Bài 131: Bệnh nan y, áp huyết thấp, khí huyết thiếu, tâm can tỳ phế thận hư yếu sinh ra nhiều biến chứng..

TỰ HỌC CHỮA BỆNH QUA ĐIỆN THƯ

Xin gởi câu hỏi về doducngoc@gmail.com

o O o

Bài 131:

CÁCH CHỮA :
Bệnh nan y,
áp huyết thấp,
khí huyết thiếu,
tâm can tỳ phế thận hư yếu sinh ra nhiều biến chứng..

Câu hỏi:

Kính Gửi Thầy Đỗ Đức Ngọc

Thưa Thầy.

Con là LN Sơn, sống ở CH Ba lan, năm nay con mới 57 tuổi mà mang nhiều loại bệnh quá. Vừa rồi tình cờ đọc được trang về Khi Công Y Đạo của thầy, mừng như người được Trời Phật cứu giúp. Tiếc rằng không ở Canada để đến trực tiếp nghe thầy hướng dẫn chữa bệnh.

Nay trước khi đi vào tập các bài Khí công của Thầy cho chính xác, con muốn được thầy nói cho con được biết con bị chứng bệnh gì? Phủ tạng nào hư, thực, hàn nhiệt vv. . ? cách chữa và các bài tập khi công nào trước? bài nào sau?

Tự 10 năm nay con luôn cảm thấy mỏi mệt. Ngủ ít, trằn trọc khó ngủ, hay lo lắng hồi hộp. Đêm ngủ rất khó thở – phải nằm nghiêng mới thở được, hơi thở ngắn (Tây y phát hiện hay ngừng thở trong đêm có khi tới 1 – 2 phút và cho đeo máy thở để ngủ) .

Tiêu hóa thì đi phân lng, ngày 2 – 3 lần. Đi kiểm tra tiểu đường thì thấy đường trong máu cao hơn bình thường. Răng lung lay rơi rụng mất 7 cái; mặt trái thị hồng hẳn do nhãn áp cao mà không kịp thời nhỏ thuốc. Người hay ra mồ hôi. Ngủ dậy thường thấy người ướt đẫm mồ hôi. Lưng hay mẩn ngứa.

Bộ phận tiết niệu hay đau buốt, ngứa ngáy. Siêu âm Tiền liệt tuyến tớ 60x 33x 40 mm. Đêm đi tiểu nhiều 2 – 3 lần và bí tiểu. dương vật khó cương cứng, nếu có sinh hoạt xuất tinh đi sau đó sẽ đau đường tiết niệu âm ĩ cả tuần.

Huyết áp thường xuyên thấp, hiện giờ là 91/60/85. kết quả thử máu gần đây cho thấy axít uric cao 7, 8 mg/dl, Cholesterol DHL =47 mg/dl (hơi thấp) ;LDL= 111 mg/dl (cao) . Tim đập nhanh thỉnh thoảng thấy nhói đau ở vùng tim. Đặc biệt đã từ lâu cứ khi ngủ là 2 tay tê bại, cấu không thấy đau, 2 chân cũng đau nhức song không ở mức tê bại. Tây Y cho thuốc loãng máu, giảm cholesterol và giảm axít uric, còn tê bại tay chân thì chuẩn đoán là chèn ép thần kinh cột sống. Đi chụp cắt lớp thì có kết quả là thoát vị đĩa đệm L1 – L3 ở dưới và ở trên cũng có thoát vị đĩa đệm.

Con đã từng về Việt nam và sang cả Trung quốc bắt mạch, Có thầy nhìn lưi nói rãnh giữa lưỡi sâu là khi huyết hư. Con bốc thuốc sắc thì có cảm thấy khoẻ, ăn ngủ tốt hơn được vài tháng sau lại trở về trạng thái mỏi mệt như cũ mặc dù con vẫn có thường xuyên tập thể dục và thỉnh thoảng đi bộ.

Con cũng đã và đang sử dụng cả các loại thực phẩm bổ xung chức năng của hãng Vision thì có ăn ngủ tốt hơn, nhưng nếu không dùng thuốc 1 tuần thì lại rơi vào trạng thái mệt mỏi chỉ muốn nằm, không muốn nói năng hay làm gì.

Con mong thầy hướng dẫn cho con chữa được các bệnh của mình. Nếu được khỏe ra con sẽ nguyện bay sang Canada để học thêm về Đông y để tự chữa bệnh và mong muốn lớn nữa là mời Thầy sang Balan để cứu giúp, hướng dẫn mọi người chữa bệnh bằng phương pháp khí công này.

Con kinh chúc thầy nhiều sức khỏe để cứu giúp cho đời. Con cảm ơn Thầy.

L N Sơn

Warsaw, Poland

Trả lời :

Xếp những dấu hiệu bệnh theo ngũ hành , rồi tìm nguyên nhân do chứng nào có trong đông y để so sánh :

Bệnh thuộc tâm-can : trằn trọc khó ngủ, hay lo lắng hồi hộp, huyết áp thấp, tim đập nhanh thỉnh thoảng thấy nhói đau ở vùng tim. Đặc biệt đã từ lâu cứ khi ngủ là 2 tay tê bại, cấu không thấy đau.

Bệnh thuộc phế hư : khó thở – phải nằm nghiêng mới thở được, hơi thở ngắn

Bệnh thuộc tỳ hư : Tiêu hóa thì đi phần lòng, ngày 2 – 3 lần, đường trong máu cao, mệt mỏi chỉ muốn nằm, không muốn nói năng hay làm gì.

Bệnh thuộc Đại trường-Vị nhiệt : Răng lung lay rơi rụng mất 7 cái

Bệnh thuộc gan : tăng nhãn áp

Dương hư : Ra mồ hôi ướt đẫm

Bệnh thuộc Thận-Bàng quang : Tiết niệu đau buốt, viêm tuyến tiền liệt, bí tiểu, tiểu nhiều lần.

Chứng tâm hư : (172)

Tâm động nên hồi hộp, đoản hơi, đau dưới tim, có khi lên cơn kịch phát, mất ngủ, mất sức, đổ mồ hôi, suy nhược thần kinh, bất an, sợ sệt, nói sàm, ý mông lung, không chú tâm, hay quên, mắt thiếu máu, gai sốt, chân tay gía lạnh, lưỡi nhạt rêu ít. Tùy theo tâm khí hư hoặc tâm huyết hư sẽ có dấu hiệu riêng của mỗi loại để phân biệt

Chứng can hư : (316)

Thị lực giảm do không đủ máu nuôi mắt, gân giãn tay chân yếu, sa xệ trường vị, sa xệ tử cung dây chằng, sinh dục giảm, nghẹt cứng dưới tim, tiểu nhiều lần do cơ vòng yếu, bụng căng sình, ù tai, thính lực giảm, hoa mắt, choáng váng, tê dại, móng chân tay khô, cảm thấy sợ như có ai bắt, huyết áp giảm. Can hư mãn tính làm ra chứng can cực gây nên co giật run

Chứng phế thận lưỡng hư : (280)

Do hai nguyên nhân khác nhau có dấu hiệu lâm sàng khác nhau :

– Do phế thận khí hư:

Phế chủ hô hấp là ngọn của khí, thận chủ nạp khí là gốc của khí. Khi cả hai hư thì ngắn hơi, suyễn thở gấp, người ớn lạnh, tự ra mồ hôi, chân tay lạnh, ho có nhiều đờm, thường gặp ở bệnh viêm phế quản mạn tính, phế khí thủng.

– Do phế thận âm hư:

Có nguyên nhân như phế hư không nuôi thận, có nguyên nhân thận hư không hóa khí hoặc hư hỏa hun đốt phế nên có dấu hiệu ho khan, ngắn hơi, họng khô, lưng gối mỏi, nóng âm ỉ trong xương, nóng từng cơn, di tinh, ra mồ hôi trộm, thường gặp ở bệnh lao phổi.

Chứng tỳ khí hư : (218)

Do tỳ khí hư nhược ở tạng người yếu, hoặc lao động vất vả, lại ăn uống kém, hoặc tỳ âm không đủ, có dấu hiệu tiêu hoá kém, bụng đầy, sôi bụng tiêu chảy, bệnh mạn tính làm vàng da, trung tiện, ăn ngủ không ngon, ăn không tiêu, hễ ăn vào bị trướng bụng, nặng nề mệt mỏi, tiêu chảy, gầy ốm, sắc mặt vàng héo hoặc trắng, hơi phù do suy dinh dưỡng, tứ chi lạnh, hay nằm, lười nói, không thích vận động, lưỡi nhợt nhạt rêu trắng.Tỳ hư mạn tính làm ra chứng nhục cực gây ra bệnh cơ bắp mềm yếu, uá vàng, teo nhỏ.

Chứng thận âm hư : (296)

Do thận tinh hao tổn qúa độ, mất máu, mất tinh, mất nước, làm di tinh, ù tai, răng lung lay, đau mỏi lưng đùi ê ẩm, đầu gối yếu, liệt dương, ho lâu ngày, nóng về đêm, mồ hôi trộm, cơ thể gầy yếu suy nhược, âm hư hỏa vượng do suyễn, viêm nhiễm lâu ngày, vì mất dịch chất nên khô miệng, họng đau, váng đầu, tóc bạc hoặc hay rụng tóc, chóng quên, táo bón, tiểu ít, áp huyết tăng, hai gò má đỏ bừng, lòng bàn tay bàn chân nóng, chất lưỡi đỏ, rêu ít. Thận âm hư mạn tính làm ra chứng cốt cực gây ra bệnh răng trồi, chân yếu liệt

Chứng bàng quang thấp nhiệt : (313)

Do cảm nhiễm thấp nhiệt ở biểu thuộc vệ khí của bàng quang làm bàng quang bệnh có dấu hiệu tiểu nhiều lần, đái vội, lượng ít, đái đau đường niệu, nước tiểu vàng sậm hoặc ra máu, chất lưỡi đỏ, rêu vàng, thường gặp ở bệnh viêm bàng quang cấp tính

Cách lý luận :

Cả 5 hành đều bệnh là can mộc, tâm hỏa, tỳ-vị thổ, phế kim, thận thủy. Không thể chữa theo từng hành, vừa chậm, vừa nuôi bệnh vì chữa hành này chưa khỏi, bệnh đã truyền kinh sang hành khác. Lại cũng không thể chữa một lúc năm hành, là phạm ngũ hành. Nên cách chữa bây giờ quy về Khí và Huyết .

Bệnh này theo khí công là khí hư, huyết thiếu căn cứ vào số đo áp huyết 91/60mmHg 85 so với tiêu chuẩn của khí công :

95-100/60-65mmHg, mạch tim đập 60 là áp huyết ở tuổi thiếu nhi.( 5 tuổi-12 tuổi)

100-105/60-65mmHg, mạch tim đập 65 là áp huyết ở tuổi thiếu niên (13 tuổi – 17 tuổi)

110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi)

120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)

130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)

Nếu so sánh khí huyết của một thanh niên 110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 thì số đầu bắt mạch theo đông y gọi là mạch Trầm (khí huyết thiếu), số thứ ba, gọi là mạnh Sác (nhiệt), khí là dương hư tự hãn, máu thiếu, mạch tim đập nhanh, mạch nhiệt, đông y gọi là âm hư nội nhiệt, thiếu máu nuôi các tế bào, và xưong cốt, các đĩa đệm teo, xương thoái hóa, còn các chức năng không đủ khí huyết để làm công việc khí hóa theo chức năng của mình, đó chỉ là những biến chứng gây ra nhiều bệnh do nguyên nhân nhân chính là thiếu khí huyết.

Cách chữa theo Tinh-Khí-Thần :

Tinh :

a- Uống Sirop bổ máu Đương Quy Tửu (Tankwe-Gin), mua ở tiệm thuốc bắc, nếu không có, nhờ tiệm thuốc bắc đặt hàng theo link này : http://www.amazon.com/Tankwe-Gin-natural-Chinese-Herb-Mix/dp/B000RHXCWE. mỗi ngày pha 2 muổng canh sirop với 1 ly nước nóng, khuấy đều uống trước mỗi bữa ăn 5 phút, cho đến bao giờ đo áp huyết lên đế 130 thì ngưng.

b- Kiêng ăn những chất chua như cam chanh, bưởi, vit.C, yaourt, cần tây…làm phá máu, phá hủy hồng cầu, làm hạ áp huyết, kiêng ăn chất hàn lạnh làm máu lưu thông chậm vì không đủ nhiệt làm tan mỡ, cholesterol…

c- Kiêng uống coca, thịt bò, đồ biển tôm cua làm tăng acid uric.

d- Tối đi ngủ uống Phụ Tử Lý Trung Hoàn ( Fu Tzu Li Chung Wan) để tăng áp huyết, tăng nhiệt ấm bàng quang, tiêu viêm tuyến tiền liệt. mua ở đây :

http://www.siumarket.com/patentformulas.htm

Khí :

a-Tập bài Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực 200 lần làm tăng áp huyết.

b-Tập 11 bài đầu thể dục khí công, chữa thần kinh, tăng cường phế khí, tay tê.

c-Tập Cúi Ngửa 4 Nhịp, Vặn Mình 4 Nhịp, giúp máu lên nuôi não, nuôi dưỡng thần kinh, làm hạ đường trong máu.

d-Dậm Chân Phía Trước, Phía Sau 5 phút, chữa tê chân, thần kinh tọa, lưng gối.

e-Tập Nạp Khí Ngũ Hành 5 phút làm tiêu viêm tuyến tiền liệt.

f-Tập bài Nạp Khí Trung Tiêu, giúp gan, tỳ-vị sinh hóa, hấp thụ và chuyển hóa

g-Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 200 lần, giúp tiêu hóa tốt, loại độc tố nhanh.

Thần :

Tập thở điều hòa âm dương giúp an thần, ngủ ngon ( hai đan điền, xem bài 121 trong link này)

https://khicongydaovietnam.wordpress.com/2010/05/27/bai-121/

Thân :

doducngoc

Tài liệu đính kèm :

Bài viết:Những bệnh có thể uống được thuốc bổ máu Đương Quy Tửu (Tankwe gin)

Video: Đứng hát kéo gối lên ngực

Video: Cúi ngửa 4 nhịp

Video: 1- Điều hòa hơi thở. 2-Cào đầu gáy. 3-Chà gáy quay cổ. 4-Vuốt gáy quay cổ. 5-Vuốt cổ quay cổ. 6-Chà tai.7-Xoa mặt. 8-Vỗ tay 2 nhịp. 9-Vỗ tay 4 nhịp. 10-Vỗ Tâm-Thận. 11-Quay vặn khớp vai.

Video: Cúi ngửa 4 nhịp

Video: 20-Nạp Khí Ngũ Hành. 21-Vận Khí Ngũ Hành.

Video: Bài tập chân: Dậm chân phía trước, phía sau – Chachacha

(mời xem phản hồi tại đây)

Advertisements