Video bài giảng 5 tại Thụy Điển

Video bài giảng 5 tại Thụy Điển

https://www.youtube.com/watch?v=s_JdUu04F70

Giải thích :

1-Cách khám mầu sắc bệnh theo vị trí tạng phủ trên mặt :

Ở phút đầu .

Tai thuôc thận. Mắt thuộc gan. Môi thuộc tỳ. Mũi thuộc phổi.

Nếu môi thuộc tỳ là mầu gì? Mầu hơi vàng, nhưng nó tốt thì mẹ nó nuôi nó, mẹ nó là tâm hỏa mầu đỏ cung cấp năng lượng cho nó để nó biết ăn ngon, thì mầu của môi là đỏ là tâm tỳ tốt. Môi đỏ nhiều thì hay ăn và ăn ngon, ăn rất nhiều, dễ ăn, nhưng không biết có béo hay không thì chưa biết vì còn do chức năng chuyển hóa bao nhiêu phần trăm.

Người môi trắng nhạt không đỏ hồng thì không muốn ăn.

Môi thâm đen là mầu của thận thủy, môi là thổ, thay vì thổ khắc thủy, thì ngược lại thủy mạnh hơn thổ, đông y gọi là thủy thừa khắc thổ.

Phổi khai khiếu (thông) ra mũi, nhưng đầu mũi giống như qủa tim, hai bên má là 2 lá phổi, nơi sơn căn ấn đường là cuống họng.

Nếu 2 má mầu đỏ là phổi nóng nhiệt là tâm hỏa khắc phế kim, làm phổi khô.

Học viên hỏi tại sao mùa đông, má của ai cũng đỏ. Vì mùa đông là hàn lạnh, cơ thể phải tăng hỏa chống lạnh thì toàn mặt phải đỏ lên.

Muốn bổ phổi nhiệt ăn gì ?

Người ta dùng Qủa La Hán, nấu nước uống để bổ phổi, có tính mát, vị ngọt, khí giáng, có tác dụng bổ tỳ là mẹ để nuôi con là phế kim.

Có thể bẻ 1 mẩu vỏ quả La Hán khô ngậm trong miệng, vừa chữa phổi vừa làm mát cổ họng ra nước miếng.

Tóm lại nhìn tai biết bệnh của thận
Môi thuộc tỳ
Mũi thông với phổ, đầu mũi thuộc tim
Mắt thuộc gan
Má thuộc phổi

Trán liên quan đến bao tử, đau nhức đầu trên trán là bệnh liên quan đến bao tử không tiêu, sở trán nóng là ăn thức ăn nhiệt làm bao tử nhiệt, vì bao tử là con bị bệnh thực thì mẹ là tâm hỏa dư hỏa khiến áp huyết tăng.

Sờ trán lạnh, là đã ăn những thức ăn hàn làm bao tử bị hàn, muốn ói, khó chịu. Bao tử là con bị hư thì mẹ là tâm hỏa mất năng lượng khiến áp huyết xuống.

Nếu đau đầu trên đỉnh đầu ra sau gáy là đau đầu do gan. Sờ đỉnh đầu lạnh là gan hàn, ảnh hưởng đến áp huyết thấp, nóng là gan nhiệt ảnh hưởng đến áp huyết cao.

Nếu đau 2 bên đầu là do túi mật. Hoặc không tiết mật để chuyển hóa thức ăn nên bị choáng váng một bên đầu, hoặc bị bệnh rối loạn tiền đình là một bên đầu áp huyết cao, một bên áp huyết thấp khiến đi lả đảo nghiêng người 1 bên. Nếu tiết mật qúa dư thì mặt hiện mầu xanh.

2-Bệnh tiểu đêm thì uống thuốc gì ?

Ở phút 7:30

Uống thuốc bổ Thận : Ba Kích + Đỗ Trọng+ Ngưu Tất, mỗi thứ 3-4 chỉ (12g-16g) nấu 4 chén nước cạn còn 1 chén.

Trán mát ăn không tiêu, không chuyển hóa, trán lạnh, áp huyết thấp, thì uống Phụ Tử Lý Trung Hoàn (viên nhỏ, 1 lọ 200 viên) trước bữa ăn 30 phút ngậm trong miệng từ 10-20 viên, sẽ tiết nước miếng mau đói thèm ăn, tiêu hóa hấp thụ nhanh, làm ấm người, tăng áp huyết.

Phụ tử lý trung hòan tính nhiệt chữa cảc bệnh thận hàn hay đi tiểu đêm, chữa thận hư phải lọc thận. Đi tiểu nhiều do thận hàn, cũng có thể ăn tiêu để làm ấm thận.

3-Một người có nhiều bệnh uống thuốc gì :

Ở phút 8:15

Chỉ có tập khí công chuyển hóa tất cả các khí trong người, mới tránh bị uống nhiều thuốc gây ra phản ứng phụ của nhiều thuốc nghịch nhau, bao tử sẽ trở thành thùng rác chứa nhiều độc tố.

Khi nghiên cứu lý thuyết đông y ngũ hành tạng phủ, và nhứng thức ăn thuốc uống để chữa cho tạng phủ bệnh, thì cũng không thể nào dùng thuốc chữa một lúc vào nhiều tạng phủ, trong trường hợp này mới thấy phương pháp chữa bằng KCYĐ hay hơn các phương pháp khác vì chữa được tất cả các rối loạn chức năng tạng phủ mà không có phản ứng phụ của thuốc tây y như uông thuốc sáng chữa thận, trưa chữa bao tử, chiều chữa áp huyết, tối chữa bệnh mất ngủ hay tiểu đêm…làm rối loạn chức năng khí hóa ngũ hành tạng phủ.

Một ngày đi tiêu tiểu bao nhiêu làn thì bình thường ?

Một ngày đi cầu 1-2 lần ra phân vàng thành khuôn là tốt không phải là bệnh, đi tiểu 2-5 lần cũng bình thường, nhưng đi tiểu ít 1 lần hay mót đi tiểu nhiều lần ra ít một hay đi tiểu ra nước trắng không phải nước tiểu mầu hơi vàng là có bệnh thận, nước tiểu ra trắng trong là thận không lọc, vì khi thận lọc độc trong máu và thức ăn tốt thì uống nước trắng khi tiểu phải ra hơi vàng nhạt, ngược lại khi tiểu ra vàng sậm là cơ thể nhiệt, vàng đậm tiểu gắt, khó ra là qúa nhiệt, tiểu rát do thận và bàng quang có nhiều chất vôi, tiểu ra máu là có sạn thận hay sạn bàng quang.

4-Ung thư lá mía :

Ở phút 8:45

Bệnh ung thư lá mía, một ngày đi cầu mười mấy lần, mót đi nhưng mỗi lần đi tiêu chảy chỉ ra ít nước, ít phân. Phải mang tã.

Do tỳ vị hàn không đủ nhiệt lượng chuyển hóa thức ăn và hấp thụ thức ăn biến thành chất bổ máu, tỳ hư không sinh ra da thịt, không ăn được nên cơ thể suy nhược, mất sức gầy ốm dần.

Muốn phục hồi lại chức năng tỳ vị cũng dùng Phụ Tử Lý Trung Hoàn, nên nó cũng chữa được bệnh ung thư lá mía..

5-Bệnh gan chữa làm sao ?

Ở phút 8:50

Nhìn vòng tròn ngũ hành tạng phủ, một bệnh phải biết là hư chứng (qúa yếu) hay thực chứng (qúa mạnh). Gan hư thì bổ mẹ nó là Thận, Gan thực thì tả con nó là Tim.

Như vậy làm sao biết gan hư hay thực thì đo áp huyết bên tay phải nó thấp hơn tiêu chuẩn tuổi là hư, nó cao hơn tiêu chuẩn tuổi là thực.

Nhưng lại chia ra hư hay thực về khí lực, số tâm thu qúa thấp hay qúa cao, hay hư thực về máu qúa thiếu hay dư máu là số tâm trương qúa thấp hay qúa cao.

Gan hư lại chia ra chức năng hu hay thực hay cái cơ sở lá gan hư hay thực.

Chức năng hư là truóc khi ăn thay vì áp huyết đo bên gan phải cao tối đa trong tiêu chuẩn là 140 (thí dụ tiêu chuẩn từ 130-140mmHg), sau khi ăn áp huyết bên gan khí lực phải thấp tối thiểu trong tiêu chuẩn là 130mmHg, chênh lệch nhau 10mmHg thì chức năng chuyển hóa hấp thụ chất bổ khí huyết từ thức ăn được 100%, nếu chênh lệch trước sau có 1mmHg thì hấp thụ chuyển hóa có 10%.

Gan có hai chức năng chúng ta thấy rõ nhất theo ngũ hành là gan cung cấp năng lượng nuôi con nó là tim, khi gan hư yếu thì suy tim, khi gan thực cung cấp nhiều máu cho tim làm mệt tim, thành tim bị bệnh thực khiến áp huyết cao.

Chức năng thứ hai mà ta trông thấy là điều hòa chất chua và chất mật sang cho bao tử cảm thấy xót ruột, biết đói, nhớ tới giờ ăn, nên trước khi ăn áp huyết bên gan đang làm việc thì phải cao tối đa trong tiêu chuẩn là 140mmHg, sau khi bao tử ăn xong, thì chức năng gan nghỉ ngơi sẽ xuống thấp, nhưng chức năng gan hư thì ngược lại, trước khi ăn áp huyết đo bên gan thấp, sau khi ăn thì lại cao, nên trước khi ăn bao tử không biết đói không muốn ăn vì gan không tiết chất chua và chất mật cho bao tử.

Còn cơ sở bị bệnh tổn thương như lá gan sưng to chai, hay lá gan chai teo nhỏ lại, thì khi đo áp huyết bên tay phải trước hay sau khi ăn kết qủa không thay đổi khí lực, huyết lực.

Khí lực huyết lực lúc nào cũng cao thì gan sưng to, còn khí lực huyết lực thấp hơn tiêu chuẩn thì gan teo, có nghĩa là gan không co bóp để thay đổi khí lực huyết lực trong lá gan.

Cách đo áp huyết tay phải để biết bệnh gan rõ ràng chính xác hơn là bắt mạch ở cổ tay như đông y cổ truyền.

Nếu gan hư mà có thêm bệnh đi tiểu luôn là thận cũng hư, là do mẹ là thận hư làm con là gan hư, hay do thức ăn làm gan hư mới làm cho mẹ phải cung cấp năng lượng cứu con mà mẹ bị hư yếu.

Muốn chữa thận mạnh lại bổ mẹ là phế, thì cần chất cay.

Có người thắc mắc nếu ăn cay thì bón đi cầu không được hay bị bệnh kiết…như vậy là do ăn cay qúa lại thành bệnh thực, như vậy đông y chỉ điều chỉnh lại quân bình âm-dương, khí-huyết, hư-thực, hàn-nhiệt cho vừa đúng thì ngưng nên không có lạm dụng thức ăn hay thuốc uống một thứ hoài được, vì thế không được dùng một loại thuốc suốt đời được.

Nếu cay qúa lại thành thực, thiếu thì lại bị hàn. Như vậy chính máy đo áp huyết mới là bác sĩ khám bệnh cho mình, chứ không ai làm thầy mình hay hơn máy đo áp huyết.

Thí dụ phế thực tả con là thận thì bớt ăn mặn,

Bệnh nặng nhẹ là do lý luận tạng phủ theo bảng ngũ hành.

Thí dụ gan bị nóng thì tả con làm bớt nóng cho tim, thì phải bớt ăn chất đắng như cà phê, chiên xào,.

Có người hỏi ăn rau đắng thì nó mát hay nóng ? Thì hỏi ai ? Hỏi máy đo áp huyết xem nhịp tim tăng hay giảm.

Khi chữa thấy khí lực cao thì điều chỉnh khí lực xuống thấp, huyết lực hư thiếu thì ăn những chất bổ máu làm khí lực tăng lên, gan chai sưng hay chai teo thì tập thông khí toàn thân kích thích khí trong gan thay đổi chuyển động bằng những bài tập khi công Nằm Kéo Ép Gối Thổi Ra Làm Mềm Bụng….

6-Khám mầu sắc trên mặt một bệnh nhân có môi thâm đen là bệnh gì ?

Ở phút 17:30

Môi thuộc tỳ, có mầu đen thuộc thận, theo ngũ hành là thổ khắc thủy, nhưng thận bệnh uống nhiều nước dư thủy, thổ không khắc chế chặn thủy được nên thủy lại thừa khắc thổ. (khắc ngược lại), gọi là bệnh tỳ thận bất hòa. Đối với phương pháp dùng thuốc rất khó chữa, nhưng đối với khí công lại dễ chữa theo quy luật “3 hành liền nhau có bệnh thì chữa vào hành giữa “

Môi thuộc thổ, sinh kim là phế, phế mới nuôi thận, như vậy hành giữa là phổi, chỉ cần tập khí công làm mạnh phổi, để mẹ của phổi là tỳ được nghỉ ngơi dưỡng bệnh cho khỏe không bị thận lấn lướt và phổi mạnh điều chỉnh chức năng thận không bị khát nước, hay khi uống nhiều nước mà thận không đủ khí mạnh chuyển hóa nước thành khí.

Những người trước kia môi không bị thâm đen, nhưng nếu vì lý do bệnh phải truyền nước biển qúa nhiều, nên hậu qủa làm hư thận khiến môi thâm đen vĩnh viễn chữa lâu khỏi, nếu không biết tập khí công làm mạnh phổi (thuộc Khí), và cấm kỵ không bao giờ được buồn thở dài chán đời (thuộc Thần) lại làm phổi hư không chữa cho phổi mạnh được, khiến phế hư càng thêm hư, thì bệnh thận cũng không thể khỏi được, đã không được buồn mà lại phải ăn thêm cay thuộc Tinh, luyên hơi thở cho dài như niệm Phật thuộc Khí và Thần, hay tập hát Karaokê vừa được luyện khí vừa giúp tinh thần vui vẻ yêu đời, ăn cay cho xuất khí ra da sáng lên…. ..

Bệnh nhân nói không buồn mà lo, lo là bệnh của tỳ vị hư thay vì nó mạnh khắc chế được thận thủy, nhưng nó yếu thì thận thừa khắc nó.

Bổ thận không chỉ bằng thức ăn mà về tinh thần phải bỏ cái sợ là nguyên nhân làm hại thận, bỏ cái lo là nguyên nhân hại tỳ, bỏ cái buồn là nguyên nhân hại phế.

Tập khí công bài Vỗ Tay 4 Nhịp làm mạnh phế, Kéo Ép Gối Làm Mềm Bụng làm thông khí toàn thân và làm mạnh thận..

Tất cả các bệnh đều phải biết hư hay thực ở khí lực hay huyết lực hay hàn nhiệt, nhờ số đo áp huyết đo ở hai tay so với tiêu chuẩn tuổi mỗi ngày trước và sau khi ăn để phát hiện kịp thời thành phần thức ăn hay thuốc uống ngày hôm nay ăn đúng hay sai với nhu cầu của cơ thể.

Cần phải đo áp huyết trước khi ăn để biết trong bữa cơm có nhiều món ăn, mình phải chọn món nào, kiêng món nào đối với bệnh của mình. Ăn xong 30 phút đo áp huyết kiểm chứng xem những món đã chọn để ăn có ra đúng kết qủa áp huyết mà cơ thể cần điều chỉnh hay không. Như vậy sau này, mọi người biết cách tự chữa bệnh bằng cách điều chỉnh bằng thức ăn thuốc uống bằng máy đo áp huyết trước và sau khi ăn thì không cần đến thầy thuốc nữa, đó là mục đích của môn Y Học Bổ Sung Khí Công Y Đạo.

Mình chỉ sợ ăn sai làm thay đổi huyết số tâm trương thấp qúa hay cao qúa, chứ còn khí lực thì cao hay thấp thì điều chỉnh khí bằng những bài tập khí công làm tăng khí hay hạ khí được, còn làm tăng huyết hay hạ huyết phải điều chỉnh bằng thức ăn thuốc uống.

7-Ăn để điều chỉnh TINH, tập thể dục khí công điều chỉnh KHÍ :

Ở phút 27:52

Có người hỏi vẫn tập thể dục khí công sao áp huyết không lên tiêu chuẩn.

Tập khí công chỉ điều chỉnh khí, nhờ khí giúp chức năng chuyển hóa thức ăn mà không ăn đúng cho huyết tăng hay huyết giảm thì không có kết qủa. Có người hỏi : Vậy thì ăn cái gì cho có kết qủa ?

Những thức ăn phải theo ngũ hành và phải theo nguyên tắc con hư bổ mẹ, mẹ thực tả con.

Tập khí công chỉ làm tăng hay giảm khí lực, còn ăn mới làn tăng hay giảm huyết lực.

Thí dụ ai áp huyết thấp phải kiêng ăn dưa chua, dứa, dừa, chanh, cam, bưởu, khổ qua, kem, sữa ensure, sữa đặc hay sữa bột, dưa hấu, pepsi…những món này chỉ hợp vớp người áp huyết cao cần làm cho thấp.

Thí dụ những người áp huyết thấp thì cần phải ăn thức ăn bổ máu, cần cay, nóng, ngọt mới làm tăng áp huyết, như phở, củ dền đỏ, bún bò huế, nhãn, xoài, sầu riêng, trái hồng, cam thảo, coca…

8-Tai thuộc thận hiện dấu hiệu bệnh hiện trên tai..

Ở phút 29:00

Nếu tai mầu trắng thuộc phế hư làm thận hư, nếu uống nhiều nước thận càng hư thì tai dầy lên.

Nửa tai trên chỉ tuyến thượng thận là chức năng thận dương, nửa tai dưới là thận âm, mầu của tai hồng như da mặt là thận tốt, mầu đen là thận có bệnh thực, mầu xanh là gan hư thận hư, mầu trắng là phế hư thận hư, mầu đỏ là hỏa thừa khắc thủy, thận khô nhiệt, nếu trong tai sờ vào thấy có hột gạo dầy lên mà không đau, nhìn không thấy mà sờ thấy là trong thận có bướu, thận trắng phù nước là thận hư không còn chức năng lọc thận thì phải lọc thận nhân tạo.

Tai bên nào bệnh thì thận bên đó bệnh.

9-Bệnh bướu vú ở phụ nữ.

Ở phút31:10

Vú thuộc tạng phủ nào ?

Bao tử là nơi chứa thức ăn nuôi mạng sống người mẹ, thì vú cũng là bầu sữa, là bao tử nuôi con khi sanh ra, nên nó có liên quan đến bao tử. Người mẹ ăn món gì thì hôm đó thức ăn trong sữa cho em bé bú cũng có thức ăn ấy, nên người mẹ ăn sai, con cũng bị nuôi những thức ăn sai ấy.

Con cũng được nuôi theo tính-khí-vị của thức ăn, con cũng được nuôi dưỡng bằng 3 yếu tố Tinh-Khí-Thần, người mẹ có bệnh về tạng khí như phong, hay phong thấp, phong hàn, phong nhiệt hay hòa…thì trong máu của con cũng có, người mẹ tinh thần thay đổi cũng ảnh hưởng ngay đến tâm tính của con đang dùng sữa mẹ, khi người mẹ đang cho con bú mà có một cơn giận nộ khí xung thiên thì sữa đó tức khắc bị nhiễm độc tố làm con bú phải sẽ bị bệnh nặng hay chết ngay.

Như vậy vú của phụ nữ là bộ máy tạo ra sữa, nên khí huyết và những tế bào chức năng của vú dù có con hay không có con, nó vẫn phải được nuôi dưỡng thay đổi khí-huyết trong vú mỗi ngày, dấu hiệu của vú phụ nữ hiện ra ở vị trí góc gò má dưới đuôi mắt có một gò thịt nhỏ, mầu hồng như da mặt.

Khi cơ thể thiếu máu, thì gò này mất mầu hồng, thiếu khí do chán đời hay thở dài hại phổi không nuôi ra tới da thì da nhăn, gò này cũng mất căng mà bị nhăn lại, thì thể tích vú cũng nhăn lại, làm tắc tuyến vú vì không đủ khí huyết dẫn vào vú, các tế bào trong vú bị cô lập thành khối cục, nhìn hình thể vú thì không thấy, nhưng sờ nắn thì cảm thấy có cục. Nếu vú nào có cục thì gò này cũng nổi một cục vừa nhăn xám đen so với gò bên kia thuộc vú bên kia, và sờ nắn vú bên không bệnh không có cục. Bệnh nhẹ thì chỉ có cục mà không đau, gọi là bướu lành, sờ nắn đau là buớu độc có huyết ứ, sữa ứ nặn bóp ra chảy ra đầu vú nước sửa vàng đục hay máu đen… đó là bệnh ung thư vú.

Nếu người mẹ ăn sai thành tâm tỳ hư, thì con cũng bị tâm tỳ hư thành bệnh tiêu chảy, người mẹ thích ăn theo ý người mẹ không đúng hợp với cơ thể mình củng làm cho mình bệnh, mà con cũng càng ngày càng bệnh, nhiều người hỏi tại sao con của con hay bị bệnh từ lúc sanh ra cho tới giờ cứ bệnh hoài, chữa hoài không khỏi…mà không biết con bệnh tại mẹ.

Có người hỏi có những đứa trẻ sinh ra không đi đái được nguyên nhân tại sao ?

Nguyên nhân tại mẹ nó cũng có bệnh bí tiểu do ăn những chất nóng hại thận thành nhiệt nên bí tiểu, thức ăn này nuôi con đang bú thì con cũng bị bí tiểu.

10-Mẹ không đủ máu áp huyết thấp muốn có con, chỉ làm hại cả mẹ lẫn con .

Ở phút thứ 32:20

Một người mẹ có áp huyết thấp, thiếu máu, thiếu khí nhiều thì không tạo thai được, nếu có thể tạo thai thì thai cũng không phát triển, nếu có sinh ra được thì trẻ èo oặt, bệnh hoạn cả đời làm khổ cả mẹ lẫn con, con ốm yếu bệnh hoài, mẹ phải nuôi con bệnh cả đời, lớn lên nó không phát triển nó lại thiếu khí huyết sẽ bị bệnh ung thư. Nguyên nhân chúng ta cũng biết trước nhờ máy đo khí huyết biết thiếu khí, thiếu huyết không đủ nuôi các tế bào cho đủ làm sao mà khỏe mạnh được.

Mẹ tim suy, thì con tim cũng suy, mẹ mất máu não thiếu trí nhớ thì con cũng thiếu máu não, lớn lên cũng sẽ bị mất trí nhớ sớm, nếu lớn lên nó không tự biết điều chỉnh khí huyết bằng ăn uống.

Ngược lại cha mẹ bị bệnh cao áp huyết, ăn uống dư thừa, sinh con ra còn nhỏ tuổi mà cũng dư thừa khí lực, huyết lực, nó sẽ bị bệnh cao áp huyết, chảy máu mũi, hiếu động, động kinh, co giật, lớn lên không biết ăn uống hợp lý để điều chỉnh khí huyết thì nó cũng bị bệnh cao áp huyết sớm ở tuổi thanh niên, so với áp huyết theo tiêu chuẩn tuổi.

Con bệnh tự kỷ là bệnh tâm thần cũng do tinh thần của của cha mẹ có xung khắc không hòa thuận thì tình cảm đứa con theo ai đây, nên tâm tánh nó cũng bất thường, ghét mẹ ghét cha, sợ mẹ sợ cha, tạo cho mình đời sống cô lập để tự bảo vệ mình, hành động theo ý mình không nghe lời ai…Thí dụ người mẹ thận hư sinh con cũng thận hư, cái gì nó cũng sợ…còn cha mẹ áp huyết cao tính nóng giận thì con cũng áp huyết cao sinh hiếu động ưa giận không hài lòng bực bội với mọi người.

Còn trẻ nào sanh ra ngồi đâu ngồi đó tính tình không vui là do cha mẹ chán nản buồn rầu, ly dị không có sức sống thì con cũng không có sức sống….

Tại sao có những cảnh như vậy, theo vật chất thân bệnh do Tinh-Khí-Thân, nhưng còn do Nghiệp bệnh, theo giáo lý Phật giáo là nhân qủa, con sinh ra làm con của mình có hai nguyên nhân làm con để vào gia đình mình đòi nợ mình, chỉ làm khổ cha mẹ, hay vào làm con để trả nợ cha mẹ chỉ làm lợi cho cha mẹ. Khi đòi hay trả hết nợ thì chết trước khi cha mẹ chết, còn hết nợ nhau thì cha mẹ chết hay lưu lạc còn lại một mình thì mình lại tiếp tục mình trả nghiệp của mình để mình sướng hay khổ trong cuộc đời này, và những công việc làm đời này tạo nhân cho đời sau.

Có người hỏi, có những đứa trẻ mặt nó vui, nó lên chánh điện nó thích lạy Phật là sao ? Nó có nghiệp căn kiếp trước là người tu.

Có người hỏi một trẻ tự kỷ khi vào chùa nó cũng tự động lễ lạy Phật. Đó là căn trong kiếp trước nó có tu, biết đến Phật pháp, nếu nó được tu thì nghiệp tự kỷ của nó hết vì nó hết bị ảnh hưởng của cha mẹ cả 3 mặt Tinh-Khí-Thần, Tinh thì ăn chay thanh lọc nghiệp xấu, khí thì niệm Phật tụng kinh, học được những điều thiện lành, Thần là được tự tại an lạc, bệnh tự nhiên khỏi.

Một vị sư biết khai ngộ thì đã biết nhân qủa của đứa trẻ, những điều này trong kinh nhân qủa có dạy.

11-Thường bị giựt nhẹ lăn tăn quanh vòng môi dưới :

Ở phút thứ 34:55

Chung quanh môi là ruột già hiện lên vòng trắng xanh quanh môi là có bệnh đường ruột già bị hàn lạnh, sinh ra bệnh tiêu chảy, nếu có uống nhiều nước qúa thành bệnh liệt ruột do phình ruột, cơ co bóp ruột bị giãn.

Cái cằm là dấu hiệu của bọng đái một là hư tiểu nhiều, hai là bí tiểu, nơi này bệnh nhân có cơ dưới cằm giựt nhẹ lăn tăn. Hỏi bệnh nhân đi tiểu nhiều hay ít. Trả lời ít, như vậy bàng quang có vấn đề. Bệnh nhân cho biết nó ngứa, đau nhức, là bàng quang nhiễm độc.

Có một lần tôi đến nhà bạn chơi, cửa cổng xa, ông ra mở cửa mà chân đi dạng háng có vẻ đau đớn giống như người bị bệnh trĩ, tôi hỏi ông bị bệnh gì mà tướng đi kỳ thế. Ông trả lời là bị mọc cái mụn ở hậu môn nên đi đụng vào nó đau qúa.

Tôi nói để tôi chữa cho khỏi ngay. Phần thịt tròn dưới cằm là bọng đái, dưới bọng đái là hậu môn, tôi cầm cây bút cà qua cà lại tìm xem có cục cộm trong vùng bọng đái hậu môn không, thì tìm thấy 1 cục, ấn bút đè mạnh vào cục đó, giống như có gai, ông ấy giẫy lên kêu đau qúa, khi ấn hết đau, ông ấy đứng lên đi thì hết đau, vì mụn đó tự vỡ mủ. Thầy diện chẩn Lý Phước Lộc gọi là “đồng thân trị liệu”.Bệnh trĩ cũng nằm đó, bệnh bí tiểu cũng nằm đó, không cần tên huyệt……

12-Trĩ phía trong bị ngứa :

Ở phút 37:40

Đó là trĩ nội. Do ăn nhiều cay nóng hại da thì ngứa. Còn người có bệnh trĩ không bị ngứa là không có ăn cay.

Dùng rau Dấp Cá giã nát lấy cả nước và cái, lấy bông gòn quấn vào đầu ngón tay tấm nước rau Dấp Cá, ngoáy sâu ngập ngón tay vào hậu môn xoay vòng để rửa vết thương, dùng bã dấp cá đắp bên ngoài hậu môn, dán băng keo hay cột không để rớt ra ngoài, trước khi đi ngủ. Dùng thêm lá Dấp Cá ăn sống nhai ra nuớc rồi nuốt để trị ngứa, cầm máu.

Ở phút 38:15 tiếp tục giảng về ung thư vú, vị trí này ai cũng có, nhưng có bệnh ung thư vú phải có thêm điều kiện, vô cớ thở dài, chán đời, áp huyết thấp.

13-Kinh nguyệt 2-3 tháng mới có một lần ra rất là nhiều :

Ở phút 40:05

Kinh nguyệt do rụng trứng (noãn sào) hàng tháng, nếu gặp tinh trùng thì tạo thai, không gặp tinh trùng thì thành máu xấu phải xuất ra ngoài đúng kỳ thì gọi là kinh nguyệt. Áp huyết thấp không đủ máu trong người nuôi tế bào chức năng lấy gì mà nuôi trứng, nên 2-3 tháng mới đủ rụng trứng 1 lần, mà không kinh nguyệt hàng tháng là không rụng trứng lấy gì có con. (Học viên ồ lên : À đúng rồi hay qúa !).

Trứng cũng là máu, nhưng thiếu máu nên trứng không khỏe cũng không đậu thai được.

Theo đông y, 40g máu mới tạo được 1g tinh, 40 g tinh mới biến thành 1g tủy, 40g tủy mới biến thành 1g tế bào não, mà con người làm sao có đủ máu và đủ khí để biến hóa đúng ra được theo lý thuyết, vì máu càng ngày ngày thiếu hụt dần không đủ nuôi tế bào chức năng.

Những người tu hành không phạm giới dâm nên khí chuyển máu thành tinh, chuyển tinh hóa tủy gọi là hoàn tinh bổ não.

14-Tại sao áp huyết thấp mà người rất nóng, đó là dấu hiệu ung thư..

Ở phút 44:44

Thay vì đủ máu thì tim bơm máu thong thả với nhịp tim 75 lần, nhưng vì thiếu máu tim phải bơm thật nhanh cho máu ra đến đầu tay chân, nhưng chưa ra hết đầu tay chân thì hết lượng máu lại phải chạy trở về trả lại máu cho tim nhận oxy đổi máu đỏ để bơm tiếp, nên tim phải bơm nhanh và mạnh đến 120 nhịp trở lên, khiến bên trong người nóng lên, nhưng máu không đủ ra đến da và tay chân nên bên ngoài tay chân rất lạnh, phải mặc áo ấm.

Theo lý thuyết đông y, mạch nhanh là nhiệt thì nhịp đập 120 là nhiệt nhưng chân tay và da lại lạnh, mà áp huyết thấp tâm thu là thiếu khí lực, thấp tâm trương là thiếu huyết lực, trong người lại nóng theo nhịp tim, sờ chân tay lại lạnh, đông y gọi là chứng bệnh nan y, nhiệt gỉa hàn,

Thí dụ nếu áp huyết một người là 125/60mmHg nhịp tim 120, trong người nóng, miệng khô, lở môi miệng, chân tay, da lạnh phải mặc áo lạnh, thì đây là áp huyết gỉa để lừa gạt tây y, đông y bắt mạch biết là bệnh nan y, nhưng không chứng minh được cho tây y biết là bệnh nan y, còn KCYĐ đổi áp huyết giả thành áp huyết thật, là nếu người không bệnh tiêu chuẩn nhịp tim bình thường không nhanh là không nóng, hay không chậm là không lạnh, thì nhịp tim là 75, vì thiếu máu nên cơ thể phải tăng khí lực tối đa mà cơ thể có để giúp tim phải đập nhanh đưa máu đi nên nhịp tim đập nhanh hơn so với bình thường 45 nhịp (120-75=45), như vậy khí lực cũng đã phải tăng thêm 45mmHg, vậy áp huyết thực bây giờ là :

125-45/60mmHg nhịp tim 120-45 hay 80/60mmHg nhịp 75. Kết luận bệnh nhân đang bị bệnh ung thư.

Khi áp huyết giả xuống 115/60mmHg nhịp tim 120 thì áp huyết thật sẽ là 70/60mmHg nhịp 75 là sắp chết.

Đây là áp huyết đánh lừa các thầy thuốc đông tây y, nói rằng áp huyết bệnh nhân rất tốt, không có vấn đề, chỉ tại nhịp tim cao thôi.

Chúng ta xét một bệnh án như : Áp huyết tay trái sau khi ăn 95/62mmHg 86, tay phảí 102/59mmHg 83 tay chân lạnh, người nóng, tuổi trung niên nhịp tim 75..

Nhịp tim tay trái nhanh hơn 86-75= 11, áp huyết thật tay trái 95-11/62mmHg nhịp tim 75, hay 84/62mmHg nhịp tim 75

Nhịp tim tay phải nhanh hơn 83-75=8, áp huyết thật là 102-8 hay 94/59mmHg nhịp tim 75

Kết luận : Áp huyết sắp xuống thấp sẽ trở thành ung thư nếu bao tử không chứa đủ chất bổ máu cung cấp máu cho gan thiếu (còn 59), và không tập luyện khí công tăng khí lực để áp huyết bên tay phải khí lực xuống 80 thì bệnh ung thư thành hình.

Do đó muốn tăng khí lực cần phải uống Coca cho tăng khí lực, tăng đường chống mệt tim, và tẩy rửa những thức ăn cũ không tiêu trong cơ thể, nó cũng chính là đồng lỏa giúp hình thành tế bào trở thành ung thư ác tính.

15-Tại sao hành kinh bị đau bụng

Ở phút 45:40

Nếu đủ máu nhưng người nhiệt, máu đặc không ra được mới đau do dư calcium trong máu, hoặc áp huyết thấp thiếu máu, không đủ khí lực tống ra, nên máu xấu bị ứ lại thành huyết bầm vón cục gây sưng tắc vòi trứng, tùy theo nơi đau ở ngay giữa bụng dưới là cổ tử cung hay sưng hai bên buồng trứng.

Nếu kinh không ra được làm nhức đầu, gọi là nhức đầu do đau bụng kinh, máu ứ bị giữ lại không ra kinh, khi tập bài Kéo Ép Gối mỗi ngày làm tăng khí lực thì sẽ hành kinh đều ra dễ không bị đau bụng kinh

Trường hợp máu rỉ ra bầm, bụng dưới cứng to có cục cộm là bướu cổ tử cung, do máu ứ lại lâu ngày tạo thành…

Cách chữa buớu cổ tử cung to bằng trái cam, bác sĩ phụ sản khám tưởng có thai 3 tháng :

Trong dân gian thường đắp cao khoai sọ :

Có 2 giai đoạn :

a-Cách làm cao :

Mỗi lần dùng 200g khoai sọ hoặc củ nhánh của khoai môn, mục đích dùng vỏ và lông ngoài vỏ khoai nhiều hơn, nó là chất thuốc đặc biệt, 200g gừng già có vỏ. Cả hai rửa sạch đất, đem xay hay giã nát nhuyễn, không cho nước. Sau đó cho 1 muổng bột (,mì hay gạo…) nhào chung cho thành một chất dính kết. Lấy ra đổ lên trên một miếng nylon, khoảng chừng 1 tấc vuông, dầy 1cm.

b-Chất xúc tác :

Lấy 1 củ gừng chừng 50g đập nát, bỏ vào nồi nưóc nấu sôi vừa. Dùng khăn dầy, nhúng vào nước gừng rồi vắt khô, chờ giảm nóng còn khoảng 60 độ, đắp trên chỗ sưng đau ở bụng dưới cho đến khi hết nóng, đắp lại vài lần như thế. Mục đích tác động trên chỗ bướu làm mềm, giảm đau, làm cho bướu nóng lên sẽ tăng tính hấp thụ thuốc của miếng cao, và làm giảm ngứa của cao khoai sọ khi đắp lên bướu.

Mỗi tối, trước khi đi ngủ, phải đi tiêu tiểu xong, nằm trên giường, đắp chất xúc tác chừng nửa giờ, rồi đặt miếng cao lên, dùng băng cột buộc cho khỏi rớt thuốc khi ngủ.

Phản ứng của thuốc rất ngứa nếu không dùng chất xúc tác sẽ không có kết qủa. Nhờ đắp chất xúc tác, đêm đỡ cảm thấy ngứa, nhưng cảm thấy như có kiến bò. Sáng ngủ dậy thấy cao khô thành bột rời rơi vãi ra ngoài.

Đắp khoảng 10 tối, khi nào thấy sáng ngủ dậy cao thuốc vẫn còn chất nhão mà không khô, là bướu không còn, nên hết rút chất thuốc của miếng cao.

Bài thuốc này đã chỉ cho những người bị bướu to bằng trái cam, bác sĩ tưởng lầm bệnh nhân có thai bị làm băng, sau biết là bướu, đề nghị phải mổ gấp. Trong khi chờ thời gian đến ngày hẹn mới mổ, bệnh nhân làm băng đau qúa, đã tạm dùng phương pháp trên để cầm cự. Nhưng sau đó không thấy bướu và làm băng, đi khám lại không còn bướu. Bài cao khoai sọ cũng chữa có kết quả bệnh lao hạch cổ.

Trong tử cung có huyết xấu gây đau bụng, dân gian thường giã lá rau ngót 1 nắm uống, để trục máu xấu, trục nhau còn sót sau khi sanh chưa ra hết, nó có tính co bóp tử cung mạnh nên phụ nữ đang mang thai cấm dùng.

16-Chân tay lạnh, da chân dầy :

Ở phút 1:04:09

Tắm ngâm người vào bồn tắm nước nóng ấm pha với 1 lít nước nấu sôi với 200g gừng già giã nát, ngâm ngập người trong nước ấm gừng cho đến khi nguội thì xong, lau khô người. Khi ra gió không cảm thấy lạnh nữa.

Còn chai chân do huyết đọng lại dưới bàn chân lâu ngày bị hóa vôi gọi là huyết hóa vôi, ngâm bàn chân hay gót chân vào dầu nguyên chất huile de glycérine 100% có tính chất tan trong nước, rửa chà chân cho sạch, lau khô, rồi đổ dầu vào một cái thau nhỏ hay một cái hộp bằng nhôm (hộp đựng bánh biscuit) đặt được vừa bàn chân vào ngâm 30 phút, xong lau khô. Dầu thấm vào da làm da chân mềm hết bị chai. Áp dụng mỗi ngày hay mỗi tuần cho đến khi khỏi bệnh.

Dầu glycérine thường có pha vào các mỹ phẩm để đem thuốc mỹ phẩm thấm được vào da.

17-Rong kinh, hở cổ tử cung, sa tử cung:

Ở phút thứ 1:08:40

Nấu 1 lít nước với 1 củ nghệ giã ra và 1 cục phèn chua, cả 2 to bằng ngón tay cái cho tan, đổ vào 1 cái bô cao, loại thường cho những người già ngồi đi cầu, xông cửa mình với nước thuốc này mỗi ngày sẽ khỏi. Phèn chua sát trùng làm se lại săn da, khô da, nghệ cũng sát trùng lành vết thương.

Dân gian dùng phèn chua làm lắng nước sông hay nước giếng đục thành trong.

18-Phèn chua với dứa chữa sạn thận, bàng quang :

Ở phút 1:10:20

Mua 1 qủa dứa (tên khác là thơm, khóm), gọt vỏ, cắt phần đầu làm nắp đậy, khoét một lỗ sâu 3cm, đổ vào lỗ một muổng nhỏ (muỗng cà phê) bột phèn chua (mua cục phèn chua nhỏ giã ra thành bột), rồi đậy nắp lại, bỏ qủa dứa vào lò nướng cho chin vàng (nướng 300 độ F lâu 30-45 phút), lấy ra, vắt lấy nước cốt, được chừng 2 ly. Tối đi ngủ uống 1 ly, mục đích làm cho sạn thận và bàng quang mềm ra như trứng gà non. Sáng vừa thức giấc, uống 1 ly còn lại, nằm nghỉ 30 phút, mục đích làm cho vỡ sạn thành bột bụi, rồi đi tiểu. Để ý nước tiểu đục như nước vo gạo hay như nước vôi, mùi nước tiểu rất khai.

Triệu chứng của sạn thận là có cơn đau thắt từ bụng lan ra sau lưng, có khi đau từ thắt lưng sang bụng, mệt mỏi, nói không ra hơi, đi lại mạnh thì đau, không ăn uống được, có lúc nghĩ là bệnh đau lưng, có lúc nghĩ là bệnh đau bụng, nhưng không đi cầu…Sau khi uống nước dứa phèn chua một ngày, những triệu chứng kể trên biến mất, không còn đau đớn, thở dễ, nói cười sang sảng như người hết bệnh.

19-Nóng trên đầu là bệnh gì ?

Ở phút 1:12:00

Trên đỉnh đầu thuộc gan, nóng trên đỉnh đầu là gan nhiệt do huyết lực dư, thăng lên đỉnh đầu là khi, như vậy là bệnh áp huyết cao bên tay phải do gan dư khí lực, dư máu.

Tất cả các bệnh đều lý luận theo ngũ hành, theo khí lực, huyết lực, hàn nhiệt của máy đo áp huyết và bộ vị tạng phủ trên đầu mặt.

20-Tại sao bị bệnh bướu cổ ?

Ở phút thứ 1:12:20

Chẩn đoán bệnh theo kết qủa số đo áp huyết của một bệnh nhân, Đường-huyết 74mg/dL, Tay trái bao tử sau khi ăn 2 giờ vẫn còn cao hơn tiêu chuẩn là ăn không tiêu, khí không đi xuống mà khí thăng lên cổ thành bướu cổ.

Nguyên nhân thứ hai do khó tính, luôn ngậm miệng, khí lên mà không thoát được ra ngoài miệng được nên bị ứ đọng tại cổ thành bướu cổ.

Nhìn mặt biết bị hở van tim, má bên phải phình hơn bên trái đúng với số tâm trương bên phải 81 cao hơn bên trái 79, nhưng cả 2 cao hơn tiêu chuẩn tuổi (65-70).

Sờ trán nóng là bao tử nhiệt thì đúng với nhịp tim đo được bên trái 75, do thức ăn nhiệt, bên phải 72 (tiêu chuẩn 65-70)

Tập bài vuốt cổ cho hạ khí làm áp huyết hạ thấp, và nằm Kéo Ép Gối Thổi Hơi Ra Làm Mềm Bụng 200 lần thông khí toàn thân, bài Vỗ Tay 4 Nhịp điều chỉnh tim co bóp cho nhỏ lại, vì bị hở van tim,

Hướng dẫn một bệnh nhân tập mẫu bài Kéo Ép Gối. Khi bao tử ra hết hơi thì bướu cổ hết, nếu không thổi ra hay tập niệm Phật cho hơi thoát ra mà cứ hít vào bướu cổ càng phình to, sẽ làm hơi thở ngắn, khó thở trở thành bệnh suyễn. Muốn cho khí xuống thì không thở bằng phổi sẽ hít vào nhiều hơn thở ra, còn bịt mũi (nhét bông gòn) thở bằng miệng là thở sâu xuống bụng thì khí bao tử đi xuống, áp huyết xuống, khí của bướu đi xuống và làm hạ áp huyết, vị khí sẽ xuống làm tiêu hóa thức ăn.

Nếu hít vào bằng mũi mà bị bệnh suyễn ngắn hơi hụt hơi, lâu lâu lại phải xả khí thành thở dài, lại sinh ra bệnh thỉnh thoảng thở dài, nếu thêm chán đời nhiều năm 5-10 năm, thì lại biến thành bệnh ung thư vú, khi áp huyết và đường xuống thấp.

Hay buồn ngủ là thiếu đường, bệnh nhân vừa ăn chè đường mới lên được 7.4mmol/l, nếu chưa ăn thì đường sẽ thấp hơn như 5.0mmol/l. Điều kiện tế bào biến thành ung thư do thiếu khí lực, thiếu huyết lực, thiếu đường.

Đừng sợ dư đường, chỉ đi lên đi xuống cầu thang đường xuống nhanh lắm, chỉ cần tập khí công không bao giờ sơ bị bệnh tiểu đường.

21-Hướng dẫn tập thể dục Khí Công Tịnh Độ

Ở phút 1:20:32 đến hết.

Thân

doducngoc