NGUYÊN NHÂN BỊ MỔ MẮT, MỔ TIM, LỌC THẬN DO BỆNH TIỂU ĐƯỜNG …: Phần 2

NGUYÊN NHÂN BỊ MỔ MẮT, MỔ TIM, LỌC THẬN
DO BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

CÁCH ĐỀ PHÒNG VÀ CÁCH CHỮA

PHẦN 1 : Những nguyên nhân làm suy thận
PHẦN 2 : Cấp độ suy thận và cách thử nghiệm theo Tây y
PHẦN 3: Nguyên nhân bệnh thận theo Đông y
PHẦN 4 : Cách chữa theo phương pháp của Tây y
PHẦN 5 : Cách chữa theo phương pháp của Đông y Khí công
PHẦN 6 : Những bệnh không được uống nhiều nước
theo ngành Y Học Bổ Sung Khí Công Y Đạo
PHẦN 7 : Tham khảo các bài thuốc chữa thận theo Đông y
PHẦN 8: Chia xẻ kinh nghiệm chữa bệnh để mọi người tin tưởng có thể tự chữa
PHẦN 9 : Những khám phá mới về nước ép Câu Kỷ Tử

0006

PHẦN 2 : CẤP DỘ SUY THẬN VÀ CÁCH THỬ NGHIỆM THEO TÂY Y :

Phần này có lợi cho những người đã đi xét nghiệm máu trên giấy liệt kê kết quả những thành phần máu được ghi H (high = cao hơn tiêu chuẩn) hay L (low=thấp hơn tiêu chuẩn) để biết có ý nghĩa như thế nào, bệnh gì, giúp mình biết cách phòng bệnh, tự điều chỉnh cách ăn uống và tập luyện bổ sung cho thuốc uống để bệnh mau hồi phục.

A-CÓ 4 CẤP ĐỘ SUY THẬN :

Tây y phân loại suy thận dựa trên 2 yếu tố xét nghiệm creatinin trong máu và trong nước tiểu so sánh với tiêu chuẩn chức năng mức lọc cầu thận (=mạch máu trong thận) còn khỏe chưa bị bệnh:

Bệnh viêm thận thì máu vào thận ít làm tăng áp huyết.

Áp huyết giảm làm áp lực mao mạch cầu thận giảm nên bài tiết ít nước tiểu, các chất dộc không được thải ra ngoài làm bị choáng cũng làm suy thận.

Tuyến thượng thận tiết ra adrenalin, nếu tiết ra ít sẽ làm giãn động mạch vào và co động mạch ra của cầu thận, nên áp lực máu trong tiểu cầu thận tăng thì bài tiết nước tiểu tăng.

Thận tiếp nhận nhánh dây thần kinh phó giao cảm và giao cảm của phế vị sẽ làm co mạch ở thận, làm giãn hoặc ngưng bài tiết nước tiểu.

Dấu hiệu thông thường của suy thận như nôn, buồn nôn, lú lẫn, hôn mê, đau lưng, tiểu ra máu.

Xét định mức độ suy thận phải qua xét nghiệm máu và nước tiểu :

Được chẩn đoán suy thận là cơ co bóp thận không đủ sức co bóp hút để lọc máu và nước được nhiều như trước mà càng ngày càng ít đi, mà creatinin tăng dần, tùy theo lượng máu và nước qua thận thì chúng ta có thể biết được chức năng thận suy ở mức độ nào theo bảng tiêu chuẩn dưới đây :

1-Suy thận độ 1 :
Dung dịch máu được lọc 60-41ml/phút creatinin 107-129mcmol/l= 1,3-1,4mg/dL
có lượng máu hơi thiếu không đáng kể.

2-Suy thận độ 2 :
Dung dịch máu được lọc ít dần 40-21ml/phút creatinin tăng dần 130-299mcmol/l=1,5-3,4mg/dL có thiếu máu nhẹ.

3-Suy thận độ 3a :
Dung dịch máu được lọc ít dần 20-11ml/phút, creatinin tăng cao hơn 300-499mcmol/l=3,5-5,9mg/dL, có dấu hiệu chán ăn, thiếu máu vừa.

4-Suy thận độ 3b :
Dung dịch máu được lọc 10-5ml/phút creatinin 500-900mcmol/l=6.0-10mg/dL
chán ăn, thiếu máu nặng, chỉ định lọc máu.

5-Suy thận độ 4 :
Dung dịch máu được lọc ít nhất 5 ml/phút creatinin cao hơn 900mcmol/l= cao hơn 10mg/dL
Thiếu máu trầm trọng, urê-máu cao, chức năng thải lọc của thận còn 10-15% bắt buộc phải lọc thận.

B-CREATIN VÀ CREATININ LÀ GÌ :

Tây y định nghĩa creatin có nhiều trong thịt đỏ, là một hợp chất bổ cần thiết, giúp cung cấp năng lượng cho cơ thể, do thức ăn cung cấp và được chức năng của gan, tụy, thận, chuyển hóa sản xuất thành một chất có năng lượng cao gọi là ATP (viết tắt của adenosin tri-phosphate) để được dẫn đến nuôi cơ bắp qua đường máu giúp phát triển cơ, khi nó đến cơ, nó chuyển hóa thành phosphocreatin (creatine-phosphate) làm tăng sức mạnh cơ bắp chịu đựng được việc vận động lâu hơn, cần thiết cho các lực sĩ. Khi cơ thể tập luyện, năng lượng ATP giảm xuống thấp dần thì creatin chịu trách nhiệm phục hồi lại mức ATP cho cơ thể. Creatin điều chỉnh acid trong tế bào, nhất là acid lactic làm giảm sự mỏi cơ, điều hòa mức calci giúp điều khiển sự co giãn cơ, giúp cho các vận động viên tăng khả năng tập luyện lâu bền dẻo dai hơn, tăng sức mạnh cho cơ bắp.

Lượng creatin có khoảng 140mg/100gr cơ đang hoạt động, giống như chất glutathione là 2 chất chống oxy hóa tự nhiên do cơ thể sinh sản giúp cơ thể chống lại những gốc tự do có hại cho cơ thể, tây y thường cho dùng thêm các vitamin B2, B6, B9, B12 giúp creatin trong qúa trình chuyển hóa methyl giúp tế bào phát triển khỏe mạnh, nhất là tế bào cơ bắp, cơ tim, thận, bao tử…nhưng nếu cơ thể thiếu vận động cơ bắp thì qúa trình chuyển hóa không tốt, tế bào sẽ trở thành ung thư.

Khi cơ bắp mệt mỏi do tăng acid thì chất creatin giúp điều tiết acid cân bằng độ pH, điều hòa chất vôi calci trong các mô co giãn của cơ.

Trung bình, cơ thể người chứa 120 grams creatin và 95% lượng creatin này nằm trong cơ bắp. Nhưng khi vận động nặng, cơ thể có thể dung nạp thêm đến 30-40grams cùng với đường glucose..

Theo tây y, các vận động viên cần dung nạp creatin và đường glucose để nuôi cơ bắp hoạt động tốt sau khi tập luyện theo một chế độ hướng dẫn sau :

Sáng 5gr creatin với nước trái cây hay nước đường glucose.
Trước khi tập 5gr vối nước đường hoặc đường
Sau khi tập, 5gr với Carb-Glycemic và Whey protein.
Tối, 5gr với nước trái cây hay nước đường.

Tuy nhiên, chất creatin có nguồn gốc từ thức ăn gọi là ngoại sinh, còn nội sinh do gan tổng hợp từ arginin và methionin hiện diện trong máu, cung cấp cho các cơ bắp hoạt đõng co bóp không mệt mỏi và chất thải từ cơ bắp là creatinin, do sự phân hủy hợp chất creatin, hay ngược lại ăn dư thừa creatin mà cơ thể không được vận động thì creatin cũng bị thoái biến trong các cơ, bị phân hủy thành creatinin nằm trong máu và chất này được đưa trở lại tuần hoàn, rồi được thải trừ qua thận, nên creatinin cũng có trong nước tiểu sẽ làm suy thận. Vì vậy, tây y căn cứ vào lượng creatinin cao hay thấp trong máu và trong nước tiểu để đánh giá mức đõ suy thận.

Ở thận, creatinin được lọc qua cầu thận và không được ống thận tái hấp thu. Vì vậy, giá trị của creatin phản ánh toàn bộ khối cơ của cơ thể, trái lại giá trị của creatinin phản ánh chức năng cơ co bóp lọc thận của bệnh nhân.

Dấu hiệu bệnh khi gia tăng creatinin có thể hơi sốt nhẹ, mệt mỏi, phù nề quanh mắt và mặt, tay chân, mất cảm giác ngon miệng, thay đổi cân nặng, đau đầu, khó thở, đau lưng dưới, nước tiểu có bọt, lượng nước tiểu giảm, và tinh thần mệt mỏi.

D-CÁCH XÉT NGHIỆM ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ SUY THẬN :

Xét nghiệm creatinin trong máu được sử dụng cùng với xét nghiệm Urea, còn được gọi BUN (urea nitrogen Blood ) để đánh giá chức năng lọc của thận.

Cách thử nghiệm định bệnh suy thận trong phòng thí nghiệm tính theo hệ số thanh thải của creatinin ( viết tắt creat.) khi lấy mẫu nước tiểu ( viết tắt U.creat), thể tích nước tiểu trong 24 giờ, (viết tắt V), và máu (viết tắt P.creat)

V: là lượng nước tiểu trong một phút (ml/phút), là lượng nước tiểu đong được trong 24 giờ qui ra ml chia cho số phút trong một ngày (24 x 60= 1440 phút). Ví dụ: Nước tiểu đong được 1,2 l/24h thì V = 1200/1440 = 0,833 ml/ phút.

Hệ số thanh thải của creatinin = U creat x V/P creat.

Cách này có thể bị sai khi không có sự hợp tác của bệnh nhân để lấy đủ nước tiểu trong 24 giờ..

Cách tính thứ hai theo tuổi và trọng lượng cơ thể bệnh nhân :

Hệ số thanh thải của creatinin = (140 – tuổi) x trọng lượng cơ thể (kg) /7,2 x P.creat (mg/dL)

Hệ số thanh thải tốt = Nam : 80-120ml/phút. Nữ : 70-100ml/phút

đối với bệnh nhân nữ phải nhân lấy kết qủa 85%.

Có 2 loại creatinin trong máu và trong nước tiểu trong tiêu chuẩn bình thường :

1-creatinin huyết thanh :
Nam 0,7-1,3mg/dL hay 62-115mcmol/l
Nữ : 0,5-1,0mg/dL hay 44-88mcmol/l
Trẻ em : 0,3-1.0mg/dL hay 26-88mcmol/l

2-creatinin niệu :
Nam : 1-2g/24gio72 hay 20-25mg/kg/24 giờ
Nữ : 0,8-1,5g/24 giờ hay 15-20mg/kg/24 giờ

Có 2 loại creatin trong máu và trong nước tiểu :

1- creatin huyết thanh : 0,2-0,9mg/dL hay 15-69mcmol/l
2- creatin niệu : 2-5mg/kg/24 giờ

E-SUY THẬN NGUYÊN NHÂN TĂNG CREATININ TRONG MÁU :

Tây y phân loại bệnh lý của thận trong 3 trường hợp riêng có nguyên nhân khác nhau :

1-Suy thận nguồn gốc trước thận :
Nguyên nhân do : suy tim, mất nước giảm khối lượng tuần hoàn do dùng thuốc hạ áp huyết và thuốc lợi tiểu, xuất huyết làm mất máu, hay hẹp động mạch thận.
(Theo đông y là chứng tâm hỏa hư)

2-Suy thận nguồn gốc thận :
Nguyên nhân do tổn thương cầu thận, tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh nhiễm amyloid thoái hóa dạng tinh bột, viêm cầu thận, bệnh lupus ban đỏ, do thuốc ức chế men chuyển hóa angiotensin, lắng đọng men kháng thể hồng cầu IgA ( immunoglobulin A) tại cầu thận làm sưng thân, sưng chân, tổn thương ống thận, viêm thận cấp hay mãn, viêm nhú thận do đái tháo đường, sạn thận, đa u tủy xương, tăng calci máu, tăng ure máu, do các loại hóa chất độc từ thuốc…
(Theo đông y là thận âm dương lưỡng hư)

3-Suy thận nguồn gốc sau thận :
Nguyên nhân do sạn thận, ung thư tuyến tiền liệt, khối u bàng quang, khối u tử cung, xơ hóa sau phúc mạc.
(Theo đông y can tỳ hư)

F-GIẢM NỒNG ĐỘ CREATININ TRONG MÁU :

Nguyên nhân do hòa loãng máu, hội chứng tiết hormon chống bài niệu (=antidiuretic-hormon ADH) không thích hợp, suy dinh dưỡng nặng, do bệnh teo mô cơ, có thai.

Các thuốc có thể làm giảm nồng độ creatinin máu là: Cefoxitin, cimetidin, chlorpromazin, marijuana, thuốc lợi tiểu, nhóm thiazid, vancomycin.

G-URE MÁU VÀ URE NIỆU :

Urê được tổng hợp ở gan từ CO2, NH3, ATP.CO2, là sản phẩm thoái hóa của protid. Trong lâm sàng, xét nghiệm urê máu và nước tiểu được làm nhiều để đánh giá chức năng lọc cầu thận và tái hấp thu ở ống thận. Tuy nhiên, xét nghiệm này bị ảnh hưởng của chế độ ăn như khi ăn giàu đạm (tăng thoái hóa các aminoacid) thì kết quả tăng sẽ sai lệch.

Bình thường:

Nồng độ urê máu: 3,6 – 6,6 mmol/l.

Nồng độ urê nước tiểu : 250 – 500 mmol/24h.

Bệnh lý:

Urê máu tăng cao trong một số trường hợp suy thận, viêm cầu thận mạn, u tiền liệt tuyến.

Urê máu 1,7 – 3,3 mmol/l (10 – 20 mg/dl) chỉ ra chức năng thận bình thường.

Urê máu 8,3 – 24,9 mmol/l (50 – 150 mg/dl) là tình trạng suy chức năng thận nghiêm trọng.

Xét nghiệm máu creatinin được sử dụng cùng với xét nghiệm urea, còn được gọi BUN (urea nitrogen Blood) để đánh giá chức năng thận.

Nếu các xét nghiệm creatinin và BUN kết quả bất thường hoặc nếu có bệnh tiểu đường, ảnh hưởng đến thận, sau đó hai xét nghiệm này có thể được sử dụng để theo dõi sự tiến triển của rối loạn chức năng thận.

Tỉ lệ urê/creatinin máu bình thường nằm trong khoảng 6:1 đến 20:1.

Đề phòng suy thận, cần theo dõi nồng độ urê và creatinỉn máu trước khi dùng bất kỳ một thuốc nào được biết có thể gây độc cho thận.

Như đối với bệnh tiểu đường loại 2 đang dùng thuốc Metformin phải thử nồng độ creatinin máu mỗi năm 1 lần, vì thuốc có thể lảm suy thận gây nhiễm acid lactic.

Đa số bệnh nhân lớn tuổi có bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp, bị kết tội oan là suy thận mạn trong khi suy thận cấp hoặc đợt cấp suy thận mạn hoàn toàn có thể hồi phục trở lại chức năng thận ban đầu.

H-CÁC CHẤT ĐIỆN GIẢI :

K+ bình thường : = 3,5 – 5,5 mmol/l.

Nều tăng cao hơn là bệnh viêm thận, suy chức năng vỏ thượng thận làm giảm sự đào thải K+ qua thận.

Nếu giảm thấp hơn tiêu chuẩn, do mất Kali gây ra bởi bệnh nhiễm cetonic trong bệnh tiểu đường do thận có dấu hiệu lúc đầu tăng K+ vì nhiễm acid pH thấp và suy thận, nhưng sau khi điều trị tiểu đường bằng insulin hết nhiễm acid thì bài tiết của thận tốt lại làm K+ giảm cũng gây ra suy thận, giảm K+ cũng do lạm dụng thuốc lợi tiểu làm suy thận.

Protein toàn phần trong huyết tương bình thường= 60 – 80 g/l. Là chức năng lọc của cầu thận tốt

Nếu giảm thấp hơn nguyên nhân do màng lọc cầu thận bị tổn thương trong bệnh viêm thận, viêm cầu thận mạn, thận nhiễm mỡ.

Protein nước tiểu 24 giờ bình thường = 0 – 0,2 g/24h.

Protein có trong nước tiểu chủ yếu gặp trong các bệnh thận, gặp khi màng lọc cầu thận bị tổn thương, các lỗ lọc rộng ra, protein (albumin) lọt qua.

Đặc điểm của protein niệu do bệnh thận thường > 0,3 g/l.

Tăng protein niệu gặp trong các bệnh thận như:

Tăng cao nhất trong thận hư nhiễm mỡ: từ 10 – 30 g/24h, có thể cao hơn (50g/24h).

Nếu protein niệu > 2g/24h kéo dài nhiều ngày cần theo dõi và chú ý tới hội chứng thận hư.

Viêm cầu thận cấp do nhiễm độc thuốc hoặc hóa chất độc.

Hoại tử do thủy ngân (Hg): tăng 20 – 25 g/24h.

Viêm tiểu cầu thận: thường lớn hơn 2 – 3 g/l.

Viêm thận – bể thận mạn: Thường thấy xuất hiện protein niệu gián đoạn, ở mức 1 – 2 g/l.

Ngoài ra, protein niệu còn gặp trong bệnh xơ cứng thận, xung huyết thận, cao huyết áp ác tính.

Nguyên nhân có protein niệu trong bệnh thận là do tổn thương màng siêu lọc cầu thận làm tăng tính thấm cầu thận đối với protein.

Tỷ trọng nước tiểu

Xác định tỷ trọng nước tiểu dựa trên sự giải phóng proton (H+) từ polyacid với sự có mặt của các cation có trong nước tiểu. Proton (H+) được giải phóng gây ra sự thay đổi màu của chất chỉ thị bromothymol bleu từ xanh đến xanh lục rồi tới vàng. Cường độ màu tỷ lệ tỷ trọng niệu.

Tỷ trọng nước tiểu bình thường: 1,01 – 1,020 (nước tiểu 24h của người lớn ăn uống bình thường có tỷ trọng từ 1,016 – 1,022).

Xét nghiệm này nhạy với các giai đoạn sớm của giảm chức năng thận, nhưng một kết quả bình thường cũng không thể loại trừ các bệnh lý khác của thận. Nó không chính xác trong các trường hợp mất cân bằng nước-điện giải nghiêm trọng, chế độ ăn kiêng ít protein, chế độ ăn nhạt, các bệnh mạn tính của gan, phụ nữ mang thai…

I-PHÂN BIỆT HAI LOẠI SUY THẬN CẤP VÀ MẠN :

1-SUY THẬN CẤP : Có 3 giai đoạn :

a-Giai đoạn sớm :
Có dấu hiệu nước tiểu ít, dưới 50ml/ngày trong vòng 2 tuần, ure-máu tăng từ 21mg-49mg/dL (3.4-8.2mmol/l), creatinin máu tăng, hạ calci-máu, có thề tăng men tiêu hóa amylase và lipase trong máu ở tụy tạng, amylase là chất men có trong tụy và tuyến nước bọt giúp chuyển hóa thức ăn thành đường, và lipase cũng có trong tụy giúp chuyển hóa chất béo, và có dấu hiệu nhiễn acid chuyển hóa.

b-Tuần thứ hai :
Sau vài ngày có dấu hiệu sớm thì lượng nước tiểu trong và tăng nhiều, vài ngày sau ure-máu tăng kèm theo mức độ nhiễm acid chuyển hóa tiếp tục tăng, thận mất chức năng thải Kali-máu làm tăng kali-máu nhiều hơn 9mmol/l.

c-Giai đoạn 3 đa niệu :
Tiểu nhiều loại kali trong nước tiểu làm giảm nồng độ kali-máu, nồng độ Na-niệu giảm (50-70mmol/l), tăng calci máu nếu bị tổn thương cơ, và làm tăng cao đường huyết trong bệnh đái tháo đường do thận. (tiểu đường loại 3)

2-SUY THẬN MẠN

Ở giai đoạn đầu của suy thận mạn (độ 1, độ 2): chỉ biểu hiện nhẹ và vừa, triệu chứng lâm sàng không rõ như chán ăn, thiếu máu nhẹ, mệt mỏi, tức hai bên hố lưng. Trong giai đoạn này bệnh nhân thường không biết là mình đã bị suy thận.

Giai đoạn 3: bệnh đã nặng, các biểu hiện lâm sàng bắt đầu xuất hiện rõ bao gồm: chán ăn, buồn nôn, nôn, nấc cục, xuất huyết tiêu hóa, xanh xao, tăng huyết áp, đau đầu, phù nề mí mắt, ngứa, nặng hơn là khó thở, lơ mơ, co giật, hôn mê, dung dịch máu được lọc giảm xuống dưới 20 ml/phút, creatinin máu tăng trên 300 micromol/l.

Giai đoạn 4 là suy thận nặng, có đầy đủ các biểu hiện về lâm sàng của suy thận về tiêu hoá, tim mạch, thần kinh, da và máu.

Chức năng thận giảm có dấu hiệu hay đi tiểu đêm, tiểu nhiều, uống nước nhiều

Urê và creatinin máu tăng, có protein-niệu, tiểu ra máu có hồng cầu niệu và bạch cầu niệu làm nước tiểu mầu đục lẫn máu.

Tỷ lệ của BUN/ creatinin bình thường là 10:1 hay 20:1 ( Nếu dùng tỉ lệ Urea/Creatinin ). Một tỷ lệ tăng có thể là do nguyên nhân gây ra sự suy giảm dòng chảy của máu đến thận, chẳng hạn như suy tim, sung huyết hoặc mất nước. Nó cũng có thể được nhìn thấy khi tăng tiêu thụ protein qua ruột do xuất huyết tiêu hóa, hoặc tăng protein trong chế độ ăn uống. Tỷ lệ có thể được giảm với bệnh gan (do giảm sự hình thành urê) và suy dinh dưỡng.

Hồng cầu-niệu (trong nước tiểu có hồng cầu) cũng do bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp

Natri máu giảm: việc giảm Na+ máu thường kèm theo tăng Na+ trong nước tiểu. Ngược lại Kali-máu tăng, nhiễm acid do giảm NH4 và mất nhiều bicarbonat, calci-máu giảm do giảm hấp thụ calci ở ruột và do giảm albumin máu, tăng phosphat máu khi độ thanh thải creatinin giảm còn khoảng 25ml/phút.

Creatinkinase-máu (CK) là loại men chuyển hóa năng lượng cho tế bào cơ tim, cơ xương, và trong não có thể tăng.

Khi thận suy thường thấy tăng mỡ xấu như triglycerid, cholesterol do tăng lipid-máu.

Protein-niệu tăng hơn 4,5g/24 giờ trong bệnh thận nhiễm mỡ làm tăng albumin-niệu, nhưng albumin-máu giảm thường dưới 25g/l, và protein máu giảm dưới 50g/l.

Creatinin cũng được đo cùng với protein để tính toán tỷ lệ protein / creatinin nước tiểu (UP / CR) và nó cũngđược đo cùng với microalbumin để tính microalbumin / creatinin (còn được gọi là tỷ lệ albumin / creatinin). Các xét nghiệm này được sử dụng để đánh giá chức năng thận cũng như để phát hiện các rối loạn đường tiết niệu khác.

Nồng độ creatinin trong máu tăng là nguyên nhân gây ảnh hưởng đến chức năng thận bao gồm:Viêm mạch máu trong thận (viêm cầu thận), do nhiễm trùng hoặc các bệnh tự nhiễm, viêm thận bể thận do vi trùng, viêm hoại tử ống thận gây ra tế bào chết trong ống thận do thuốc, tắc nghẽn đường tiết niệu do u tuyến tiền liệt, bệnh sạn thận, hoặc nguyên nhân khác, giảm lưu lượng máu đến thận do sốc, mất nước, suy tim sung huyết, xơ vữa động mạch, hoặc các biến chứng của bệnh tiểu đường.

Chấn thương cơ bắp cũng có thể làm tăng tạm thời creatinin trong máu không thuộc bệnh suy thận.

—>Xem tiếp Phần 3