, LỌC THẬN
DO BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

CÁCH ĐỀ PHÒNG VÀ CÁCH CHỮA

PHẦN 1 : Những nguyên nhân làm suy thận
PHẦN 2 : Cấp độ suy thận và cách thử nghiệm theo Tây y
PHẦN 3: Nguyên nhân bệnh thận theo Đông y
PHẦN 4 : Cách chữa theo phương pháp của Tây y
PHẦN 5 : Cách chữa theo phương pháp của Đông y Khí công
PHẦN 6 : Những bệnh không được uống nhiều nước
theo ngành Y Học Bổ Sung Khí Công Y Đạo
PHẦN 7 : Tham khảo các bài thuốc chữa thận theo Đông y
PHẦN 8: Chia xẻ kinh nghiệm chữa bệnh để mọi người tin tưởng có thể tự chữa
PHẦN 9 : Những khám phá mới về nước ép Câu Kỷ Tử

0006

PHẦN 3: NGUYÊN NHÂN BỆNH THẬN THEO ĐÔNG Y :

Nếu chia theo thời gian hình thành bệnh theo tây y, đông y dùng dấu hiệu triệu chứng lâm sàng đối chiếu với tây y có 4 nguyên nhân :

1-Do chính thận có bệnh gọi là bệnh tại thận.
2-Căn cứ theo ngũ hành tạng phủ nguyên nhân gây ra bệnh thận thủy do mẹ của nó là kim hay gọi là bệnh tại phổi.
3-Căn cứ bệnh thận theo ngũ hành do con nó là mộc gọi lả bệnh tại gan.
4-Do thực phẩm căn cứ vào chức năng bao tử và tụy tạng kém chuyển hóa gọi là bệnh tại tỳ vị tạo ra chứng thoái hóa dạng tinh bột..

Trong 4 giai đoạn bệnh theo đông y so với nguyên nhân thường gặp của bệnh suy thận theo tây y là do bệnh tiểu đường do chức năng chuyển hóa thức ăn của tỳ vị kém sinh ra bệnh tiểu đường, bệnh cao áp huyết, viêm thận, viêm cầu thận hay thận đa nang do thận khí không co bóp chuyển hóa do phổi yếu, không đủ phế khí đưa hỏa khí của tim xuống Mệnh Môn giúp thận khí bóp chuyển hóa co bóp thanh thải chất bẩn trong máu, và khi chính thận bị bệnh có thể ngưng hoạt động đột ngột (suy thận cấp tính) hay sau khi một chấn thương nghiêm trọng, hay do thời gian phẫu thuật phức tạp nghiêm trọng gây ra..

A-CÁC CHỨNG BỆNH CỦA THẬN VÀ BÀNG QUANG THEO TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG ĐÔNG Y :

Nguồn trích dẫn :
https://drive.google.com/file/d/0BzTtsb_fw3P0YmNjZmU5MWYtZDkzMS00ZTQ3LWIwMzktOGM0ZWZmZDI4ZTMx/view?ddrp=1&hl=en#

1-Chứng thận khí hư: (Bệnh chứng thứ 295 trong link trên)

Tiêu chảy, mình và thắt lưng lạnh, chân tay nặng, ù điếc tai, tê tay chân, chóng mặt, không muốn ăn, hay quên, tinh dịch bất túc, di hoạt tinh, suy sinh dục, đái không tự chủ, đái nước tiểu đỏ vàng, thường gặp ở người gìà, lão suy. Thận hư mãn tính làm ra chứng tinh cực gây ra bệnh tai điếc mắt mờ.

2-Chứng thận âm hư : (296)

Do thận tinh hao tổn quá độ, mất máu, mất tinh, mất nước, làm di tinh, ù tai, răng lung lay, đau mỏi lưng đùi ê ẩm, đầu gối yếu, liệt dương, ho lâu ngày, nóng về đêm, mồ hôi trộm, cơ thể gầy yếu suy nhược, âm hư hỏa vượng do suyễn, viêm nhiễm lâu ngày, vì mất dịch chất nên khô miệng, họng đau, váng đầu, tóc bạc hoặc hay rụng tóc, chóng quên, táo bón, tiểu ít, áp huyết tăng, hai gò má đỏ bừng, lòng bàn tay bàn chân nóng, chất lưỡi đỏ, rêu ít. Thận âm hư mạn tính làm ra chứng cốt cực gây ra bệnh răng trồi, chân yếu liệt.

3-Chứng thận dương hư : (297)

Thận chủ dương khí toàn thân khi bị suy yếu thì dương khí toàn thân hư, gọi là mệnh môn hỏa bất túc, hai chân lạnh, lưng gối lạnh mỏi yếu, sợ lạnh, mình nặng nề, khí nghịch, bụng đầy, hay tiểu đêm, đại tiện nhầy hay đi lúc gần sáng, miệng nhạt không khát, suyễn, mặt xạm đen, gầy còm, áp huyết thấp, ban đêm đi tiểu nhiều, nước tiểu trắng, lưỡi nhợt nhạt, rêu trắng trơn.

4-Chứng thận hư thủy phiếm: (298)

Do thận dương hư không làm chủ được thủy khiến bàng quang bị hại, tiểu tiện ít, ảnh hưởng đến tỳ không dẫn thủy, sinh tràn lan thành phù thủng, nhất là từ vùng lưng trở xuống ấn lỏm, lưng đau mỏi, sợ lạnh, tay chân lạnh, lưỡi nhợt bệu, rêu trắng trơn, thường gặp ở bệnh viêm thận mạn tính, phù thủng do biến chứng bệnh suy tim.

5-Chứng thận thực : (299)

Gan bàn chân nóng, khí nghịch làm ho suyễn, sợ gió, bụng dưới lớn căng đầy, tức ngực, chân sưng, hay sợ sệt, tiểu ra máu, đàn bà con gái sinh lậu huyết, lưỡi khô.

6-Chứng thận hàn : (300)

Do khí lạnh vào thận làm thận nở to, mắc đi tiểu luôn làm mất nước cơ thể bạc nhược, hàn khí không hóa được chất vôi bị kết thành sạn thận, đàn ông bị sưng hòn dái, di tinh, mộng mị, đàn bà bị huyết kết ở tử cung làm tắc kinh, kinh nguyệt không đều, đau tử cung, ngứa âm hộ, bệnh lâu ngày thành ung thư tử cung, chân đùi mỏi đau.

7-Chứng thận nhiệt : (301)

Hỏa ức thủy, đàn ông di mộng tinh, đái són từng giọt đau buốt, đàn bà sưng nóng âm đạo, tổn suy tinh lực, gan bàn chân nóng, có đường trong máu cao thành bệnh tiểu đường.

8-Chứng thận lao : (304)

Một trong 5 chứng lao (năm loại mệt nhọc quá đáng tổn thương cơ thể như nhìn lâu hại huyết, nằm lâu hại khí, ngồi lâu hại nhục, đứng lâu hại xương, đi lâu hại gân ). Thận lao là xương bị hại, trong xương nóng âm ỉ, sốt từng cơn, mồ hôi trộm, di tinh, đau lưng như gẫy, chi dưới mềm yếu không đứng được.

9-Chứng thận không nạp khí : (305)

Thận không thu nạp, khi phổi thở khí vào thì thận đẩy ra làm ho suyễn kéo dài, đặc biệt ở người già thận bị hư yếu thở ra nhiều mà hít vào khó khăn.

10-Chứng thận tí : (306)

Một trong ngũ tạng tí, xương mềm yếu không đi đứng được, còng lưng, xương sưng cứng đơ không co gấp được do cốt tí (đau nhức xương) lâu ngày không khỏi thêm cảm nhiễm ngoại tà ẩn náu ở thận khiến bệnh phát triển nặng.

11-Chứng bàng quang hư : (307)

Ðau nhức cẳng chân, ống chân, đau thắt lưng, bệnh trĩ, đau sau đầu do khí không thông.

12-Chứng bàng quang hư hàn : (308)

Chức năng khí hoá của Bàng quang yếu hoặc vệ khí ở phế và Bàng quang suy, bị cảm nhiễm hàn tà xâm nhập ảnh hưởng đến sự co thắt của bàng quang, có liên quan đến thận dương hư nên tiểu bất bình thường như đái són, đái vội gấp như muốn vãi đái mà đái không được, nước tiểu trong, đái nhỏ giọt không dứt, rêu lưỡi mỏng nhuận.

13-Chứng bàng quang khái : (310)

Khi ho bị vãi đái là bàng quang không đủ khí bảo vệ có liên quan đến thận dương.

14-Chứng bàng quang khí bế : (311)

Chức năng khí hoá của bàng quang tắc nghẽn có liên quan đến thận và tam tiêu làm bụng dưới đầy trướng, bí tiểu hoặc khó tiểu thuộc thực chứng.

15-Chứng bàng quang thấp nhiệt : (313)

Do cảm nhiễm thấp nhiệt ở biểu thuộc vệ khí của bàng quang làm bàng quang bệnh có dấu hiệu tiểu nhiều lần, đái vội, lượng ít, đái đau đường niệu, nước tiểu vàng sậm hoặc ra máu, chất lưỡi đỏ, rêu vàng, thường gặp ở bệnh viêm bàng quang cấp tính.

B-CÁC BỆNH THUỘC PHỔI LIÊN QUAN ĐẾN SUY THẬN.

1-Chứng phế hư : (258)

Nói chung phế hư là bao gồm cả phế khí và phế âm không đầy đủ có dấu hiệu hô hấp yếu, thở nông, họng khô, tai ù, chân tay lạnh, tê buốt da…,

2-Chứng phế khí hư : (261)

Có dấu hiệu hen, thở khò khè, âm thanh nhỏ yếu không có sức lực, ngắn hơi, thiếu sức, tự xuất mồ hôi, sắc mặt trắng nhợt nhạt, da khô nhăn, đờm trắng loãng, dễ cảm mạo, sợ gió, sắc lưỡi nhạt, rêu trắng mỏng, nếu để lâu không chữa sẽ có ảnh hưang đến Tỳ khí, tâm khí, thận khí bị hư.

3-Chứng phế hàn : (265)

Có dấu hiệu ho hoặc suyễn hàn , đờm trắng loãng ,da mặt nhợt nhạt, co thắt phế quản, dị ứng, không khát, môi không khô, nặng mí mắt, tức sườn ngực nằm ngửa đau, lưỡi ướt hồng nhạt, rêu trắng mỏng.

4-Chứng phế khí hàn : (266)

Ngực lưng lạnh, ho đờm trắng lỏng trong, bệnh mạn tính thành suyễn hàn, bệnh nặng chỉ ngồi thở, nằm không thở được, lưỡi ướt nhạt.

5-Chứng phế ố hàn : (267)

Là hàn tà xâm nhập trực tiếp vào phế làm tổn thương dương khí phần vệ ở biểu, hoặc bên trong ăn uống các chất hàn làm tỳ vị hư hàn thêm làm hại chức năng thăng thanh giáng trọc của phế.

6-Chứng phế nhiệt điệp tiêu : (272)

Phế có uất nhiệt nung nấu kéo dài làm thành teo (nuy) có hai loại bệnh biến khác nhau :

Phế nuy :
Phổi teo, ho nhổ ra đờm dãi đặc có bọt kèm theo nóng rét, suyễn thở gấp, hồi hộp, môi miệng khô, tinh thần sa sút ủy mị, hoặc kèm theo một số bệnh khác do chữa sai lầm sinh biến chứng làm tân dịch hao tổn trầm trọng, âm hư nội nhiệt tổn thương đến phế khí, hoặc trong phế gặp hư hàn do thời tiết gây bệnh thêm sẽ có dấu hiệu dương hư, người bệnh nhổ ra nhiều dãi mà không ho, nhưng chóng mặt và tiểu són.

Cơ nhục nuy :
Da và cơ bắp chân tay teo khô vô lực không cử động được.

7-Chứng phế khí bế : (275)

Có dấu hiệu nghẹn thở, hông ngực đầy đau lan đến sườn, khí nghịch làm ho, hơi suyễn, phải ngước mặt lên mới thở được, tiểu không thông, có ít mồ hôi, nếu khó thở không nằm ngửa được là có thủy khí nghịch lên tràn dịch màng phổi tạo ra suyễn cấp tính.

8-Chứng phế bế suyễn khái : (276)

Do ngọai tà ủn tắc ở phế làm phế khí uất không thông, có dấu hiệu phát sốt, ho, thở gấp, cánh mũi phập phồng, sắc mặt trắng xanh, môi miệng tím tái, thường gặp ở bệnh trẻ em viêm phế quản, nguyên nhân do phong hàn ở biểu, do phong ôn phạm phế, do hỏa nhiệt bức bách phế, có thêm các dấu hiệu riêng biệt :

Do phong hàn ở biểu :
Phát sốt, sợ lạnh, đau đầu, không mồ hôi, ho như suyễn khí không đờm.

Do phong ôn phạm phế :
Sốt nhiệt, ố hàn hoặc không, có mồ hôi, ho suyễn sườn đau, lưỡi đỏ, rêu hơi vàng.

Do hỏa nhiệt :
Hỏa nhiệt bức bách phế thành sốt nhiệt cao, tự ra mồ hôi, phiền khát, ho thở gấp gáp dồn dập.

9-Chứng phế giãn : (278)

Là chứng co giật thuộc phế, khi lên cơn, sắc mặt trắng sạm, mắt trợn ngược, cổ gáy ưỡn cong, tay xòe, miệng há, lưỡi thè dài ra, kêu be be như tiếng dê, do phế hư nhiễm tà khí tổn thương can thận.

10-Chứng phế lao : (279)

Là một trong ngũ lao của ngũ tạng do phế khí tổn thương, có dấu hiệu ho, ngực đầy, đau vai, sợ lạnh, mặt héo vàng kém tươi, da dẻ khô khan. Nếu có cả ba tạng hư như tỳ hư không nuôi phế, phế hư không nuôi thận, là dấu hiệu của bệnh lao phổi.

11-Chứng phế thận lưỡng hư : (280)

Do hai nguyên nhân khác nhau có dấu hiệu lâm sàng khác nhau :

Do phế thận khí hư:
Phế chủ hô hấp là ngọn của khí, thận chủ nạp khí là gốc của khí. Khi cả hai hư thì ngắn hơi, suyễn thở gấp, người ớn lạnh, tự ra mồ hôi, chân tay lạnh, ho có nhiều đờm, thường gặp ở bệnh viêm phế quản mạn tính, phế khí thủng .

Do phế thận âm hư:
Có nguyên nhân như phế hư không nuôi thận, có nguyên nhân thận hư không hóa khí hoặc hư hỏa hun đốt phế nên có dấu hiệu ho khan, ngắn hơi, họng khô, lưng gối mỏi, nóng âm ỉ trong xương, nóng từng cơn, di tinh, ra mồ hôi trộm, thường gặp ở bệnh lao phổi.

12-Chứng phế thận hư hàn : (281)

Tên gọi khác là kim hàn thủy lãnh vì phế khí hư liên lụy đến thận, hoặc thận dương hư liên lụy đến phế, có dấu hiệu chung khi ho khạc đờm trắng loãng, thở suyễn, sợ lạnh, lưng gối lạnh, thủy thủng.

13-Chứng phế thủy : (282)

Là loại bệnh thủy thủng, trong phổi có hơi nước làm phế khó thở, toàn thân phù thủng, tiểu khó, đại tiện phân nhão lỏng.

14-Chứng phế trướng : (283)

Là phế khí đầy trướng có dấu hiệu ho suyễn, ngực đầy tức do phế khí không giáng, chia hai loại hư và thực, thường gặp ở bệnh viêm phổi, hen phế quản cấp tính, cảm nhiễm đường hô hấp..

Thực chứng :
Có tà khí đọng ở phế làm phế khí không giáng.

Hư chứng :
Phế thận đều hư nên thận không nạp khí của phế làm phế khí không xuống.

C-CÁC BỆNH THUỘC GAN LIÊN QUAN ĐẾN SUY THẬN :

1-Chứng can hư : (316)

Thị lực giảm do không đủ máu nuôi mắt, gân giãn, tay chân yếu, sa xệ trường vị, tử cung dây chằng, sinh dục giảm, nghẹt cứng dưới tim, tiểu nhiều lần do cơ vòng yếu, bụng căng sình, ù tai, thính lực giảm, hoa mắt, choáng váng, tê dại, móng chân tay khô, cảm thấy sợ như có ai bắt, huyết áp giảm. Can hư mãn tính làm ra chứng can cực gây nên co giật run.

2-Chứng can âm hư (Can âm bất túc ): (317)

Do huyết không đủ nuôi dưỡng gan làm đau đầu, chóng mặt, mắt khô, mờ, quáng gà, kinh nguyệt ít hoặc bế, thường gặp trong các bệnh cao áp huyết, bệnh mắt, bệnh thần kinh, bệnh kinh nguyệt. Can âm hư làm can dương bốc lên gọi là can dương thượng cang.

3-Chứng can huyết hư : (318)

Hoa mắt, váng đầu, tim đập nhanh, không sức, mệt mỏi, nhút nhát, suy nhược thần kinh, dễ bị nhiễm trùng gan như bệnh hepatit, móng chân tay ngả mầu tối xanh, sắc lưỡi nhạt, thường gặp trong bệnh xơ cứng động mạch, cao áp huyết, lão suy, bế kinh, tiền mãn kinh, sau khi sanh .

4-Chứng can thực : (319)

Cứng đau sườn ngực lan xuống bụng dưới, đau mắt, chóng mặt, nhức đầu, nóng lạnh, áp huyết tăng, nôn mửa nước chua, ho suyễn, thở kém, gân tay chân co rút, điếc do co thắt, trường vị co thắt, bón, ngoại vi ứ trệ, có bệnh liên quan đến sinh dục, ưa tức giận nổi nóng cáu gắt.

5-Chứng can khí hư : (323)

Khí trong tạng can không đủ cùng xuất hiện can huyết bất túc làm mặt kém tươi, môi nhợt, ù tai, mệt mỏi, hay sợ sệt.

6-Chứng can khí uất nhiệt : (328)

Là can dương uất do tình chí không thoải mái, hay giận, uất ức, hay thở ra, đau đầu, hai bên sườn đau nhói đầy trướng, vùng ngực khó chịu, đau bụng, nôn ợ chua, mắt mờ, đỏ, tai ù, ăn ít, mệt mỏi, kinh nguyệt không đều, bón, tiểu sẻn đỏ, lưỡi đỏ nhạt, rêu trắng hoặc vàng hơi dầy.

7-Chứng can uất tỳ hư : (329)

Can khí uất kết chướng ngại khí hóa của tỳ có dấu hiệu rối loạn tiêu hóa, khi tỳ hư làm đau sườn, chán ăn, trướng bụng, chân tay mỏi mệt, phân lỏng nhão.

8-Chứng can hàn : (332)

Dương khí ở can suy sinh hàn, mệt mỏi, chân tay không ấm, khiếp sợ, ưu uất. Can tàng huyết, huyết bị lạnh sinh sán lãi quấy phá làm đêm mất ngủ, nếu hàn tà tích tụ lâu ở gan làm viêm, ung thư gan, hạ tiêu xuất huyết, kinh nguyệt làm băng, gân mạch bụng đau co rút xuống âm nang, đau tử cung, đau tức hòn dái, viêm tuyến tiền liệt, đau đỉnh đầu, ụa mửa nước trong, lưỡi xanh thâm, rêu trơn.

9-Chứng can huyết hư : (335)

Sắc mặt vàng uá, thị lực giảm, hư phiền, mất ngủ, kinh nguyệt không đều, thường gặp ở bệnh thiếu máu, bần huyết, bệnh thần kinh đau nhức, bệnh mắt, bệnh kinh nguyệt. Can huyết hư sinh phong làm rút gân, chân tay co quắp, da tê, kinh nguyệt ra ít mầu nhạt.

10-Chứng can nhiệt thịnh : (339)

Hỏa thiêu cân, gân bị co rút, sưng đau cổ họng, bốc hỏa lên mắt làm mờ mắt, ngủ không yên sợ mê, phiền giận, tiểu vàng đỏ, môi khô, miệng đắng, đầu lưỡi và bià lưỡi đỏ thâm.

11-Chứng can huyết lao : (340)

Huyết nhiệt tích lâu ngày trong can thận không khí hoá được làm thành huyết khô thường gặp ở bệnh phụ nữ đau bụng kinh, bế kinh, kinh ra ít, khó ra kèm theo dấu hiệu mặt mũi đen sạm, da khô tróc vẩy, gầy yếu, xương nhức âm ỉ, nóng từng cơn, ra mồ hôi trộm, miệng khô, gò má đỏ, hay sợ, đau váng đầu.

12-Chứng can đởm thấp nhiệt : (344)

Hàn nhiệt vãng lai, vàng da, tròng mắt vàng, đau sườn, miệng đắng, lòng buồn rầu, bụng trướng chán ăn, nước tiểu đỏ vàng, rêu lưỡi vàng trơn.

13-Chứng can thận âm hư : (349)

Một trong hai tạng suy đều có ảnh hưởng cả hai, nên dấu hiệu cả hai tạng đều xuất hiện cùng lúc như xây xẩm, tai ù, mắt mờ, lòng bàn tay bàn chân nóng, di tinh, mất ngủ, lưng gối mỏi, lưỡi đỏ ít nước bọt, thường gặp ở các bệnh nhiệt cấp tính thời kỳ cuối, bệnh rối loạn tiền đình, bệnh thiếu máu, bệnh thần kinh, bệnh nội thương, bệnh kinh nguyệt.

D-CÁC BỆNH CỦA TỲ VỊ LIÊN QUAN ĐẾN SUY THẬN :

1-Chứng tỳ khí hư : (218)

Do tỳ khí hư nhược ở tạng người yếu, hoặc lao động vất vả, lại ăn uống kém, hoặc tỳ âm không đủ, có dấu hiệu tiêu hoá kém, bụng đầy, sôi bụng tiêu chảy, bệnh mạn tính làm vàng da, trung tiện, ăn ngủ không ngon, ăn không tiêu, hễ ăn vào bị trướng bụng, nặng nề mệt mỏi, tiêu chảy, gầy ốm, sắc mặt vàng héo hoặc trắng, hơi phù do suy dinh dưỡng, tứ chi lạnh, hay nằm, lười nói, không thích vận động, lưỡi nhợt nhạt rêu trắng.Tỳ hư mạn tính làm ra chứng nhục cực gây ra bệnh cơ bắp mềm yếu, uá vàng ,teo nhỏ.

Khi điều trị, phân biệt hai trường hợp :

Do chức năng tỳ mất vận hóa thì có dấu hiệu bụng đầy, mạch hư.
Do Tỳ hư hạ hãm thì có dấu hiệu tiêu chảy, lỵ, sa xệ các nội tạng, mạch hư nhược.

2-Chứng tỳ âm hư : (219)

Là chỉ tỳ và vị âm hư có nghĩa âm dịch ở tỳ vị không đủ để làm nhiệm vụ thu nạp và chuyển hoá, có dấu hiệu môi miệng khô, miệng nhạt vô vị, ăn kém, thích uống nước, đại tiện táo kết, lưỡi đỏ rêu ít và khô hoặc lưỡi sáng trơn.

3-Chứng tỳ dương hư : (220)

Là chỉ tỳ vị hư hàn, do tỳ khí hư hoặc do ăn thức ăn nguội lạnh, có dấu hiệu vị quản lạnh đau, bụng đầy trướng, mắc nghẹn, nôn oẹ, kém ăn, iả chảy hoặc lị kéo dài mệt mỏi, tiểu ít, phù thủng, gầy còm, lưỡi nhợt nhạt, rêu trắng, thường gặp ở bệnh loét bao tử, loét ruột, viêm gan mạn tính, lị mạn tính, thủy thủng, bạch đới.

4-Chứng tỳ thực : (222)

Bụng căng có nước trong ổ bụng làm khó thở, ngực nặng, bức rứt tim, cẳng chân nóng, trúng thực nôn mửa, chân tay gầy nhưng cảm thấy nặng nề, mỏi bắp thịt, do đường trong máu cao làm miệng khô, cổ khát sinh bệnh tiêu khát, đái láu, tiểu đường.

5-Chứng tỳ hàn thấp : (224)

Do ăn uống thức ăn lạnh hoặc do cảm mưa lạnh, khí hậu ẩm thấp hại tỳ, có dấu hiệu bụng trướng, buồn nôn, phân lỏng, tiểu ít, phụ nữ ra huyết trắng nhiều.

6-Chứng tỳ nhiệt : (225)

Môi đỏ, họng khô, ợ chua, chóng đói, chân răng sưng chảy máu, mồ hôi trộm, đại tiện bí kết, tiểu ít, nước tiểu vàng đậm do nhiệt tà hoặc do ăn nhiều thức táo nhiệt gây nên nhiệt chứng hoặc do viêm nhiễm ở gan mật ruột làm nhiệt khiến bao tữ nóng.

7-Chứng tỳ bị thấp tà : (226)

Ðầu nặng như đè, bụng trướng đầy, không thích uống nước, thân nặng nề mệt mỏi, phiền muộn, không đói, miệng đầy nhớt có vị ngọt, iả chảy, bí tiểu, mạn tính sinh bệnh vàng da, lưỡi ướt nhầy, rêu lưỡi trắng trơn.

8-Chứng tỳ vị thấp nhiệt : (228)

Thấp nhiệt nung nấu ở tỳ vị có dấu hiệu mặt và thân thể đều vàng, bụng trướng, căng tức, trung quản tức đau, ăn uống giảm, lợm giọng, mệt mỏi, tiểu ít mà nước tiểu mầu vàng nghệ, rêu lưỡi vàng nhớt, thường gặp ở bệnh viêm gan,vàng da, các bệnh cấp tính về gan mật, bệnh ngoài da như thấp chẩn, bỏng rạ…

9-Chứng tỳ khí hư (hạ hãm): (229)

Có dấu hiệu mệt mỏi, uể oải thích nằm, chân tay yếu sức, thân gầy hoặc phù, ăn uống kém, khó tiêu, bụng trướng đầy, iả lỏng, nặng thì đại tiểu tiện ra máu, mặt vàng héo, chóng mặt, rêu lưỡi trắng nhạt, thường gặp ở bệnh loét bao tử, đường ruột, lỵ mạn tính và bần huyết.

10-Chứng tỳ khí bất nạp : (230)

Chức năng tiêu hóa kém do can khí, do thấp tà làm hại tỳ dương, do ăn uống không phù hợp với tình trạng khí hóa của tỳ làm tổn thương tỳ vị bị ủng trệ làm vùng bụng và trung quản căng đầy trướng tức không tiêu hóa được sinh chán ăn.

11-Chứng tỳ dương bất túc (tỳ dương hư ) : (232)

Ðau bụng ngầm thích xoa, thích uống nước nóng, ăn không tiêu, hễ ăn thức ăn sống lạnh đau bụng ngay, nước phân trong, tay chân teo gầy, thân nặng nề, phù thủng, mệt mỏi, da không ấm, sợ lạnh, tiểu bí, lưỡi dầy rêu trắng nhạt.

12-Chứng tỳ thận dương hư : (239)

Có dấu hiệu tay chân lạnh, iả lỏng, phù thủng, do thận dương hư không làm ấm tỳ dương.

13-Chứng tỳ thất kiện vận : (240)

Tỳ chủ vận hóa dưỡng trấp và thủy dịch, nếu tỳ dương hư làm mất chức năng kiện vận làm rối loạn tiêu hóa, sôi bụng, iả chảy, kém ăn. Bệnh mạn tính có dấu hiệu mặt vàng, teo cơ, chân tay vô lực, hoặc dưỡng trấp hóa đờm, hoặc thủy bị ứ thành phù thủng.

14-Chứng vị hư : (244)

Bụng no, ợ hơi, sôi ruột, không thích ăn, vì ăn vào không tiêu sẽ bị tiêu chảy, mặt sưng húp, khô môi miệng,tân dịch khô, huyết kiệt gây nấc cục, nghẹn, sợ lạnh, chân lạnh, người nặng nề dễ mệt, lưỡi nhạt,rêu ít, giữa lưỡi rách nứt.

15-Chứng vị âm hư : (245)

Tỳ có thấp nhiệt làm tổn thương âm chất do vị hỏa thịnh làm vị âm bất túc gọi là vị âm hư khiến môi miệng khô ráo, ăn không biết ngon hoặc đói bụng mà không muốn ăn, oẹ khan và nấc, đại tiện táo, tiểu sẻn, có sốt nhẹ, giữa lưỡi đỏ khô, rêu ít, do bệnh nhiễm trùng, sốt làm tổn thương tân dịch sinh ra vị khí yếu, thường gặp ở bệnh viêm phổi, viêm bao tử mạn tính, rối loạn tiêu hoá, bệnh tiểu đường.

—>Xem tiếp Phần 4