NGUYÊN NHÂN BỊ MỔ MẮT, MỔ TIM, LỌC THẬN DO BỆNH TIỂU ĐƯỜNG …: Phần 1

NGUYÊN NHÂN BỊ MỔ MẮT, MỔ TIM, LỌC THẬN
DO BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

CÁCH ĐỀ PHÒNG VÀ CÁCH CHỮA

PHẦN 1 : Những nguyên nhân làm suy thận
PHẦN 2 : Cấp độ suy thận và cách thử nghiệm theo Tây y
PHẦN 3: Nguyên nhân bệnh thận theo Đông y
PHẦN 4 : Cách chữa theo phương pháp của Tây y
PHẦN 5 : Cách chữa theo phương pháp của Đông y Khí công
PHẦN 6 : Những bệnh không được uống nhiều nước
theo ngành Y Học Bổ Sung Khí Công Y Đạo
PHẦN 7 : Tham khảo các bài thuốc chữa thận theo Đông y
PHẦN 8: Chia xẻ kinh nghiệm chữa bệnh để mọi người tin tưởng có thể tự chữa
PHẦN 9 : Những khám phá mới về nước ép Câu Kỷ Tử

0006

Cảnh báo cho những người bệnh tiểu đường do kiêng đường và tiêm insulin lâu dài khiến đường xuống qúa thấp gây ra biến chứng mù mắt, suy tim phải mổ tim, suy thận phải lọc thận.

Chúng ta cần phải suy xét lại biến chứng của bệnh tiểu đường bị mổ mắt, mổ tim, lọc thay thận có trước khi uống thuốc trị tiểu đường hay sau khi uống thuốc trị tiểu đường ? sau khi nghiên cứu kỹ 4 giai đoạn này để biết rõ đâu là sự thật :

Giại đoạn 1 :

Chưa bị kết án có bệnh tiểu đường, đường huyết cao từ 8-12mmol/l, người vẫn khỏe, vẫn năng động, thừa năng lượng làm việc, không bệnh tật, và hiện nay những người này không đi khám, không chữa bệnh tiểu đường bốn chục năm như tôi chưa hề bị bệnh và những ai có lượng đường 8-12mol/l chưa thấy ai bị biến chứng tiểu đường làm mù mắt, suy tim, lọc thay thận, vì sau khi hoạt động nặng, thể dục thể thao, vận động cơ thể, sẽ mất năng lượng, đường huyết tụt thấp khi cơ thể xuất mồ hôi thì đường huyết xuống còn 6mmol/l, cơ thể mệt, thèm đường lại thích uống đường, ăn ngọt phục hồi năng lượng lên 8-12mmol/l, để có sức khỏe vận động hàng ngày, luôn giữ đường ở mức thấp nhất là 6 cao nhất là 12mmol/l , tập thể dục thể thao đều đặn thì không bao giờ bị bệnh tật.

Đường cao từ 8-12mmol/l chỉ nguy hiểm đối với những người già nằm nhà già, hay lười vận động, cứ ăn rồi nằm đường huyết bữa ăn sáng chưa tiêu lại thêm đường có trong thức ăn chiều, làm lượng đường trong máu tích lũy càng cao dần đến trên 20-30mmol/l mới có những biến chứng hoại tử da, phải cưa chân, mờ mắt, cũng làm suy tim, thận.

Giai đoạn 2 :

Bị tây y tuyên án bị bệnh tiểu đường cao so với tiêu chuẩn tây y đường phải dưới 6mmol/l mới tốt, trên 6,5 mmol/l là phải uống thuốc hạ đường. Những bệnh nhân này bị hoảng sợ và cho rằng mình may mắn, hạnh phúc được phát hiện ra mình bị tiểu đường sớm.

Giai đoạn 3 :

Từ khi uống thuốc hạ đường xuống dưới 6.0mmol/l, tinh thần vẫn vui vẻ, càng thấy hạnh phúc hơn khi đường huyết trong khoảng 5-6mmol/l, cho đến khi đường huyết xuống dưới 5mmol/l tự cảm thấy chóng mặt, tim hồi hộp, không dám đi xa, mất sức thiếu năng lượng hoạt động, mắt mờ, ù tai, suy tim, sưng phù, không biết là mình đang trở thành người có bệnh đường thấp (hypoglycemie) do hậu qủa của thuốc chữa bệnh tiểu đường đang làm hại tim mạch, mắt mờ, mệt mỏi, chứ không còn là do bệnh đường huyết cao.(hyperglycemie)

Biến chứng này có sau khi dùng thuốc chữa tiểu đường mà trước kia ở giai đoạn 1 chưa bị phát hiện bệnh tiểu đường thì cơ thể vẫn khỏe mạnh hoạt động hăng hái, đi xa không bị mệt như bây giờ, không bị mờ mắt hại tim, suy thận như bây giờ, làm nhiều người chưa bị bệnh tiểu đường hiểu lầm là ông A bà B bị bệnh tiểu đường bây giờ bị mổ tim, mổ mắt, hư thận… Thật ra không do đưởng cao mà do nguyên nhân đường huyết thấp, khiến những người khác sợ bị bệnh tiểu đường nên cũng kiêng đường lại dẫn đến bệnh khác là thiếu máu thiếu đường tế bào không được nuôi dưỡng đầy đủ trở thành tế bào ung thư chứ không cần phải dùng thuốc chữa bệnh tiểu đường mà bị biến chứng của thuốc tiểu đường phải mổ tim, lọc thận.

Giai đoạn 4 :

Tiêm thuốc insulin hết hiệu lực mặc dù kiêng đường, mà đường huyết càng ngày càng cao do thoái hóa dạng tinh bột làm tăng đường, làm dầy vách thành tim, dầy vỏ thận, bít màng lưới lọc thận trở thành thận chết gây phù nề, phải lọc thận hay thay thận.

Các vị đang dùng thuốc chữa bệnh tiểu đường cần suy nghĩ lại cách dùng thuốc chữa tiểu đường để đề phòng biến chứng kể trên :

Khi đo đường cao thì uồng, khi đường thấp 6.0mmo/l =100mg/dL thì ngày hôm đó ngưng uống, mục đích chữa tiểu đường chỉ là điều chỉnh lượng đường huyết không cao quá 10mmol/l, không thấp quá 6.0mmol/l thì không bao giờ sợ biến chứng suy tim, lọc thận.

PHẦN 1 : NHỮNG NGUYÊN NHÂN LÀM SUY THẬN

1-THIỀU MÁU

Dấu hiệu suy thận theo tây y là cơ thể suy nhược mệt mỏi nhanh chóng do thiếu máu.

Khi thận khỏe mạnh tạo ra hormon tên erythropoietin giúp cơ thể tạo ra nhiều tế bào hồng cầu mang oxy nuôi cơ và nuôi não. Thận suy sẽ sản xuất ít hormon này thì cơ thể thiếu tế bào hồng cầu mang oxy khiến cơ thể thiếu máu. Theo đông y là chứng hỏa thủy bất giao tâm thận hư.

Dấu hiệu thiếu lượng máu tuần hoàn là số tâm trương đo áp huyết bên tay phải thấp dưới 60mmHg, thí dụ 110/60mmHg nhịp tim cao hơn 100 có cảm giác trong người khô nóng mà ngoài tay chân da lạnh, nên đông y gọi là chứng âm hư (=thiếu lượng máu) nội nhiệt.

Có trường hợp lượng máu không thiếu mà thiếu máu tuần hoàn về tim, thí dụ lượng máu trong cơ thể 4 lít, do thói quen uống thêm 2 lít nước mỗi ngày, ngoài số nước trong cơm, canh, thức ăn rau trái, cà phê, trà,… làm loãng máu tăng lượng máu trong cơ thể, thận thải lọc có giới hạn làm ứ nước sưng phù chân, hở van tĩnh mạch chân, nặng bàng quang chèn ép động mạch háng gây tắc tuần hoàn máu về tim gây nên hậu qủa áp huyết đo ở 2 bên cổ chân trong có tâm trương cao hơn 100, tắc khí nơi động mạch háng nên tâm thu cao trên 200mmHg, nhịp mạch chân lại thấp, thí dụ áp huyết đo ở cổ chân trái là 210/110mmHg nhịp mạch chân 85, ở cồ chân phải 195/120mmHg nhịp mạch chân 83.

Áp huyết đo ở cổ chân có nghĩa là đo chức năng thận trái, thận phải, tâm thu chân trái cao (210) là khí lực ép vào động mạch háng bên trái cao hơn bên phải (195) làm đau tê mất cảm giác ở háng đùi, số tâm trương chân trái 110 là tĩnh mạch chân trái bị phình to làm hở van tĩnh mạch chân trái ít hơn van tĩnh mạch chân phải phình to hơn 120, vừa làm chân tê sưng đau nhức, nhưng điều đó không nghiêm trọng bằng lượng máu ứ đọng ở chân khoảng 1 lít không được các van tĩnh mạch bơm đẩy lượng máu này vể tim, do đó tim phải đập mạnh, co bóp vào mạnh để bơm máu đỏ đi, và mở qủa tim lớn ra để hút máu đen về tim, khiến bị mệt, lâu dần van tim sẽ bị hở, đập nhẩy mất nhịp, không do nguyên nhân cholesterol, triglycerid mà do nguyên nhân thiếu máu cục bộ mà tim không thu hồi về được, biến chứng sau này sẽ suy tim và suy thận, ngược lại đo áp huyết ở tay trái 133/94mmHg nhịp mạch 80, ở tay phải 140/100mmHg nhịp mạch 79 là chức năng co bóp tim tâm thu bình thường, chỉ hiện ra tâm trương tay trái cao 94, tay phải 100mmHg cũng là dấu hiệu hở van tim.

2-SUY TIM

Chứng Tâm hư : (172)

Tâm động nên hồi hộp, đoản hơi, đau dưới tim, có khi lên cơn kịch phát, mất ngủ, mất sức, đổ mồ hôi, suy nhược thần kinh, bất an, sợ sệt, nói sàm, ý mông lung không chú tâm, hay quên, mắt thiếu máu, gai sốt, chân tay gía lạnh, lưỡi nhạt rêu ít. Tùy theo tâm khí hư hoặc tâm huyết hư sẽ có dấu hiệu riêng của mỗi loại để phân biệt.

Nhiễm acid do ăn dư thừa chất chua, làm tăng biên độ hô hấp thở nhanh dài và sâu gây hậu qủa nguy hại cho sự sống tất cả các mô quan trọng như tim, thận, não, gây ra suy sụp toàn diện, tình trạng cơ thể giảm sút, suy hô hấp, co giật liên tục, cần phải hồi sức tim mạch.

Bệnh suy tim có liên quan đến khí lực, huyết lực. và đường trong máu.

Thiếu máu làm suy tim khi đo áp huyết tâm trương thấp dưới 60mmHg, có dấu hiệu hẹp van tim do thiếu máu mà không do cholesterol làm hẹp van tim

Suy thận làm suy tim có dấu hiệu hở van tim và thiếu máu mà tâm trương cao trên 95 không do nguyên nhân cholesterol.

Suy tim nhịp tim đập chậm dưới 65, mà tay chân da lạnh, không thiếu máu, nhưng hay mệt, là do thiếu đường, còn nhịp tim đập chậm 55-60, đầu ngón tay bàn tay, da thịt ấm, đường huyết đủ là người khỏe do có tập thể dục thể thao đều đặn như các lực sĩ

3-SUY THẬN :

Ngừa bệnh suy thận do tiểu đường phải thường theo dõi đường-huyết, áp huyết, lipid huyết, ăn giảm chất protein, cữ thuốc lá, bia, rượu.

a-Suy giảm chức năng tuyến thượng thận :

Tuyến thượng thận nằm trên 2 qủa thận, tiết ra những kích thích tố adrenalin, cortison, dihydroepiandrosterone (DHEA), aldosterone, ACTH (adrenocoticotropic)

Adrenalin làm giảm căng thẳng tức thời làm tăng nhịp tim và tăng huyết áp, còn cortison làm tăng lượng đường, giảm căng thẳng lâu dài, có tác dụng chuyển hóa các acid amin không có đường biến thành đường glucose từ protein đóng vai trò điều khiển hệ miễn nhiễm của cơ thể.

Suy thận tăng calci-huyết, phosphor-huyết giảm, calci-niệu tăng và phosphat-niệu tăng.than

Viêm thận kẽ kèm nhiễm calci-thận trong bệnh sạn calci, hội chứng calci-huyết uống qúa nhiều sữa hoặc thuốc kiềm trị bao tử, thừa vit.D, tăng calci-huyết cận ung thư gây ra ung thư phổi và ung thư thận.

Đường giúp hệ miễn nhiễm tăng cường sức đề kháng cho cơ thể, giảm căng thẳng. lNếu chúng ta kiêng không ăn đường, cortison cũng phải chuyển hóa các protein thành đường để duy trì sức đề kháng chống bệnh cho cơ thể, do đó cơ thể thiếu đường tuyến thượng thận phải tiết ra nhiều cortison lâu dài khiến chức năng tuyến thượng thận suy giảm dẫn đến suy thận.

Kích thích tố DHEA giúp tăng cường sửa chữa các mô tế bào bệnh, và nó có thể chuyển hóa thành kích thích tố nam hay nữ testosteron và oestrogen.

Nếu u vỏ tuyến thượng thận làm xáo trộn chức năng làm biến đổi tính nam như nữ, nữ như nam.

Kích thích tố aldosterone điều chỉnh các chất khoáng như muối, potassium để cân bằng lượng chất lỏng và áp huyết cho cơ thể.hethonglocthan

ACTH (adrenocoticotropic) là loại kích thích tố chính điều khiển tuyến thượng thận sản xuất 3 loại hormon kể trên, khi tinh thần căng thẳng ACTH tăng, khi hết căng thẳng ACTH giảm, do đó phương pháp thở thiền có khả năng điều chỉnh kích thích tố ACTH phục hồi chức năng tuyến thượng thận.

Dấu hiệu suy giảm tuyền thượng thận và cách phục hồi:

Mệt mỏi, yếu sức, giảm áp huyết, thèm muối, tinh thần dễ bị căng thẳng. Tập thể dục lại càng bị mệt, áp huyết đo ở thế đứng và thế nằm khác nhau nhiều, khi đang nằm đứng lên bị chóng mặt, nguyên nhân thiếu đường, vì chất cortison trong người thiếu, không chuyển protein thành đường glucose và trong thức ăn cũng thiếu đường, nó sẽ tự động lấy đường glycogen dự trữ trong gan, tuy nhiên cơ thể không đủ cortison để điều chỉnh lượng đường thích hợp cho nhu cầu cơ thể, nên thử đường huyết có lúc cao lúc thấp bất thường, cuối cùng suy thận làm mất đưởng dự trữ trong gan dẫn đến bệnh gan hư và suy tim.

Đông y dùng chất Cam thảo phục hồi chức năng tiết cortison làm tăng áp huyết và tăng đường phục hồi chức năng tuyến thượng thận, người cao áp huyết không dùng cam thảo được. Tăng cường thêm khí lực cho thận khí, dùng thên sâm, còn tây y dùng thêm vit.C và B5 là acid pantothenic và pantothenate, giúp thức ăn cơ thể chuyển đổi thành đường cung cấp năng lượng cho cơ thể, viên B5 có nhiều trong thực phẩm tự nhiên trích từ rau trái có bán trong tiệm thuốc tây, giá khoảng 5 đô la.

b-Những dấu hiệu khác chúng ta có thể thấy được :

Dấu hiệu suy thận làm ngứa phát ban, lupus ban đỏ ở da .

Do thận không lọc chất thải còn nằm trong máu gây ra những cơn ngứa gãi rách da chảy máu. (Theo đông y do chức năng gan thận hư)

Khi có dấu hiệu thở nông, ngắn hơi.khó thở.

Dấu hiệu này tây y chẩn đoán do suy thận, vì theo tây y trong thận có 2 dây thần kinh của phế-vị điều chỉnh chức năng thận khí, khi suy thận chất lỏng dư thừa trong cơ thể tích tụ trong 2 lá phổi do uống qúa nhiều nước, thận suy không thải lọc được, nguyên nhân khác cũng do thận suy làm thiếu máu, làm thiếu các tế bào hồng cầu vận chuyển oxy cho phổi gây ra chứng thở ngắn như suyễn. (Theo đông y chức năng tỳ vị hư làm chức năng phế suy)

Dấu hiệu lúc nào cũng cảm thấy ớn lạnh.

Nguyên nhân thận suy làm thiếu máu không tuần hoàn ra đến ngoài da, và áp lực bơm máu thấp ( áp huyết tâm thu, tâm trương thấp) tay chân và ngoài da lúc nào cũng lạnh, nhưng trong người luôn cảm thấy khô nóng, đông y gọi là âm hư (thiếu máu) sinh nội nhiệt.

Dấu hiệu hoa mắt chóng mặt, mất tập trung.

Chức năng phế thận hư do thiếu đường giúp cơ co bóp chuyển hóa, thức ăn không biến thành máu, làm thiếu máu, não không được cung cấp oxy, dẫn đến mất trí nhờ, thiếu tập trung, hoa mắt, chóng mặt.

Dấu hiệu đau chân, đau lưng, đau cạnh sườn.

Do bệnh thận đa nang, các nang trong thận chứa đầy chất thải không thải lọc được sẽ thấy dù có uống nước nhiều mà đi tiểu ra ít, nhưng phải đi nhiều lần, khiến thận sưng to làm đau lưng, sườn, tăng áp huyết giả, hay đi tiểu đêm, đôi khi làm gan cũng sưng gây đau tức hông sườn. (Theo đông y thuộc chứng chức năng gan thận hư)

Suy thận theo tây y qua xét nghiệm máu, nước tiểu để tìm bệnh thì có những bệnh như :

Bệnh thận tiểu cầu :
Mạn tính : có tính cách miễn dịch sau bệnh nhiểm khuẩn.
Bệnh tiểu cầu đái tháo đường do thoái hóa dạng tinh bột, do lupus ban đỏ rải rác, do ban xuất huyết dạng thấp khớp.

Bệnh thận kẽ, viêm ống thận kẽ :
Do nhiễm khuẩn, do sạn thận làm tắc nghẽn, do hẹp niệu quản, sưng u tuyến tiền liệt, bệnh ở cổ bàng quang, xơ sau màng bụng, khối u ở đường niệu, do độc tố sử dụng phenacetin lâu dài. Viêm ống thận kẽ là máu nhiễm khuẩn làm hoại tử vỏ thận, viêm tĩnh mạch thận, u tủy, nhồi máu thận do viêm màng trong tim

Dấu hiệu thận mủ :

Đau vùng thận kèm theo sốt cao mà rét run, nhức đầu, nôn hay buồn nôn, bí tiểu hay tiểu rắt là thận có mủ do nhiễm khuẩn đường niệu, khi đi tiểu được thì trong nước tiểu ra mủ là đục thì sốt giảm.
Bệnh nặng thận sưng nổi gò cứng ổ thành bụng nhìn thấy rõ.

Bệnh thận do mạch :

Do thận xơ cứng, viêm quanh động mạch có cục, u nang thận, loạn dưỡng thận, loạn sinh acid oxalic

Suy thận do chức năng :

Tăng ure-huyết, mất cân bằng nước điện phân hay mất cân bằng trong tuần hoàn có dấu hiệu làm hạ áp huyết, mất nước, giảm kali-huyết, hoặc do thuốc kháng sinh gây ra.Thoái hóa xương xơ rỗng (fibro-géodique), sạn niệu.

Suy thượng thận cấp :

Hạ áp huyết, trụy mạch kèm vật vã hoặc bất động do bán hôn mê, suy nhược cực độ nguyên nhân do rối loạn tiêu hóa, ói mửa, thường tiêu chảy, mất nước nếp da nhăn, đau thắt lưng, vọp bẻ, đau bụng, sốt hay giảm nhiệt, giảm glucoza-huyết, giảm natri-huyết, tăng kali huyết

Tất cả nguyên nhân khác gây trụy : Suy tim, mất nước, xuất huyết nội,

Albumin-niệu có dấu hiệu tổn thương thận : Phù, tăng huyết áp, giảm hệ số thanh thải, tăng creatinin

4-UỐNG QUÁ NHIỀU NƯỚC

a-Dấu hiệu suy thận theo tây y là phù thủng.

Khi chức năng thận không loại bỏ được chất thải dư thừa, chất lỏng tích tụ trong cơ thể có dấu hiệu sưng phù ở chân, nhất là nơi mắt cá cổ chân, bàn chân, ở mặt hay ở tay.

Theo đông y thuộc chứng thận dương mệnh môn hỏa hư, có nhiều lý do liên quan đến lượng nước uống hàng ngày.

Trường hợp thân hư do uống nhiều nước tây y có tên gọi là do ngộ độc nước, không phải là nước có độc mà do dư thừa nước mà thận không lọc thải kịp.

Có trường hợp theo thói quen sáng uống 1 lần 1 lít, quá sức chứa của thận và bàng quang cũng gây ra bệnh suy thận khi lớn tuổi, ít hoạt động thể lực.

b-Cơ thể cần bao nhiêu nước mỗi ngày là đủ ?

Tây y phân loại suy thận dựa trên 2 yếu tố xét nghiệm creatinin trong máu và trong nước tiểu so sánh với tiêu chuẩn chức năng mức lọc cầu thận (=mạch máu trong thận) còn khỏe chưa bị bệnh :

Tiêu chuẩn bình thường khi chức năng lọc máu của thận còn khỏe, thì dung dịch máu, nước có chứa các chất thải, cơ co bóp của thận ít nhất phải hút vào thải ra 6 lít trong 1 giờ đối với người có trọng lượng trung bình, còn theo tiêu chuẩn người tây phương to lớn hơn, tây y lấy tiêu chuẩn thận lọc 7,2 lít/1 giờ, như vậy trung bình một ngày 24 giờ thận lọc từ 144-172,8 lít, đổi theo đơn vị 1 phút lượng lọc chất thải trong máu của thận là 100-120 ml, nếu lấy tiêu chuẩn 120ml/phút thì số lượng creatinin có trong máu cho phép trong giới hạn từ 70-106 micromol/l tương đương với 0.8-1,2mg/dL so với lượng máu tuần hoàn trong cơ thể đầy đủ. mục đích lọc máu để thu hồi tái hấp thụ lại nước sạch, đường và máu 99%, còn 1% là nước tiểu chứa chất thải, nên nước tiểu có mầu vàng nhạt.

Cơ chế tạo ra nước tiểu ở cầu thận, máu từ tiểu động mạch chạy vào cầu thận tạo nên áp lực máu trong cầu thận cao hơn trong ống thận nên huyết tương từ các mao mạch cầu thận được lọc vào bọc Bowman tạo thành nước tiểu đầu 1/5, 4/5 còn lại qua tiểu động mạch để lại protid, lipid không qua được màng bọc Bowman do phân tử quá lớn, do đó số lượng nước 144-172,8 lít ống thận sẽ hấp thụ lại 99% gồm 0,17% glucose, 0,6% muối vào lại máu, 1% là nước tiểu trong 1 ngày từ 1,2-1,5 lít, theo tiêu chuẩn 1cc/kg/1 giờ hay 24cc x trọng lượng cơ thể/ngày.

Những chất độc không được tái hấp thụ, chì có 85% nước sạch, và glucose, Na+, K+, Cl-, Ure, bicarbonat được tái hấp thụ nhiều hay ít tùy thuộc vào nồng độ ADH (Anti-Diuretic hormon=kích thích tố chống lợi tiểu) trong máu.

Nồng độ ADH là kích thích tố sau tuyến yên điều hòa tái hấp thu nước của ống thận tăng lên, ngược lại chức năng thùy sau tuyến yên giảm gây ra bệnh đái tháo nhạt là nhiều nước tiểu loãng nhạt mà không có đường.

Như vậy ngoài lượng máu trong cơ thể không thay đổi, cơ thể cần thêm lượng nước từ ngoài vào qua thức ăn, hoa quả, nước uống, cà phê, trà..để bù vào số lượng nước bị thải lọc qua nước tiểu 1% có nghĩa là khoảng từ 1,5-1.8 lít/ngày.

Nếu tính theo trọng lượng cơ thể, công thức tính là 1 giờ thận lọc máu lấy ra được 1cc nước tiểu cho mỗi kg trọng lượng cơ thể. Một ngày được 24cc cho 1kg trọng lượng cơ thể.

Chúng ta có thể tính ra được số lượng nước uống hợp với trọng lượng cơ thể mỗi người khác nhau trong 1 ngày :

Thí dụ người có trong lượng 40 kg thì số nước bù cho nước tiểu thải ra là 24 x 40 = 960cc
Người nặng 100kg sẽ cần : 24 x 100 = 2,4 lít/ngày.

Đó là lý do tại sao chúng ta cân nặng 60 kg mỗi ngày uống 2 lít tại sao khi cân mỗi ngày vẫn chỉ nặng 60kg.

Tuy nhiên có 3 loại nước uống khác nhau :

-Uống nước trắng 2 lít, sẽ đi tiểu ra 2 lít, trọng lượng cơ thể mỗi ngày không thay đổi.
-Uống nước vắt ép như nước cam (orange jus) uống 2 lít, khi đi tiều không được thải lọc hết 2 lít mà thải lọc ít hơn như 1.8 lít, do đó uống nhiều ngày làm tăng trọng lượng cơ thể .
-Uống nước trà xanh 1 lít, khi đi tiều bị thải lọc ra nhiều hơn, như 1,2 lít, do đó lâu ngày trọng lượng cơ thể giảm.

c-Muốn biết chức năng thận hư hay không chúng ta để ý đến nước tiểu :

Nước tiểu ra mầu trắng là thận không lọc, ra mầu vàng nhạt là thận tốt.
Uống nước nhiều mà đi tiểu ngay sau khi uống là thận dư thừa nước, phải uống bớt nước.
Nước tiểu ra vàng sậm là thận thiếu nước cần uống thêm nước.

d- Theo dõi những thay đổi khi đi tiều để biết mình có bị bệnh suy thận hay không :

Thận tạo ra nước tiểu, do vậy khi thận bị hỏng, có thể có những thay đổi đối với nước tiểu như phải thức dậy vào đêm để đi tiểu, nước tiểu có bọt hay có nhiều bong bóng. nước tiểu ra nhiều lần hơn bình thường và có màu nhợt, hay số lần đi tiểu nhiều lần mà lượng nước tiểu ít, có mầu tối, có lẫn máu, đi tiều rắt, són.
(Theo đông y thuộc chứng thận âm hư)

5-DO THUỐC CHỮA BỆNH TIỂU ĐƯỜNG LÀM HẠ ĐƯỜNG QÚA THẤP

Dấu hiệu suy thận theo tây là nhiễm acid chuyển hóa .

Nước tiểu nhiều acid, giảm kiềm, áp lực pCO2 giảm trầm trọng, có dấu hiệu khó thở, chậm sâu và hôn mê dần, nguyên nhân do đái tháo đường nhiễm acid-ceton trong hơi thở, nhiễm acid-ceton do nhịn ăn, nhất là người nghiện rượu, đái tháo đường chữa bằng thuốc phenformin (insoral) hay bằng Metformin (Glucophage), tiêu chảy kéo dài, cơn co giật liên tục, lỗ rò tiêu hóa, thuốc gây acid hóa, do ngộ độc aspirin.
Cơ thể cần một số chất điện giải, trong đó có Na+ từ muối, thức ăn, và trong thuốc uống, khi xét nghiệm máu Na+ bình thường cho phép 135-145mmol/l

Nếu cao hơn là thừa muối gây ra bệnh thận, phù thận, u nang vỏ thượng thận. mất nước nhiều không qua thận mà qua phổi làm tăng nhịp thở và qua da mất nhiều mồ hôi.

Nếu Na+ giảm thấp hơn trong bệnh đái tháo đường cao, nhiễm cetonic, pH trong máu động mạch < 7,25, đi tiểu nhiều hay lạm dụng thuốc lợi tiểu làm mất Na+, K+ gây ức chế tái hấp thụ Na+ ở tế bào ống thận, có dấu hiệu tiêu chảy, xuất mồ hôi.

Nếu Na+ tăng gây phù thận, ảnh hưởng đến vỏ thượng thận

Bệnh đái tháo đường do chức năng thận hư ( là Tiểu đường loại 3 ?)

Khi thận mất chức năng kiểm soát Na+ làm đường trong máu cao, tây y gọi là bệnh đái tháo đường do thận, ngoài 2 loại đái tháo đường do tụy tạng và đái tháo đường loại 2 không do insulin.
Như vậy chức năng thận hư sẽ làm tăng đường gây ra bệnh tiểu đưởng và tăng ure trong nước tiểu.
Nhiễm cetonic trong bệnh tiều đường làm tăng K+ vì nhiễm acid và suy thận, nhưng sau khi trị tiểu đường bằng insulin thì hết nhiễm acid và bài tiết nước tiểu tốt thì K= lại giảm.

6-DO PHẢN ỨNG PHỤ CÁC THUỐC KHÁC CỦA TÂY Y LÀM TĂNG CREATININ

Các thuốc có thể làm tăng nồng độ creatinin máu là: Amphotericin B, androgeri/arginin acidascorbic, barbiturat, captopril, cephalosporin, chlorthalidon, cimetidin, clofibrat, clonidin, corticosteroid, dextran, disopyramid, doxycyclim, fructose, gentamicin, glucose, hydralazin, hydroxyurea, kanamycin, levodopa, lithium, mannitol, meclofenamat, methicilin, methyldopa, metoprolol, minoxidil, nitrofurantoin, propranolol, proteinm pyruvat, sulfonamid, streptokinase, testosteron, triamteren, trimethoprim.

Cũng có các loại thuốc như aminoglycosids (vancomycin, gentamicin) có thể gây ra thiệt hại thận làm tăng creatinin. Các loại thuốc khác, chẳng hạn như cephalosprins (cefoxitin), có thể làm tăng nồng độ creatinin mà không phản ánh tổn thương thận.

7-THIẾU HAY THỪA CALCI :

Ca++ bình thường : = 1,0 – 1,3 mmol/l.

Ca giảm không ion hóa gắn với protid làm mất protein theo nước tiểu. cũng bị suy thận vì mất qua nước tiểu cùng với protein dấu hiệu thấy nước tiểu đục.

Ca máu giảm do giảm albumin máu, tăng phosphat máu, giảm calci ở ruột.

Nếu dư thừa, xét nghiệm máu dư calci làm tăng áp huyết, nhưng vẫn bị loãng xốp xương, và thận cũng không thải lọc hết còn nằm trong thận, niệu đạo, bàng quang sẽ trở thành sạn.

8-SẠN THẬN VÀ SẠN TRONG ĐƯỜNG TIẾT NIỆU :

Hệ tiết niệu bao gồm 2 thận, bàng quang, 2 niệu quản, tuyến tiền liệt và niệu đạo.

a-Thận là tạng đặc nằm phía sau 2 bên xương sườn 12, thận bên phải cùng chỗ với gan nên vị trí thấp hơn thận bên trái 2cm, phần trên nằm tầng ngực liên quan đến phổi và khoang màng phổi che bởi xương sườn, nửa phần dưới nằm ở phần bụng, khi thận sưng to vượt ra khỏi vòm hoành sẽ sờ khám thấy. Thận bao phủ bên ngoài một nhu mô dầy, dai, chắc gọi là vỏ thận gồm 2 vùng lả vùng tủy chứa các tháp Malpyghi là những đài nhỏ chứa hệ thống ống vào trong ống góp dẫn vào đài thận, và trong vỏ thận chứa các tế bào chức năng thận chứa hơn triệu nephron mỗi thận. Giữa thận là rốn thận dẫn cuống thận vào thận.

Còn niệu quản là ống tròn đường kính 4-5mm có thể co giãn tối đa 7mm, nối dài 25-30cm dẫn nước tiểu từ bể thận xuống bọng đái vào thành bàng quang kết thúc bằng 2 lỗ niệu quản.

Bàng quang là bọng chứa nước tiểu khi rỗng nó nằm ngay sau lớp mu, khi đầy nước có thể lên tới sát rốn chứa được 300-500cc, tối đa 1 lít.

Niệu đạo nam dài 14-16cm là đường đi chung của nước tiểu và hệ sinh dục khi xuất tinh, chia làm 2 đoạn, niệu đạo sau dài 4cm gồm niệu đạo tuyến tiền liệt dài 3cm, và niệu đạo màng dài hơn 1cm xuyên qua cận đáy chậu giữa, khi bị vỡ xương chậu thì dễ bị tổn thương, còn niệu đạo tuyến tiền liệt dễ bị tổn thương khi nội soi tiết niệu.

Niệu đạo trước dài 10-12cm trong dương vật, trong bìu và niệu đạo tầng sinh, có vật xốp bao quanh khi bị tổn thương dễ làm hẹp niệu đạo.

Niệu đạo nữ cố định dài 3cm giống như niệu đạo sau của nam giới liên quan với thành trước âm đạo.

Nguyên nhân hình thành sạn trong thận :

Do cơ thể dư thừa calci không được thận tái hấp thụ, do ăn nhiều thức ăn đồ biển như tôm cua, ốc, sò, do cholesterol và dư thừa các chất béo kết tủa, gọi là nguyên nhân rối loạn chuyển hóa.

Thành phần cấu tạo sạn có 2 loại :

Sạn vô cơ như

Sạn oxalat canxi: hay gặp mầu đen, gai góc cản quang rõ.
Sạn photphat calci: có mầu vàng nhạt hoặc trắng bẩn, dễ vỡ.
Sạn carbonat calci: có mầu trắng như mầu phấn, mềm dễ vỡ.

Sạn hữu cơ như :

Sạn urat: mầu trắng gạch cua, có thể không cản quang mềm và hay tái phát.
Sạn systin: nhẵn, mầu vàng nhạt, mền hay tái phát.
Sạn struvic: (amonium magnéium-phosphat) mầu vàng trắng, thường do nhiễm khuẩn đường niệu loại vi khuẩn Proteus.

Theo Boyce, Baker, Simon thì các sạn calci, acid uric đều có một nhân khởi điểm hữu cơ mà cấu trúc của nhân này là mucoprotein, là loại protein đặc hiệu rất giàu glucid.

Bình thường, mucoprotein có nhiều ở màng đáy ống thận.

Ngoài ra, do ống thận tắc, hẹp gọi là nguyên nhân dị dạng đường niệu do chức năng thận kém, thận ứ niệu làm giãn đài bể thận làm lắng đọng chất thải kết tủa thành sạn, nhất là khi có sạn thận tây y khuyến khích uống nhiểu nước cho trôi sạn không có lợi mà gây ra ứ niệu, tây y không biết cách áp dụng tập khí công giúp thận co bóp bơm chất thải ứ đọng trong thận ra ngoài, nên nước thừa tăng dần làm căng giãn chèn ép nhu mô thận khiến thận phình to nổi rõ sau lưng ấn đè vào đau, gây ra tình trạng suy giảm chức năng thận làm ra bệnh suy thận nguyên nhân do uống nhiều nước, tây y gọi là bệnh thận ngộ độc nước…..

Sạn thận còn gây ra bệnh viêm khe thận mãn tính phát sinh ra bệnh sơ teo thận làm huyết áp tăng cao, tùy theo kích thước của sạn làm thận suy mãn tính hay cấp tính.

Dấu hiệu bị sạn thận:

Dấu hiệu đầu tiên là cứng lưng, rồi đau lưng, nhìn thấy vị trí qủa thận sau lưng nổi cao, ấn vào đau, thời gian sạn kết tủa to hơn sẽ bị đau lan sang vùng rốn như có cảm tưởng đau bụng, cái đau từ rốn sang lưng từ lưng sang rốn làm khó thở, khó cử động, đi tiểu không thông.

Dấu hiệu bị sạn bàng quang :

Nguyên nhân do nín tiểu, do niệu đạo hẹp, do uống nhiều nước nặng bàng quang chèn ép tuyến tiền liệt, làm đau vùng bẹn, bí tiểu, tiểu rắt ít một, sót rát lỗ tiểu, tiểu ngắt quãng, tiểu lâu khó ra do tuyến tiền liệt đè tắc ống tiểu khiến phải đi tiểu nhiều lần, do những sạn nhỏ chạy qua, và tiểu ra máu lẫn nước tiểu làm nước tiểu đỏ hồng do sạn đi qua làm trầy xước ống tiểu.

Tây y khi thăm khám trực tràng lúc hết nước tiểu có thể sờ thấy sạn.

Theo đông y nguyên nhân hình thành sạn thận và tiểu ra máu gọi là :

Chứng sa lâm :
Có sạn sỏi trong bàng quang, nguyên nhân phần nhiều do nhiệt và thấp nung nấu ở hạ tiêu, tạp chất trong nước tìểu ngưng tụ kết thành sạn làm vùng bụng rốn co thắt lan sang một bên lưng, có từng cơn đau lan toả xuống bụng dưới và bộ sinh dục, khó tiểu hoặc đang tiểu bị tắc nửa chừng, tiểu đau, mầu nước tiểu vàng đục có lẫn cát, lẫn máu.

Chứng huyết lâm :
Bệnh tiểu ra máu, đái dắt, buốt, bụng dưới căng trướng đau âm ỉ do hạ tiêu bệnh ( thận và bàng quang).
Nếu niệu đạo nóng mỗi khi tiểu là do bị thấp nhiệt nung nấu bức huyết đi càn.
Nếu khi tiểu, niệu đạo không nóng, và bụng dưới hơi đau là do nguyên nhân âm hư hỏa động, không có khả năng thu giữ huyết gây nên.

9-BỆNH GÚT

Do bệnh gout làm tăng nồng độ acid-uric tăng cao hơn 595mmol/l, không có bệnh gout thường thấp hơn 595mmol/l.

Acid uric-huyết tăng ở đàn ông đưa đến bệnh gout và sạn thận do ăn qúa thừa thãi, ít vận đõng thường ngồi một chỗ, ăn thừa lipid, uống rượu, ở bệnh máu như bệnh lách to dạng tủy, bệnh bạch cầu dạng tủy điều trị bằng hóa liệu pháp tiêu tế bào và liệu pháp corticoit, và tăng do thuốc trị ung thư, thuốc chống đông, do lạm dụng thuốc lợi tiểu, suy nhược, giảm trương lực cơ, ngủ gà, ý thức u ám, lẫn tâm thần rối loạn ý thức có thể dẫn đến hôn mê, chán ăn, buồn nôn, ói mửa, đau thượng vị, tim đập nhanh, chụp X-quang có dấu hiệu ăn mòn dưới vỏ xương đốt cuối ngón tay và xương dài, gẫy xương đột ngột, bệnh sạn thận hay nhiễm calci-thận, trong bệnh ác tính như ung thư vú, ung thư thận, phổi, tuyến tiền liệt, tuyến giáp, thực quản, đa u tủy

10-BỆNH TUYẾN TIỀN LIỆT :

Bệnh tuyến tiền liệt :

Nguyên nhân theo tây y do thay đổi mất quân bình tỷ lệ men dehydro-testosteron/nồng độ testosteron trong máu trong qúa trình tăng sản các mô tuyến và mô sợi, theo dõi diễn biến của bệnh có 3 giai đoạn :

-Lượng nước tiểu tồn dư trong bàng quang sau khi tiểu.

Biến chứng suy thận giai đoạn 1 nước tiểu tồn đọng dưới 50ml, thành bàng quang còn dầy, giai đoạn 2, nước tiểu tồn đọng trên 50ml, bệnh nhân cảm thấy tiểu không thoải mái, giai đoạn 3 tiểu không theo ý muốn, đái rỉ ít một, bí đái, trào ngược nước tiểu về thận làm giãn niệu quản, bể thận, làm suy thận, dẫn đến tình trạng rối loạn tiểu tiện, tiểu đêm nhiều lần, và trong ngày cũng tiểu nhiều lần, thăm khám trực tràng sờ thấy tuyến tiền liệt to.

Mức thang điểm định bệnh do tổ chức y tế thế giới quy định năm 1993 bệnh tuyến tiền liệt (IPSS=International Prostate Symptom Score) dựa trên 7 triệu chứng :

Mức độ nhẹ IPS <7 điểm. Đánh dấu là L : 1-2 nhẹ
Mức độ vừa IPS 8-19 điểm. Đánh dấu là L : 3-4 trung bình
Mức độ nặng IPS >20 điểm. Đánh dấu là L : 5-6 nặng.

Nếu không có dấu hiệu suy thận, chỉ do bệnh tại tuyến tiền liệt do hậu qủa thủ dâm, hay uống nhiều nước làm nặng bàng quang chèn ép niệu đạo và tuyến tiền liệt, viêm tuyến tiền liệt, ung thư tuyến tiền liệt, sạn tuyến tiền liệt do ứ nước tiểu trong bàng quang, nguyên nhân do thức ăn có nhiều chất béo, chất vôi, do bia rượu, do lười vận động thể dục thể thao như các bài tập làm tăng cường sức cơ thành bụng và cơ tầng sinh môn ép tuyến tiền liệt nhỏ lại hay các phương pháp tăng nhiệt làm bốc hơi hay áp lạnh (chườm nóng hay lạnh).

11-THỪA MUỐI

Khi uồng nhiều nước thì thành phần nước trong máu tăng, thận sẽ tăng cường đào thải nước làm tiểu nhiều, khi ống thận tắc nước ứ tại thận làm sưng phù thận, suy tim, giảm tuổi thọ của thận làm suy thận phải lọc thận , tây y gọi là bệnh ngộ độc nước.

Ăn muối nhiều khi viêm thận sự đào thải ClNa kém, muối và nước ứ đọng trong các mô gây ra bệnh phù thủng.

12-QUAN TRỌNG NHẤT LÀ THIẾU KHÍ CHUYỂN HÓA GÂY RA MỌI BỆNH

Theo xét nghiệm của tây y, yếu tố gây ra bệnh suy thận do Chứng thoái hóa dạng tinh bột. (Amyloidosis) là sự thay đổi chức năng sinh hóa trong cơ thể làm lắng đọng chất bột trong máu trở ngại tuần hoàn máu làm tổn thương dây thần kinh ngoại biên, tổn thương tim mạch, suy tim, suy thận và các cơ quan nội tạng khác như sưng khớp cổ chân, gan lách to, lưỡi to, ban xuất huyết.

a-Nếu rối loạn thần kinh ngoại biên :

Cảm giác tê cóng, rát bỏng, ở đầu tay chân có cảm giác tê đau như châm chích, từ bàn tay dần lên tới đỉnh đầu do các sợi thần kinh thường gặp trong bệnh tiểu đường, làm mỏi, khó co duỗi ngón tay bàn tay và ngón chân cái yếu dần, bước đi khó khăn.

Các dấu hiệu khác theo thời gian như co cứng cơ thắt lưng, co cơ và teo cơ, rối loạn thần kinh thực vật, rối loạn tim mạch, giảm áp huyết ở thế đứng, bất lực ở nam giới, liệt ruột, do hậu quả của thuốc điều trị tiểu đường.

Sự lắng đọng chất dạng tinh bột trong ống máu, mao mạch, giữa các sợi và bó sợi, trong vách thành của các mạch máu… gây nên tình trạng thiếu máu, thiếu oxy, nhất là mạch máu não gây nên tình trạng xuất huyết não.

b-Thoái hóa dạng tinh bột cũng thấy trong bệnh suy tim ứ huyết khi siêu âm tim có dấu hiệu bất thường dầy vách tâm thất, rối loạn chức năng tâm trương, rung nhĩ, nhịp nhanh nhĩ, ngoại tâm thu thất.

c-Thoái hóa dạng tinh bột cũng là nguyên nhân tìm thấy trong bệnh suy thận, trong tổn thương ống tiêu hóa làm giảm sự co thắt nhu động ruột. làm tiêu chảy, bón hay xuất huyết, gan to do nhiễm chất dạng tinh bột lắng đọng trong gan, lắng đọng dạng tinh bột làm thoái hóa các khớp.

d-Dấu hiệu thoái hóa dạng tinh bột có thể nhận biết dễ dàng, có thể gọi là bệnh tiểu đường loại 4 do trong máu có nhiều tinh bột làm đường-huyết tăng.

Chúng ta để ý, khi chúng ta uống thuốc hay chích insulin mỗi ngày, và kiêng nhịn đường, thay vì chỉ số đường trong máu phải thấp, mà thử đường càng ngày càng cao, chính là chúng ta đang ở thời kỳ nặng, thiếu khí làm suy chức năng co bóp cơ tim nghẹt tim phải mổ tim thay ống mạch, chức năng co bóp cơ thận, chức năng co bóp gan, bao tử, phổi, ruột, nên tất cả thức ăn bị thoái hóa dạng tinh bột, thử đường các nơi trong cơ thể như đầu ngón tay, chân, lưng, bụng, nơi bị thấp khớp, xương sống lưng xương cổ bị thoái hóa đều cho ra trị số nhiều ít khác nhau.

Đã phát hiện 4 loại tiểu đường ?

Như vậy bệnh tiểu đường loại 1 là loại do chức năng tỳ hư ( tụy tạng thường gọi là lá lách không tiết insulin).
Loại 2 không do insulin.
Loại 3 do chức năng thận hư làm tăng ure trong nước tiểu, miệng có vị kim loại và xông ra mùi khai, gây ra triệu chứng buồn nôn hay nôn, chán ăn, sụt cân, hạ áp huyết, nếu tiếp tục dùng thuốc hạ áp huyết làm mệt tim gây ra buồn nôn nhiều hơn.
Loại 4 do thoái hóa dạng tinh bột, càng tiêm insulin không có kết quả đường huyết vẫn cao, mau làm chết thận, phải lọc thận hay thay thận.

Nếu biết cách tập khí công bài Kéo Ép Gối, bài Làm Tan mỡ bụng, Vỗ Tay 4 Nhịp, Cúi Ngửa 4 nhịp, Vặn Mình 4 nhịp, Đứng tấn ngũ hành, để chuyển hóa đường, để ngăn ngừa thoái hóa dạng tinh bột, ngừa sạn thận và bàng quang, ngừa ung thư tuyến tiền liệt, mạnh chức năng lọc thận, mạnh tim, bao tử, phổi, thận, gan, thì cơ thể sẽ không bao giờ bị bệnh tật.

—>Xem tiếp Phần 2