Video bài giảng 6 tại Thụy Điển

Video bài giảng 6 tại Thụy Điển

https://www.youtube.com/watch?v=p_b-FrP7jv8

Giải thích :

1-Nhìn khuôn mặt biết qủa tim bị bệnh hở van tim hay hẹp van tim:

Ở phút đầu

Nếu không nhìn mắt mũi tai miệng, thì hình dáng khuôn mặt phản ảnh hình dáng qủa tim to nhỏ tròn méo cũng giống như khuôn mặt, hai bên má bên nào hóp vào là hẹp van tim, bên nào phình ra là hở van tim.

Nhìm mặt một bệnh nhân đang ngồi trước ống kính, có một bên má hóp là bên tim đó bị hẹp, đó là bệnh tim. Bênh nhân thú nhận đang uống thuốc trị tim.

2-Đầu lưỡi cho biết tình trạng bệnh tim nhiệt hay hàn.

Lưỡi mầu hồng là tốt không bệnh, đầu lưỡi đỏ là tim bị nhiệt, do uống qúa nhiều thuốc, nguyên cả lưỡi đỏ, mầu đỏ thuộc tim, khuôn mặt má bên phải bình thường, bên trái lõm vào.

Lưỡi màu trắng nhạt là hàn tim thiếu hỏa.

Tập nhìn lưỡi mọi người để biết bệnh :

Lưỡi khô là bao tử ăn thức ăn khô qúa,

Lưỡi ướt vừa vừa hơi hông là bao tử tốt, ăn tiêu hóa tốt.

Lưỡi ướt và trắng qúa là bao tử hàn. Khi cảm lạnh lưỡi trắng ướt

3-Cách nhìn lưỡi biết bệnh trong tạng phủ.

Giải thích thêm :

a-Đầu lưỡi và mặt lưỡi trắng nhạt ướt là bao tử hàn.

b-Mặt lưỡi có rêu trắng dầy khô là bao tử nhiệt.

c-Đầu lưỡi đỏ bầm là tâm hư nhiệt.

d-Đầu lưỡi trắng là tâm hư hàn .

e-Cả mặt lưỡi đỏ bầm khô là tâm thực nhiệt .

f-Giữa lưỡi rách, rêu lưỡi vàng khô, dầy là tâm vị thực nhiệt.

f-Cả lưỡi trắng ướt dầy to là phế vị thực hàn.

g-Da mặt lưỡi mỏng hồng là phổi tốt.

h-Cạnh lưỡi có gai là bệnh gan thực chứng. Gan nóng sẽ bị lở cạnh lưỡi.

i-Mặt lưỡi có những nốt chấm tụ máu là bệnh tâm can thực nhiệt.

k-Lưỡi co rút. Bệnh nhiệt hỏa thiêu cân

l-Rêu lưỡi trắng trơn, hoạt, nhuận, đầu lưỡi nở to thuộc chứng lý thực hàn. (bệnh lâu ngày)

m-Rêu lưỡi trắng nhạt, dầy, trơn, ướt là bệnh thuộc chứng biểu hàn. (bệnh mới phát)

n-Rêu trắng mỏng ướt, bệnh thuộc biểu chứng.

o-Rêu lưỡi vàng hoặc nám đen bệnh thuộc chứng nhiệt .

p-Đầu lưỡi sậm rêu thô vàng hoặc đen khô, có vết nứt. Bệnh thuộc lý chứng hư nhiệt

q-Gốc lưỡi sâu bên trong sưng đỏ là bệnh thận thủy hư .

r-Hai cạnh lưỡi hình răng cưa có gai, mầu đỏ bầm đen. Bệnh gan bị tổn thương thực thể như, chai gan, viêm gan.

Ăn thức ăn nào tốt, cần phải biết số đo áp huyết mới biết hàn nhiệt hư thực bên bao tử và bên gan.

Lưỡi thâm đen do đỏ bầm, là mầu của thận, lưỡi khô không có nước là thận khô nhiệt, trán là bộ vị bao tử, nên sờ trán nóng nhiệt.

Nhắc lại bài :

Tai thuộc thận, Cằm là bàng quang, nếu có mụn đỏ trên cằm là bàng quang nhiệt, tiểu nóng

4-Nhìn mũi biết bệnh.

Ở phút 4:12

Là tim nhiệt áp huyết rất cao. Nếu đầu mũi trắng là tim suy, hư hàn không có hỏa, thì bao tử ăn cũng không tiêu vì bao tử cũng sẽ bị hàn.

Nhìm mặt khám bệnh thì mặt da chỗ nào cũng hồng hào, da sáng hơi bóng. Nhưng tự nhiên có hiện mầu khác với hồng hào thì nơi bộ vị đó có bệnh, tùy theo bộ vị thuộc tạng phủ nào, và tùy theo mầu sắc như mầu đen thuộc thận trắng thuộc phổi, vàng thuộc tỳ vị, xanh thuộc gan, đỏ thuộc tim, xâm phạm vào vùng của tạng phủ nào.

Thí dụ đầu mũi là tim thay vì khỏe thì mầu hồng như các nơi khác trên mặt, nhưng lại qúa đỏ là tim nhiệt, hay lại trắng là tim hàn, hay lại có mầu hơi xanh là gan hư truyền bệnh cho tim cũng hư, hay đầu mũi đen là thận truyền bệnh lên tim…

a-Mũi sưng. Dấu hiệu do nhiễm trùng, viêm xoang

b-Cánh mũi phập phồng. Dấu hiệu phế nhiễm cảm

c-Chân mũi lở nứt đỏ. Dấu hiệu tim bị thấp nhiệt

d-Sống mũi lệch. Dấu hiệu vách ngăn mũi bị lệch, bệnh polype (buới thịt)

5-Chức năng ngũ tạng nuôi bộ phận nào trong cơ thể.

Ở phút thứ 5:35

Chức năng ngũ tạng nuôi gì :

Tim nuôi mạch máu, tế bào, cơ tim, khí của tim khai khiếu đầu lưỡi, mầu qúa đỏ là tim nhiệt, đầu lưỡi trắng qúa là tim hàn. Tim tạo dịch chất mồ hôi. Tim tàng thần tạo ra khí sắc hồng hào khỏe mạnh.

Tỳ, khí khai khiếu ra môi, ăn ngon hay dở là nhìn môi có đỏ hồng, hay trắng nhạt là không muốn ăn, hay bệnh hoạn thâm đen do thận dư nước. Tỳ nuôi bắp thịt, sinh thịt. Tỳ sinh dịch chất là nước dãi. Tỳ tàng ý.

Giải thích thêm :

a-Môi tự nhiên sưng dầy lên. Bệnh tỳ nhiệt.

b-Môi trắng nhợt hoặc xanh tím. Bệnh thuộc hàn chứng

c-Môi khô nứt sưng đỏ. Bệnh thuộc nhiệt chứng

d-Môi đỏ bầm tối. Dấu hiệu ứ tắc huyết.

e-Môi bị thâm đen vĩnh viễn. Dấu hiệu thận bị ngộ độc do truyền qúa nhiều nước biển, hoặc ở người nghiện hút ma túy, thuốc phiện.

f-Tự nhiên môi mép bên cao bên thấp. Dấu hiệu dây chằng tử cung bị co rút

g-Rãnh cười quanh môi mũi không đều. Dấu hiệu sắp bị trúng phong liệt mặt méo miệng

h-Quanh môi trên trắng xanh. Dấu hiệu bệnh tiêu chảy, bụng lạnh

i-Môi và chung quanh môi trắng xanh. Dấu hiệu ung thư đường ruột

k-Nhân trung lệch. Dấu hiệu lệch tử cung

l-Nhân trung dài hoặc ngắn. Dấu hiệu để biết chiều dài hoặc độ sâu của cơ quan sinh dục

Phổi, khí khai khiếu ở mũi. Phổi nuôi da và lông tay chân. Da xấu là phổi hư. Phổi ra dịch chất nước mũi. Phế tàng Phách điều khiển phổi thở.

Thận khí khai khiếu ở tai. (Thận hư thì tai điếc). Thận nuôi răng, xương, râu, tóc, tủy, xương, Thận sinh dịch chất nước bọt. Thận tàng ý chí, và trí khôn.

Gan khí khai khiếu ở mắt, nuôi gân, móng, sụn, thần kinh…Gan sinh dịch chất nước mắt. Gan tàng hồn.

Da mặt hơi mầu xanh là dấu hiệu đau đớn trong cơ thể, mầu trắng không tươi nhuận không có thần sắc là cơ thể bạc nhược thiếu máu, vàng xanh là bệnh viêm gan……

Giữa thể phách điều khiển chức năng phổi và thể hồn điều khiển chức năng gan, còn thể vía, chỉ huy sự cử động mà điểm kich thích thể vía là huyệt Đại Chùy.

6-Cách cấp cứu hôn mê của đông y khí công :

Ở phút 17:00

Quan sát một người bị tai biến mạch máu não, có những trường hợp sau để biết bệnh nặng hay nhẹ là xem bệnh nhân còn bao nhiêu thể : theo thứ tự là thể xác, thể phách, thể hồn, thể thần, thể vía, thể ý, thể trí.

Người nằm bất động không còn thở là ngũ tạng chết, tim không đập, phổi không thở, là thể xác.

Khi tim không đập, tây y cấp cứu dùng máy xung điện mạnh đè vào ngực kích động cho tim đập bằng điện 3 lần, lần thứ ba mà tim bệnh nhân không đập là hồn lìa khỏi xác, là mất thể hồn, nếu còn thể hồn là còn sự sống.

Đông y khí công cấp cứu ưu tiên chữa thần kinh bộ não trước là phải duy trì oxy cho não làm việc, dùng ngón tay trỏ đè nhẹ vào huyệt Nhân Trung bệnh nhân, kế đến là ấn huyệt Nội Quan tay trái bệnh nhân để làm ổn định áp huyết và day bấm mạnh 2 đầu góc móng ngón tay út bên trái làm cho tim bất thình lình đập mạnh trở lại phục hồi thể thần, là cách làm cho thể Phách hoạt động điều hòa hơi thở duy trì sự sống.

Như vậy bệnh nhân đã sống được thể phách, nhưng chưa qua được cơn nguy hiểm, vì vẫn nằm bất động.

Cần phải thử xem phản xạ biết đau hay không, phải day đau 2 đầu ngón chân cái của bệnh nhân thuộc gan, gan khai khiếu ra mắt làm cho mở mắt, là cửa sổ của linh hồn.

Nếu day đau mạnh hơn nữa, hồn chỉ huy gan hoạt động nhận giao cảm thần kinh tự động phản xạ chân tay cử động là thể vía được phục hồi.

Day 5 đầu ngón tay, và 5 đầu ngón chân, kích thích thần kinh phản xạ làm chức năng gan mạnh cung cấp năng lượng cho tim hoạt động mạnh hơn, tỉnh hơn, tim tàng thần, sẽ làm cho thần sắc bệnh nhân hồng hào tỉnh táo, là đã phục hồi được thể thần, như vậy mắt mở ra chỉ là thể vía cử động nhắm mở, còn mắt nhìn có thần, có hiểu biết nhận ra người này người kia thì thể thần thể hồn mới phục hồi.

Khi một bào thai sinh ra, thì thể phách vào thân xác trước, thể hồn vào sau. Khi con người chết đi thì thể hồn lìa khỏi xác truóc, thể phách đi sau.

7-Bệnh nhân khai bệnh biết bệnh thuộc tạng nào.

Ở phút 20:25

Dựa vào chức năng ngũ tạng nuôi bộ phận nào, chúng ta sẽ biết bệnh nhân khai bệnh thuộc tạng phủ nào.

Thí du, dấu hiệu bệnh ở móng tay, là bệnh thuộc gan, vì gan chủ gân, móng, sụn, thần kinh. Như đau rút gân, thần kinh tọa….cũng thuộc gan.

Đau xương thuộc về thận, mất trí nhớ cũng thuộc thận. Uống nhiều nước mà thận hư không lọc để biến thành thận khí lên đầu, cũng làm mất trí nhớ.

8-Uống nhiều nước qúa cũng mất trí nhớ

Ở phút 20:50

Mình theo tây y nói mỗi ngày phải uống 2 lít nước, thì người Việt mình áp dụng sai nên trong người thành 4 lít lại dư thừa. Vì người Tây phương ăn bánh mì và thức ăn khô, nên bắt buộc ít nhất phải uống 2 lít nước/ngày để thận lọc. Còn chúng ta ăn cơm, trong cơm có nhiều nuóc, ăn canh có nhiều nước, sau khi ăn, uống nước trà, giả sử nhà mình không nấu bếp, mỗi ngày ra tiệm ăn phở rồi uống nước trà tráng miệng…. tổng cộng cũng đã có hơn 2 lít trong cơ thể sau 2 bữa ăn, nếu chúng ta đem theo kè kè chai nước uống thêm giống như người tây phương, thì cơ thể chúng ta bị dư thừa 2 lít nên chức năng thận phải làm việc gấp đôi, tuổi thọ của thận sẽ giảm một nửa…do đó tại sao những ngươi VN theo tây y dặn và ngay cả những người tây bị suy thận nên phải lọc thận…

2 lít nước/ngày là tính tổng cộng các loại thức ăn, nước uống trong ngày, như cà phê, nước trà, cơm, phở, trái cây, nước uống thuốc…

Riêng 80% trọng lượng cơ thể là nước, máu và thức ăn, đều phải đi qua thận để lọc những chất xấu thành chất tốt, thì thận mỗi giờ đã phải lọc 6 lít ra vào thận, chức năng lọc của thận đều đặn như vậy mỗi ngày 24 giờ đã lọc 144 lít dung dịch, tổng cộng khả năng thận phải lọc tối đa 5256000 lít trong cả cuộc đời con người sống được 100 năm, nếu chúng ta uống thêm nhiều nước thì khả năng lọc của thận chỉ lọc đến nửa cuộc đời là hết, đó là lý do tại sao những người uống nhiều nước không thấy hậu qủa sẽ phải bị lọc thận nhân tạo khi lớn tuổi.

Còn tuổi trẻ mà bị rụng tóc hay người lớn tuổi khả năng làm việc của thận yếu dần, nên không nuôi tóc.

9-Nhìn mắt biết bệnh của tạng nào bệnh.

Ở phút 24:20

Mắt thuộc can khí, điều chỉnh lượng máu lượng đường đù làm mắt sáng, nó cũng điều chỉnh khí của 5 tạng vào mắt, nên con ngươi điều tiết lớn nhỏ là do thận khí điều chỉnh thị lực, nên con ngươi thuộc thận.

Tròng đen điều chỉnh gai thị, các dây thần kinh mắt, tuyến nước mắt, nên tròng đen thuộc gan.

Tròng trắng thuộc chức năng phổi, phổi tốt thì tròng trắng trong sáng không bị đục.

Hai khóe trong mắt hơi đò là tâm hỏa khí điều chỉnh nhiệt độ cho mắt, điều hòa dịch chất trong mắt.

Dưới hai mí mắt trên dưới thuộc chức năng tỳ vị dẫn máu và đường nuôi mắt.

Khi ra nắng con ngươi mắt thu nhỏ từ 5 ly (mm) còn 3 ly, vào trong tối thì con ngươi nở lớn 7 ly, trong điều kiện bình thường đủ ánh sáng thì con ngươi mở 5 ly.

Khi ra nắng dư ánh sánh hay vào bóng dâm thiếu ánh sáng, mà con ngươi không điều tiết thay đổi thì tây y đo độ dioptre sẽ biết có mù hay không.

a-Mắt trong sáng là gan khai khiếu ra mắt đủ.

b-Mắt lờ đờ là thần kinh suy nhược

c-Mắt mờ do hỏa vọng do can khí thực

d-Mắt đục do can khí suy.

e-Mắt khô dấu hiệu thận thủy yếu

f-Mắt ướt là thận thủy đủ

g-Mắt có quầng thâm là thận hư

h-Tròng trắng đục là phổi hư yếu

i-Tròng đen mắt bị đục.Dấu hiệu can hư.

k-Con ngươi nở to. Dấu hiệu viễn thị.Thận dương hư.

l-Con ngươi thu nhỏ. Dấu hiệu cận thị

m-Mắt có vết trắng lấn vào tròng đen. Dấu hiệu mắt có cườm

n-Tròng trắng có nhiều gân máu đỏ. Dấu hiệu can nhiệt phạm phế.

o-Gai thị không đều. Dấu hiệu loạn thị loạn sắc.

p-Mắt lé. Dấu hiệu can phong

q-Mắt và trong mí mắt xanh đục. Dấu hiệu bạch cầu tăng hồng cầu giảm.

r-Mí mắt sưng. Dấu hiệu tỳ vị nhiệt

s-Mắt ưa nhắm không thích nhìn ai. Bệnh thuộc phế hư

Dùng thuốc chữa bệnh tiểu đường làm đường-huyết qúa thấp khiến thận hư làm mắt mù, thận dương hư không điều tiết con ngươi.

10-Chữa mắt lé :

Ở phút 27:02

Mắt lé không cần chữa, chỉ cầu điều tiết cho cơ mắt cử động theo ý muốn là hết lé.

Mắt nào không lé thì lấy bàn tay che lại, còn đưa 1 ngón tay ra xa cho phía bên mắt lé nhìn thấy ngón tay. Rồi từ từ cho ngón tay di chuyển để mắt lé nhìn theo ngón tay. Ngón tay di chuyển theo vòng tròn để kích thích con mắt cũng chuyển động theo vòng tròn, rồi theo chiều lên, chiều xuống, chiều ngang sang trái, sang phải, tập làm sao cho con ngươi mắt vào chính giữa. Nếu lé ra ngoài thì ngón tay hướng dẫn cho mắt lé vào trong, rồi bấm huyệt Toàn Trú. Nếu lé vào trong thì ngón tay hướng dẫn cho lé ra phía ngoài rồi bấm huyệt Ty Trúc Không. Xong thử lại buông bàn tay che mắt ra, xem hai con mắt nhìn ngón tay dơ trước mặt xem mắt nhìn thấy mấy ngón tay, nếu nhìn thấy 2 ngón tay xa nhau thì còn lé, thấy hai ngón tay gần lại nhau thì đỡ, nếu hai ngón tay trùng nhau thành một, chỉ thấy 1 ngón tay thôi là hết lé.

Nhưng nếu gan hư không thể điều tiết gân cơ được, nên cần phải chữa gốc làm mạnh gan, nếu không sẽ bị lé trở lại. Cơ thể thiếu đường cơ thể mất nhiệt do nồng độ máu thấp nhịp tim đập chậm thì gân cơ co rút.

11-Chữa bệnh tiểu đường bằng bài tập “Bó chân đi cầu thang”.

Ở phút 29:00

Những bệnh nhân bị tiểu đường vừa không được ăn ngọt vừa phải uống hay tiêm thuốc làm mất thêm đường khiến suy cơ co bóp tim, sẽ suy thận, làm hại gan.

Về vấn đè ăn uống thì người Á Châu ăn cơm, Âu Châu ăn bánh mì, đó là món ăn căn bản ai cũng phải ăn thì tiêu chuẩn đường giữ trong người là 6.0mmol/l, được quyền ăn no lên tối đa 12.0mmol/l. Cho đến khi đói trở lại xuống 6.0mmol/l là không có bệnh tiểu đường. Nếu nhịn ăn ngọt, không cho ăn cơm, rồi lại uống thuốc hạ đường thì cơ thể không đủ đường để nuôi cơ tim co bóp tuần hoàn máu gây hậu qủa và biến chứng ra rất nhiều bệnh, như nó phải rút đường từ bắp thịt, từ mem xương lâu ngày người sẽ gầy ốm, xương mất chất men bảo vệ sẽ bị loãng xương, sẽ gẩy chân tay…

Người ta chỉ sợ những người già nằm một chỗ không vận động thì cứ ăn bao nhiêu thì đường-huyết cứ tăng lên bấy nhiêu nên mới cần dùng thuốc chữa bệnh tiểu đường. Người trẻ còn sức vận động mà lười tập mới sợ bệnh tiểu đường, người hay vận động mạnh, đi lên đi xuống cầu thang nhiều lần thì không bao giờ bị bệnh tiểu đường.

Triệu chứng xuống đường-huyết là toát mồ hôi, mệt, buồn ngủ, chóng mặt, hồi hộp…tức khắc phải lấy kẹo ra ngậm ngay. Nhiều người không theo dõi đo đường-huyết lúc mệt, cứ đúng giờ lại uống thuốc trị tiểu đường nên buồn ngủ, rồi đi vào hôn mê, có khi chết người. Đó là cái ngu của mình, không kiểm soát đường xem khi mệt là bao nhiêu.

Thiếu đường thì gây nhiều biến chứng, dư đường thì không sợ, chỉ cần tập bài “Đi cầu thang” tối đa 30 phút thì đường-huyết xuống thấp ngay.

Cách làm hạ đường sau mỗi bữa ăn :

Dùng băng quấn bó bắp chân, từ cổ chân lên gần đầu gối, xiết hơi chặt nơi bắp chân, rồi đi cầu thang 10-12 bậc, cứ đi lên rồi đi xuống kể là 1 lần, đi đủ 30 lần là 600 bậc, mỗi bước đi mỗi niệm từng chữ A-Di-Đà-Phật, hay A-Lê-Lui-A, hay one,thwo,three…cho đến khi trán xuất mồ hôi nóng, rồi tháo băng quấn chân ra, ống chân cũng nóng chảy mồ hôi, đo lại đường xuốngtừ 5.0-10mmol/l ngay. Thí dụ trước khi tập đo đường-huyết 16mmol/l thay vì đến giờ tiêm thuốc, thì tập bài “Đi cầu thang” 30 lần, cho xuất mồ hôi rồi đo lại, đường xuống chỉ còn 6.0mmol/l.

12-Viêm mũi sổ mũi dị ứng

Ở phút 37:00

Khi viêm xoang, trong nước mũi có nhiều virus, nên cần phải xịt mũi cho khô, nếu còn sót lại 1 con nó sẽ sinh sôi nẩy nở rất nhanh 1-2 giờ sau thành 500 con…

Viêm xoang mũi đa số đàn bà bị nhiều hơn đàn ông, vì khi sổ mũi không xịt ra mà hay hít nuốt vào sâu trong xoang trở thành ổ virus.

Thí dụ tìm nguyên nhân bệnh của một bệnh nhân ;

Đo áp huyết và đưòng xem nguyên nhân do hư chứng hay thực chứng.

Bệnh nhân này áp huyết hai tay là 121 và 122, thấp so với tiêu chuẩn tuổi, và đường cũng thấp, có 5.0mmol/l.

Phải uống thêm 1 lon Coca làm tăng áp huyết và tăng đường trước khi tập làm tăng sức đề kháng cho cơ thể, không uống Coca thì khí lực không tăng, đường không tăng sẽ không tập được sẽ mệt mất sức vì khí huyết và đường sẽ tụt thấp hơn nữa.

Nhiều thầy thuốc khi đang chữa bệnh cho bệnh nhân mà tự nhiên bệnh nhân bị bất tỉnh là do tụt đường-huyết.

Đông y chữa bệnh này bằng nước ép Củ Cải Trắng còn tươi, nhỏ vào mũi, nó rất hăng cay, sát trùng diệt virus.

Cách chữa :

Áp dụng 2 bài :

Bài thứ nhất : Nằm úp dùng bài “Ép 6 bàn tay trên lưng” để thông mũi bằng khí lực từ thận khí, tỳ khí, can khí, tâm khí, phế khí tống đẩy đàm nhớt qua mũi, mỗi lần ép gót chân vào mông thì bệnh nhân xịt mũi ra thật mạnh từng bên mũi này rồi sang mũi kia, sau đó lập lại ép lưng và khạc nước mũi đàm thoát ra bằng miệng.

Bài thứ hai : Nạp Khí Trung Tiêu 1 phút, cuốn lưỡi ngậm miệng, khi bỏ chân xuống thì bôi dầu xông hơi như dầu Ling Nam Ultra Balm, dầu gió xanh, dầu tràm, dầu Vick cho thông mũi và sát trùng phổi, làm khô mũi, khi bụng hết nhồi thì lại Nạp khí lần thứ 2, tập 5 lần thì mũi khô và thông.

Bài tập này chữa được bệnh mũi không ngửi được mùi, bệnh cảm sổ mũi.

Có thể lập lại cả 2 bài thêm một vài lần cho đến khi mũi khô.

Sau đó xông mũi bằng nước sôi với 3 giọt dầu Khuynh Diệp để sát trùng thông sâu vào các xoang..

Tóm lại cách chữa Viêm xoang mũi :

a-Phải xịt ra hết nước mũi

b-Ép 6 bàn tay, từ vùng thận, tam tiêu, tỳ vị, can-đởm, tâm, phế. 6 lần mỗi bên chân.

c-Nạp Khí Trung Tiêu 3-5 lần, bôi dầu vào lòng bàn tay để mũi hít vào cho thông mũi.

d-Xông mũi bằng hơi nước nóng cho 3 giọt dầu cảm .

13-Đau tức lưng trên vùng tim, bệnh tim-phổi.

Ở phút 1:00:25

Phổi yếu là do mẹ là bao tử ăn ít qúa, áp huyết bên bao tử đo khí lực thấp quá 104mmHg

Đau do thần kinh thiếu đường, đường-huyết đo được 5.5mmol/l.

Ở phút 1:06:99

Có 7 đốt xương cổ, dưới xuơng cổ là xương lưng, giao điểm xương cổ đốt cuối 7 và đốt 1 xương sống lưng gọi là huyệt Đại Chùy,.

Một bàn tay cầm đầu bệnh nhân, một ngón tay kia day huyệt Đại Chùy là nơi cục xương nhô cao, rồi bắt đầu day rạch phân ra từng đốt, đốt 1 day rạch 6-9 lần, rồi rạch đốt 2, đốt 3, để ý day rạch ở đốt nào bệnh nhân thấy đau là nơi đó khí huyết bị tắc hay thiếu khí huyết không chạy đến nuôi xương và thần kinh…rạch đến đốt thứ 5, 6, 7 là 3 đốt ai cũng bị đau nhất, đốt thứ 8 ngang với hai chân xương bả vai. Khi day từ dốt thứ nhất thì tay cầnm đầu bệnh nhân cũng từ từ đầy nhẹ cổ bệnh nhân ngửa ra sau để các đốt xuong được mở ngửa ra, đến đốt thứ 7 thì cổ đã được ngửa ra sau khoảng 30 độ, thì lồng ngực và tim cũng được mở ra cho thông khí vào phổi.

Sau khi day rạch xong 7 đốt sống cổ, bảo bệnh nhân thử cử động ngửa đầu cổ ra nhìn trời, cúi cổ cho cằm chạm ngực, xoay cổ sang vai phải vai trái, ưỡn ngực. Đưa hai tay lên cao ra sau…xem còn đau chỗ nào không, nếu còn đau thì làm lại động tác day rạch đốt sống cổ tiếp.

Riêng bệnh nhân này đã hết đau, nhưng hai vai bệnh nhân khép về phía trước nên phổi khép lại không hít vào được nhiều và sau này sẽ gù lưng, nên phải chỉnh thêm cho xương bả vai và xương đòn gánh thẳng ra để khi nằm hai vai phải chạm xuống giường chứ không còn bị cong lên.

Rồi cho bệnh nhân nằm ngửa đầu sát cạnh giường, để có thể dơ cánh tay thẳng lên qua đầu, đưa lên đưa xuống dễ dàng, nếu đau thì người chữa đặt lót bàn tay của mình dưới bả vai bệnh nhân, dùng 5 đầu ngón tay ấn vào xương vai khi bệnh nhân đang cử động dơ lên dơ xuống để thông khí huyết nơi khớp xương bả vai.

14-Tự chữa bệnh mũi nghẹt không do sổ mũi dị ứng, mũi ngửi mất mùi.

Ở phút 1:17:00

Tập bài Nạp Khí Trung Tiêu, cuốn lưỡi ngậm miệng, thở bằng mũi, thầy chữa day bấm hai ngón tay cái vào vùng huyệt Tỵ Thông (thông mũi) và bàn tay kia của người chữa xoa dầu cảm (khuynh diệp, menthol, vick..), nếu mũi nghẹt do vách ngăn lệch hay có bướu trong mũi, dùng ngón tay cái ấn vào đầu mũi bệnh nhân day tròn cho hơi dầu thông vào trong mũi.

Bệnh nhân có thể tự làm một mình.

Sau đó tập bài Kéo Ép Gối để thông khí toàn thân trong tạng phủ.

Bệnh nhân thực tập.

Thân

doducngoc

Video bài giảng 5 tại Thụy Điển

Video bài giảng 5 tại Thụy Điển

https://www.youtube.com/watch?v=s_JdUu04F70

Giải thích :

1-Cách khám mầu sắc bệnh theo vị trí tạng phủ trên mặt :

Ở phút đầu .

Tai thuôc thận. Mắt thuộc gan. Môi thuộc tỳ. Mũi thuộc phổi.

Nếu môi thuộc tỳ là mầu gì? Mầu hơi vàng, nhưng nó tốt thì mẹ nó nuôi nó, mẹ nó là tâm hỏa mầu đỏ cung cấp năng lượng cho nó để nó biết ăn ngon, thì mầu của môi là đỏ là tâm tỳ tốt. Môi đỏ nhiều thì hay ăn và ăn ngon, ăn rất nhiều, dễ ăn, nhưng không biết có béo hay không thì chưa biết vì còn do chức năng chuyển hóa bao nhiêu phần trăm.

Người môi trắng nhạt không đỏ hồng thì không muốn ăn.

Môi thâm đen là mầu của thận thủy, môi là thổ, thay vì thổ khắc thủy, thì ngược lại thủy mạnh hơn thổ, đông y gọi là thủy thừa khắc thổ.

Phổi khai khiếu (thông) ra mũi, nhưng đầu mũi giống như qủa tim, hai bên má là 2 lá phổi, nơi sơn căn ấn đường là cuống họng.

Nếu 2 má mầu đỏ là phổi nóng nhiệt là tâm hỏa khắc phế kim, làm phổi khô.

Học viên hỏi tại sao mùa đông, má của ai cũng đỏ. Vì mùa đông là hàn lạnh, cơ thể phải tăng hỏa chống lạnh thì toàn mặt phải đỏ lên.

Muốn bổ phổi nhiệt ăn gì ?

Người ta dùng Qủa La Hán, nấu nước uống để bổ phổi, có tính mát, vị ngọt, khí giáng, có tác dụng bổ tỳ là mẹ để nuôi con là phế kim.

Có thể bẻ 1 mẩu vỏ quả La Hán khô ngậm trong miệng, vừa chữa phổi vừa làm mát cổ họng ra nước miếng.

Tóm lại nhìn tai biết bệnh của thận
Môi thuộc tỳ
Mũi thông với phổ, đầu mũi thuộc tim
Mắt thuộc gan
Má thuộc phổi

Trán liên quan đến bao tử, đau nhức đầu trên trán là bệnh liên quan đến bao tử không tiêu, sở trán nóng là ăn thức ăn nhiệt làm bao tử nhiệt, vì bao tử là con bị bệnh thực thì mẹ là tâm hỏa dư hỏa khiến áp huyết tăng.

Sờ trán lạnh, là đã ăn những thức ăn hàn làm bao tử bị hàn, muốn ói, khó chịu. Bao tử là con bị hư thì mẹ là tâm hỏa mất năng lượng khiến áp huyết xuống.

Nếu đau đầu trên đỉnh đầu ra sau gáy là đau đầu do gan. Sờ đỉnh đầu lạnh là gan hàn, ảnh hưởng đến áp huyết thấp, nóng là gan nhiệt ảnh hưởng đến áp huyết cao.

Nếu đau 2 bên đầu là do túi mật. Hoặc không tiết mật để chuyển hóa thức ăn nên bị choáng váng một bên đầu, hoặc bị bệnh rối loạn tiền đình là một bên đầu áp huyết cao, một bên áp huyết thấp khiến đi lả đảo nghiêng người 1 bên. Nếu tiết mật qúa dư thì mặt hiện mầu xanh.

2-Bệnh tiểu đêm thì uống thuốc gì ?

Ở phút 7:30

Uống thuốc bổ Thận : Ba Kích + Đỗ Trọng+ Ngưu Tất, mỗi thứ 3-4 chỉ (12g-16g) nấu 4 chén nước cạn còn 1 chén.

Trán mát ăn không tiêu, không chuyển hóa, trán lạnh, áp huyết thấp, thì uống Phụ Tử Lý Trung Hoàn (viên nhỏ, 1 lọ 200 viên) trước bữa ăn 30 phút ngậm trong miệng từ 10-20 viên, sẽ tiết nước miếng mau đói thèm ăn, tiêu hóa hấp thụ nhanh, làm ấm người, tăng áp huyết.

Phụ tử lý trung hòan tính nhiệt chữa cảc bệnh thận hàn hay đi tiểu đêm, chữa thận hư phải lọc thận. Đi tiểu nhiều do thận hàn, cũng có thể ăn tiêu để làm ấm thận.

3-Một người có nhiều bệnh uống thuốc gì :

Ở phút 8:15

Chỉ có tập khí công chuyển hóa tất cả các khí trong người, mới tránh bị uống nhiều thuốc gây ra phản ứng phụ của nhiều thuốc nghịch nhau, bao tử sẽ trở thành thùng rác chứa nhiều độc tố.

Khi nghiên cứu lý thuyết đông y ngũ hành tạng phủ, và nhứng thức ăn thuốc uống để chữa cho tạng phủ bệnh, thì cũng không thể nào dùng thuốc chữa một lúc vào nhiều tạng phủ, trong trường hợp này mới thấy phương pháp chữa bằng KCYĐ hay hơn các phương pháp khác vì chữa được tất cả các rối loạn chức năng tạng phủ mà không có phản ứng phụ của thuốc tây y như uông thuốc sáng chữa thận, trưa chữa bao tử, chiều chữa áp huyết, tối chữa bệnh mất ngủ hay tiểu đêm…làm rối loạn chức năng khí hóa ngũ hành tạng phủ.

Một ngày đi tiêu tiểu bao nhiêu làn thì bình thường ?

Một ngày đi cầu 1-2 lần ra phân vàng thành khuôn là tốt không phải là bệnh, đi tiểu 2-5 lần cũng bình thường, nhưng đi tiểu ít 1 lần hay mót đi tiểu nhiều lần ra ít một hay đi tiểu ra nước trắng không phải nước tiểu mầu hơi vàng là có bệnh thận, nước tiểu ra trắng trong là thận không lọc, vì khi thận lọc độc trong máu và thức ăn tốt thì uống nước trắng khi tiểu phải ra hơi vàng nhạt, ngược lại khi tiểu ra vàng sậm là cơ thể nhiệt, vàng đậm tiểu gắt, khó ra là qúa nhiệt, tiểu rát do thận và bàng quang có nhiều chất vôi, tiểu ra máu là có sạn thận hay sạn bàng quang.

4-Ung thư lá mía :

Ở phút 8:45

Bệnh ung thư lá mía, một ngày đi cầu mười mấy lần, mót đi nhưng mỗi lần đi tiêu chảy chỉ ra ít nước, ít phân. Phải mang tã.

Do tỳ vị hàn không đủ nhiệt lượng chuyển hóa thức ăn và hấp thụ thức ăn biến thành chất bổ máu, tỳ hư không sinh ra da thịt, không ăn được nên cơ thể suy nhược, mất sức gầy ốm dần.

Muốn phục hồi lại chức năng tỳ vị cũng dùng Phụ Tử Lý Trung Hoàn, nên nó cũng chữa được bệnh ung thư lá mía..

5-Bệnh gan chữa làm sao ?

Ở phút 8:50

Nhìn vòng tròn ngũ hành tạng phủ, một bệnh phải biết là hư chứng (qúa yếu) hay thực chứng (qúa mạnh). Gan hư thì bổ mẹ nó là Thận, Gan thực thì tả con nó là Tim.

Như vậy làm sao biết gan hư hay thực thì đo áp huyết bên tay phải nó thấp hơn tiêu chuẩn tuổi là hư, nó cao hơn tiêu chuẩn tuổi là thực.

Nhưng lại chia ra hư hay thực về khí lực, số tâm thu qúa thấp hay qúa cao, hay hư thực về máu qúa thiếu hay dư máu là số tâm trương qúa thấp hay qúa cao.

Gan hư lại chia ra chức năng hu hay thực hay cái cơ sở lá gan hư hay thực.

Chức năng hư là truóc khi ăn thay vì áp huyết đo bên gan phải cao tối đa trong tiêu chuẩn là 140 (thí dụ tiêu chuẩn từ 130-140mmHg), sau khi ăn áp huyết bên gan khí lực phải thấp tối thiểu trong tiêu chuẩn là 130mmHg, chênh lệch nhau 10mmHg thì chức năng chuyển hóa hấp thụ chất bổ khí huyết từ thức ăn được 100%, nếu chênh lệch trước sau có 1mmHg thì hấp thụ chuyển hóa có 10%.

Gan có hai chức năng chúng ta thấy rõ nhất theo ngũ hành là gan cung cấp năng lượng nuôi con nó là tim, khi gan hư yếu thì suy tim, khi gan thực cung cấp nhiều máu cho tim làm mệt tim, thành tim bị bệnh thực khiến áp huyết cao.

Chức năng thứ hai mà ta trông thấy là điều hòa chất chua và chất mật sang cho bao tử cảm thấy xót ruột, biết đói, nhớ tới giờ ăn, nên trước khi ăn áp huyết bên gan đang làm việc thì phải cao tối đa trong tiêu chuẩn là 140mmHg, sau khi bao tử ăn xong, thì chức năng gan nghỉ ngơi sẽ xuống thấp, nhưng chức năng gan hư thì ngược lại, trước khi ăn áp huyết đo bên gan thấp, sau khi ăn thì lại cao, nên trước khi ăn bao tử không biết đói không muốn ăn vì gan không tiết chất chua và chất mật cho bao tử.

Còn cơ sở bị bệnh tổn thương như lá gan sưng to chai, hay lá gan chai teo nhỏ lại, thì khi đo áp huyết bên tay phải trước hay sau khi ăn kết qủa không thay đổi khí lực, huyết lực.

Khí lực huyết lực lúc nào cũng cao thì gan sưng to, còn khí lực huyết lực thấp hơn tiêu chuẩn thì gan teo, có nghĩa là gan không co bóp để thay đổi khí lực huyết lực trong lá gan.

Cách đo áp huyết tay phải để biết bệnh gan rõ ràng chính xác hơn là bắt mạch ở cổ tay như đông y cổ truyền.

Nếu gan hư mà có thêm bệnh đi tiểu luôn là thận cũng hư, là do mẹ là thận hư làm con là gan hư, hay do thức ăn làm gan hư mới làm cho mẹ phải cung cấp năng lượng cứu con mà mẹ bị hư yếu.

Muốn chữa thận mạnh lại bổ mẹ là phế, thì cần chất cay.

Có người thắc mắc nếu ăn cay thì bón đi cầu không được hay bị bệnh kiết…như vậy là do ăn cay qúa lại thành bệnh thực, như vậy đông y chỉ điều chỉnh lại quân bình âm-dương, khí-huyết, hư-thực, hàn-nhiệt cho vừa đúng thì ngưng nên không có lạm dụng thức ăn hay thuốc uống một thứ hoài được, vì thế không được dùng một loại thuốc suốt đời được.

Nếu cay qúa lại thành thực, thiếu thì lại bị hàn. Như vậy chính máy đo áp huyết mới là bác sĩ khám bệnh cho mình, chứ không ai làm thầy mình hay hơn máy đo áp huyết.

Thí dụ phế thực tả con là thận thì bớt ăn mặn,

Bệnh nặng nhẹ là do lý luận tạng phủ theo bảng ngũ hành.

Thí dụ gan bị nóng thì tả con làm bớt nóng cho tim, thì phải bớt ăn chất đắng như cà phê, chiên xào,.

Có người hỏi ăn rau đắng thì nó mát hay nóng ? Thì hỏi ai ? Hỏi máy đo áp huyết xem nhịp tim tăng hay giảm.

Khi chữa thấy khí lực cao thì điều chỉnh khí lực xuống thấp, huyết lực hư thiếu thì ăn những chất bổ máu làm khí lực tăng lên, gan chai sưng hay chai teo thì tập thông khí toàn thân kích thích khí trong gan thay đổi chuyển động bằng những bài tập khi công Nằm Kéo Ép Gối Thổi Ra Làm Mềm Bụng….

6-Khám mầu sắc trên mặt một bệnh nhân có môi thâm đen là bệnh gì ?

Ở phút 17:30

Môi thuộc tỳ, có mầu đen thuộc thận, theo ngũ hành là thổ khắc thủy, nhưng thận bệnh uống nhiều nước dư thủy, thổ không khắc chế chặn thủy được nên thủy lại thừa khắc thổ. (khắc ngược lại), gọi là bệnh tỳ thận bất hòa. Đối với phương pháp dùng thuốc rất khó chữa, nhưng đối với khí công lại dễ chữa theo quy luật “3 hành liền nhau có bệnh thì chữa vào hành giữa “

Môi thuộc thổ, sinh kim là phế, phế mới nuôi thận, như vậy hành giữa là phổi, chỉ cần tập khí công làm mạnh phổi, để mẹ của phổi là tỳ được nghỉ ngơi dưỡng bệnh cho khỏe không bị thận lấn lướt và phổi mạnh điều chỉnh chức năng thận không bị khát nước, hay khi uống nhiều nước mà thận không đủ khí mạnh chuyển hóa nước thành khí.

Những người trước kia môi không bị thâm đen, nhưng nếu vì lý do bệnh phải truyền nước biển qúa nhiều, nên hậu qủa làm hư thận khiến môi thâm đen vĩnh viễn chữa lâu khỏi, nếu không biết tập khí công làm mạnh phổi (thuộc Khí), và cấm kỵ không bao giờ được buồn thở dài chán đời (thuộc Thần) lại làm phổi hư không chữa cho phổi mạnh được, khiến phế hư càng thêm hư, thì bệnh thận cũng không thể khỏi được, đã không được buồn mà lại phải ăn thêm cay thuộc Tinh, luyên hơi thở cho dài như niệm Phật thuộc Khí và Thần, hay tập hát Karaokê vừa được luyện khí vừa giúp tinh thần vui vẻ yêu đời, ăn cay cho xuất khí ra da sáng lên…. ..

Bệnh nhân nói không buồn mà lo, lo là bệnh của tỳ vị hư thay vì nó mạnh khắc chế được thận thủy, nhưng nó yếu thì thận thừa khắc nó.

Bổ thận không chỉ bằng thức ăn mà về tinh thần phải bỏ cái sợ là nguyên nhân làm hại thận, bỏ cái lo là nguyên nhân hại tỳ, bỏ cái buồn là nguyên nhân hại phế.

Tập khí công bài Vỗ Tay 4 Nhịp làm mạnh phế, Kéo Ép Gối Làm Mềm Bụng làm thông khí toàn thân và làm mạnh thận..

Tất cả các bệnh đều phải biết hư hay thực ở khí lực hay huyết lực hay hàn nhiệt, nhờ số đo áp huyết đo ở hai tay so với tiêu chuẩn tuổi mỗi ngày trước và sau khi ăn để phát hiện kịp thời thành phần thức ăn hay thuốc uống ngày hôm nay ăn đúng hay sai với nhu cầu của cơ thể.

Cần phải đo áp huyết trước khi ăn để biết trong bữa cơm có nhiều món ăn, mình phải chọn món nào, kiêng món nào đối với bệnh của mình. Ăn xong 30 phút đo áp huyết kiểm chứng xem những món đã chọn để ăn có ra đúng kết qủa áp huyết mà cơ thể cần điều chỉnh hay không. Như vậy sau này, mọi người biết cách tự chữa bệnh bằng cách điều chỉnh bằng thức ăn thuốc uống bằng máy đo áp huyết trước và sau khi ăn thì không cần đến thầy thuốc nữa, đó là mục đích của môn Y Học Bổ Sung Khí Công Y Đạo.

Mình chỉ sợ ăn sai làm thay đổi huyết số tâm trương thấp qúa hay cao qúa, chứ còn khí lực thì cao hay thấp thì điều chỉnh khí bằng những bài tập khí công làm tăng khí hay hạ khí được, còn làm tăng huyết hay hạ huyết phải điều chỉnh bằng thức ăn thuốc uống.

7-Ăn để điều chỉnh TINH, tập thể dục khí công điều chỉnh KHÍ :

Ở phút 27:52

Có người hỏi vẫn tập thể dục khí công sao áp huyết không lên tiêu chuẩn.

Tập khí công chỉ điều chỉnh khí, nhờ khí giúp chức năng chuyển hóa thức ăn mà không ăn đúng cho huyết tăng hay huyết giảm thì không có kết qủa. Có người hỏi : Vậy thì ăn cái gì cho có kết qủa ?

Những thức ăn phải theo ngũ hành và phải theo nguyên tắc con hư bổ mẹ, mẹ thực tả con.

Tập khí công chỉ làm tăng hay giảm khí lực, còn ăn mới làn tăng hay giảm huyết lực.

Thí dụ ai áp huyết thấp phải kiêng ăn dưa chua, dứa, dừa, chanh, cam, bưởu, khổ qua, kem, sữa ensure, sữa đặc hay sữa bột, dưa hấu, pepsi…những món này chỉ hợp vớp người áp huyết cao cần làm cho thấp.

Thí dụ những người áp huyết thấp thì cần phải ăn thức ăn bổ máu, cần cay, nóng, ngọt mới làm tăng áp huyết, như phở, củ dền đỏ, bún bò huế, nhãn, xoài, sầu riêng, trái hồng, cam thảo, coca…

8-Tai thuộc thận hiện dấu hiệu bệnh hiện trên tai..

Ở phút 29:00

Nếu tai mầu trắng thuộc phế hư làm thận hư, nếu uống nhiều nước thận càng hư thì tai dầy lên.

Nửa tai trên chỉ tuyến thượng thận là chức năng thận dương, nửa tai dưới là thận âm, mầu của tai hồng như da mặt là thận tốt, mầu đen là thận có bệnh thực, mầu xanh là gan hư thận hư, mầu trắng là phế hư thận hư, mầu đỏ là hỏa thừa khắc thủy, thận khô nhiệt, nếu trong tai sờ vào thấy có hột gạo dầy lên mà không đau, nhìn không thấy mà sờ thấy là trong thận có bướu, thận trắng phù nước là thận hư không còn chức năng lọc thận thì phải lọc thận nhân tạo.

Tai bên nào bệnh thì thận bên đó bệnh.

9-Bệnh bướu vú ở phụ nữ.

Ở phút31:10

Vú thuộc tạng phủ nào ?

Bao tử là nơi chứa thức ăn nuôi mạng sống người mẹ, thì vú cũng là bầu sữa, là bao tử nuôi con khi sanh ra, nên nó có liên quan đến bao tử. Người mẹ ăn món gì thì hôm đó thức ăn trong sữa cho em bé bú cũng có thức ăn ấy, nên người mẹ ăn sai, con cũng bị nuôi những thức ăn sai ấy.

Con cũng được nuôi theo tính-khí-vị của thức ăn, con cũng được nuôi dưỡng bằng 3 yếu tố Tinh-Khí-Thần, người mẹ có bệnh về tạng khí như phong, hay phong thấp, phong hàn, phong nhiệt hay hòa…thì trong máu của con cũng có, người mẹ tinh thần thay đổi cũng ảnh hưởng ngay đến tâm tính của con đang dùng sữa mẹ, khi người mẹ đang cho con bú mà có một cơn giận nộ khí xung thiên thì sữa đó tức khắc bị nhiễm độc tố làm con bú phải sẽ bị bệnh nặng hay chết ngay.

Như vậy vú của phụ nữ là bộ máy tạo ra sữa, nên khí huyết và những tế bào chức năng của vú dù có con hay không có con, nó vẫn phải được nuôi dưỡng thay đổi khí-huyết trong vú mỗi ngày, dấu hiệu của vú phụ nữ hiện ra ở vị trí góc gò má dưới đuôi mắt có một gò thịt nhỏ, mầu hồng như da mặt.

Khi cơ thể thiếu máu, thì gò này mất mầu hồng, thiếu khí do chán đời hay thở dài hại phổi không nuôi ra tới da thì da nhăn, gò này cũng mất căng mà bị nhăn lại, thì thể tích vú cũng nhăn lại, làm tắc tuyến vú vì không đủ khí huyết dẫn vào vú, các tế bào trong vú bị cô lập thành khối cục, nhìn hình thể vú thì không thấy, nhưng sờ nắn thì cảm thấy có cục. Nếu vú nào có cục thì gò này cũng nổi một cục vừa nhăn xám đen so với gò bên kia thuộc vú bên kia, và sờ nắn vú bên không bệnh không có cục. Bệnh nhẹ thì chỉ có cục mà không đau, gọi là bướu lành, sờ nắn đau là buớu độc có huyết ứ, sữa ứ nặn bóp ra chảy ra đầu vú nước sửa vàng đục hay máu đen… đó là bệnh ung thư vú.

Nếu người mẹ ăn sai thành tâm tỳ hư, thì con cũng bị tâm tỳ hư thành bệnh tiêu chảy, người mẹ thích ăn theo ý người mẹ không đúng hợp với cơ thể mình củng làm cho mình bệnh, mà con cũng càng ngày càng bệnh, nhiều người hỏi tại sao con của con hay bị bệnh từ lúc sanh ra cho tới giờ cứ bệnh hoài, chữa hoài không khỏi…mà không biết con bệnh tại mẹ.

Có người hỏi có những đứa trẻ sinh ra không đi đái được nguyên nhân tại sao ?

Nguyên nhân tại mẹ nó cũng có bệnh bí tiểu do ăn những chất nóng hại thận thành nhiệt nên bí tiểu, thức ăn này nuôi con đang bú thì con cũng bị bí tiểu.

10-Mẹ không đủ máu áp huyết thấp muốn có con, chỉ làm hại cả mẹ lẫn con .

Ở phút thứ 32:20

Một người mẹ có áp huyết thấp, thiếu máu, thiếu khí nhiều thì không tạo thai được, nếu có thể tạo thai thì thai cũng không phát triển, nếu có sinh ra được thì trẻ èo oặt, bệnh hoạn cả đời làm khổ cả mẹ lẫn con, con ốm yếu bệnh hoài, mẹ phải nuôi con bệnh cả đời, lớn lên nó không phát triển nó lại thiếu khí huyết sẽ bị bệnh ung thư. Nguyên nhân chúng ta cũng biết trước nhờ máy đo khí huyết biết thiếu khí, thiếu huyết không đủ nuôi các tế bào cho đủ làm sao mà khỏe mạnh được.

Mẹ tim suy, thì con tim cũng suy, mẹ mất máu não thiếu trí nhớ thì con cũng thiếu máu não, lớn lên cũng sẽ bị mất trí nhớ sớm, nếu lớn lên nó không tự biết điều chỉnh khí huyết bằng ăn uống.

Ngược lại cha mẹ bị bệnh cao áp huyết, ăn uống dư thừa, sinh con ra còn nhỏ tuổi mà cũng dư thừa khí lực, huyết lực, nó sẽ bị bệnh cao áp huyết, chảy máu mũi, hiếu động, động kinh, co giật, lớn lên không biết ăn uống hợp lý để điều chỉnh khí huyết thì nó cũng bị bệnh cao áp huyết sớm ở tuổi thanh niên, so với áp huyết theo tiêu chuẩn tuổi.

Con bệnh tự kỷ là bệnh tâm thần cũng do tinh thần của của cha mẹ có xung khắc không hòa thuận thì tình cảm đứa con theo ai đây, nên tâm tánh nó cũng bất thường, ghét mẹ ghét cha, sợ mẹ sợ cha, tạo cho mình đời sống cô lập để tự bảo vệ mình, hành động theo ý mình không nghe lời ai…Thí dụ người mẹ thận hư sinh con cũng thận hư, cái gì nó cũng sợ…còn cha mẹ áp huyết cao tính nóng giận thì con cũng áp huyết cao sinh hiếu động ưa giận không hài lòng bực bội với mọi người.

Còn trẻ nào sanh ra ngồi đâu ngồi đó tính tình không vui là do cha mẹ chán nản buồn rầu, ly dị không có sức sống thì con cũng không có sức sống….

Tại sao có những cảnh như vậy, theo vật chất thân bệnh do Tinh-Khí-Thân, nhưng còn do Nghiệp bệnh, theo giáo lý Phật giáo là nhân qủa, con sinh ra làm con của mình có hai nguyên nhân làm con để vào gia đình mình đòi nợ mình, chỉ làm khổ cha mẹ, hay vào làm con để trả nợ cha mẹ chỉ làm lợi cho cha mẹ. Khi đòi hay trả hết nợ thì chết trước khi cha mẹ chết, còn hết nợ nhau thì cha mẹ chết hay lưu lạc còn lại một mình thì mình lại tiếp tục mình trả nghiệp của mình để mình sướng hay khổ trong cuộc đời này, và những công việc làm đời này tạo nhân cho đời sau.

Có người hỏi, có những đứa trẻ mặt nó vui, nó lên chánh điện nó thích lạy Phật là sao ? Nó có nghiệp căn kiếp trước là người tu.

Có người hỏi một trẻ tự kỷ khi vào chùa nó cũng tự động lễ lạy Phật. Đó là căn trong kiếp trước nó có tu, biết đến Phật pháp, nếu nó được tu thì nghiệp tự kỷ của nó hết vì nó hết bị ảnh hưởng của cha mẹ cả 3 mặt Tinh-Khí-Thần, Tinh thì ăn chay thanh lọc nghiệp xấu, khí thì niệm Phật tụng kinh, học được những điều thiện lành, Thần là được tự tại an lạc, bệnh tự nhiên khỏi.

Một vị sư biết khai ngộ thì đã biết nhân qủa của đứa trẻ, những điều này trong kinh nhân qủa có dạy.

11-Thường bị giựt nhẹ lăn tăn quanh vòng môi dưới :

Ở phút thứ 34:55

Chung quanh môi là ruột già hiện lên vòng trắng xanh quanh môi là có bệnh đường ruột già bị hàn lạnh, sinh ra bệnh tiêu chảy, nếu có uống nhiều nước qúa thành bệnh liệt ruột do phình ruột, cơ co bóp ruột bị giãn.

Cái cằm là dấu hiệu của bọng đái một là hư tiểu nhiều, hai là bí tiểu, nơi này bệnh nhân có cơ dưới cằm giựt nhẹ lăn tăn. Hỏi bệnh nhân đi tiểu nhiều hay ít. Trả lời ít, như vậy bàng quang có vấn đề. Bệnh nhân cho biết nó ngứa, đau nhức, là bàng quang nhiễm độc.

Có một lần tôi đến nhà bạn chơi, cửa cổng xa, ông ra mở cửa mà chân đi dạng háng có vẻ đau đớn giống như người bị bệnh trĩ, tôi hỏi ông bị bệnh gì mà tướng đi kỳ thế. Ông trả lời là bị mọc cái mụn ở hậu môn nên đi đụng vào nó đau qúa.

Tôi nói để tôi chữa cho khỏi ngay. Phần thịt tròn dưới cằm là bọng đái, dưới bọng đái là hậu môn, tôi cầm cây bút cà qua cà lại tìm xem có cục cộm trong vùng bọng đái hậu môn không, thì tìm thấy 1 cục, ấn bút đè mạnh vào cục đó, giống như có gai, ông ấy giẫy lên kêu đau qúa, khi ấn hết đau, ông ấy đứng lên đi thì hết đau, vì mụn đó tự vỡ mủ. Thầy diện chẩn Lý Phước Lộc gọi là “đồng thân trị liệu”.Bệnh trĩ cũng nằm đó, bệnh bí tiểu cũng nằm đó, không cần tên huyệt……

12-Trĩ phía trong bị ngứa :

Ở phút 37:40

Đó là trĩ nội. Do ăn nhiều cay nóng hại da thì ngứa. Còn người có bệnh trĩ không bị ngứa là không có ăn cay.

Dùng rau Dấp Cá giã nát lấy cả nước và cái, lấy bông gòn quấn vào đầu ngón tay tấm nước rau Dấp Cá, ngoáy sâu ngập ngón tay vào hậu môn xoay vòng để rửa vết thương, dùng bã dấp cá đắp bên ngoài hậu môn, dán băng keo hay cột không để rớt ra ngoài, trước khi đi ngủ. Dùng thêm lá Dấp Cá ăn sống nhai ra nuớc rồi nuốt để trị ngứa, cầm máu.

Ở phút 38:15 tiếp tục giảng về ung thư vú, vị trí này ai cũng có, nhưng có bệnh ung thư vú phải có thêm điều kiện, vô cớ thở dài, chán đời, áp huyết thấp.

13-Kinh nguyệt 2-3 tháng mới có một lần ra rất là nhiều :

Ở phút 40:05

Kinh nguyệt do rụng trứng (noãn sào) hàng tháng, nếu gặp tinh trùng thì tạo thai, không gặp tinh trùng thì thành máu xấu phải xuất ra ngoài đúng kỳ thì gọi là kinh nguyệt. Áp huyết thấp không đủ máu trong người nuôi tế bào chức năng lấy gì mà nuôi trứng, nên 2-3 tháng mới đủ rụng trứng 1 lần, mà không kinh nguyệt hàng tháng là không rụng trứng lấy gì có con. (Học viên ồ lên : À đúng rồi hay qúa !).

Trứng cũng là máu, nhưng thiếu máu nên trứng không khỏe cũng không đậu thai được.

Theo đông y, 40g máu mới tạo được 1g tinh, 40 g tinh mới biến thành 1g tủy, 40g tủy mới biến thành 1g tế bào não, mà con người làm sao có đủ máu và đủ khí để biến hóa đúng ra được theo lý thuyết, vì máu càng ngày ngày thiếu hụt dần không đủ nuôi tế bào chức năng.

Những người tu hành không phạm giới dâm nên khí chuyển máu thành tinh, chuyển tinh hóa tủy gọi là hoàn tinh bổ não.

14-Tại sao áp huyết thấp mà người rất nóng, đó là dấu hiệu ung thư..

Ở phút 44:44

Thay vì đủ máu thì tim bơm máu thong thả với nhịp tim 75 lần, nhưng vì thiếu máu tim phải bơm thật nhanh cho máu ra đến đầu tay chân, nhưng chưa ra hết đầu tay chân thì hết lượng máu lại phải chạy trở về trả lại máu cho tim nhận oxy đổi máu đỏ để bơm tiếp, nên tim phải bơm nhanh và mạnh đến 120 nhịp trở lên, khiến bên trong người nóng lên, nhưng máu không đủ ra đến da và tay chân nên bên ngoài tay chân rất lạnh, phải mặc áo ấm.

Theo lý thuyết đông y, mạch nhanh là nhiệt thì nhịp đập 120 là nhiệt nhưng chân tay và da lại lạnh, mà áp huyết thấp tâm thu là thiếu khí lực, thấp tâm trương là thiếu huyết lực, trong người lại nóng theo nhịp tim, sờ chân tay lại lạnh, đông y gọi là chứng bệnh nan y, nhiệt gỉa hàn,

Thí dụ nếu áp huyết một người là 125/60mmHg nhịp tim 120, trong người nóng, miệng khô, lở môi miệng, chân tay, da lạnh phải mặc áo lạnh, thì đây là áp huyết gỉa để lừa gạt tây y, đông y bắt mạch biết là bệnh nan y, nhưng không chứng minh được cho tây y biết là bệnh nan y, còn KCYĐ đổi áp huyết giả thành áp huyết thật, là nếu người không bệnh tiêu chuẩn nhịp tim bình thường không nhanh là không nóng, hay không chậm là không lạnh, thì nhịp tim là 75, vì thiếu máu nên cơ thể phải tăng khí lực tối đa mà cơ thể có để giúp tim phải đập nhanh đưa máu đi nên nhịp tim đập nhanh hơn so với bình thường 45 nhịp (120-75=45), như vậy khí lực cũng đã phải tăng thêm 45mmHg, vậy áp huyết thực bây giờ là :

125-45/60mmHg nhịp tim 120-45 hay 80/60mmHg nhịp 75. Kết luận bệnh nhân đang bị bệnh ung thư.

Khi áp huyết giả xuống 115/60mmHg nhịp tim 120 thì áp huyết thật sẽ là 70/60mmHg nhịp 75 là sắp chết.

Đây là áp huyết đánh lừa các thầy thuốc đông tây y, nói rằng áp huyết bệnh nhân rất tốt, không có vấn đề, chỉ tại nhịp tim cao thôi.

Chúng ta xét một bệnh án như : Áp huyết tay trái sau khi ăn 95/62mmHg 86, tay phảí 102/59mmHg 83 tay chân lạnh, người nóng, tuổi trung niên nhịp tim 75..

Nhịp tim tay trái nhanh hơn 86-75= 11, áp huyết thật tay trái 95-11/62mmHg nhịp tim 75, hay 84/62mmHg nhịp tim 75

Nhịp tim tay phải nhanh hơn 83-75=8, áp huyết thật là 102-8 hay 94/59mmHg nhịp tim 75

Kết luận : Áp huyết sắp xuống thấp sẽ trở thành ung thư nếu bao tử không chứa đủ chất bổ máu cung cấp máu cho gan thiếu (còn 59), và không tập luyện khí công tăng khí lực để áp huyết bên tay phải khí lực xuống 80 thì bệnh ung thư thành hình.

Do đó muốn tăng khí lực cần phải uống Coca cho tăng khí lực, tăng đường chống mệt tim, và tẩy rửa những thức ăn cũ không tiêu trong cơ thể, nó cũng chính là đồng lỏa giúp hình thành tế bào trở thành ung thư ác tính.

15-Tại sao hành kinh bị đau bụng

Ở phút 45:40

Nếu đủ máu nhưng người nhiệt, máu đặc không ra được mới đau do dư calcium trong máu, hoặc áp huyết thấp thiếu máu, không đủ khí lực tống ra, nên máu xấu bị ứ lại thành huyết bầm vón cục gây sưng tắc vòi trứng, tùy theo nơi đau ở ngay giữa bụng dưới là cổ tử cung hay sưng hai bên buồng trứng.

Nếu kinh không ra được làm nhức đầu, gọi là nhức đầu do đau bụng kinh, máu ứ bị giữ lại không ra kinh, khi tập bài Kéo Ép Gối mỗi ngày làm tăng khí lực thì sẽ hành kinh đều ra dễ không bị đau bụng kinh

Trường hợp máu rỉ ra bầm, bụng dưới cứng to có cục cộm là bướu cổ tử cung, do máu ứ lại lâu ngày tạo thành…

Cách chữa buớu cổ tử cung to bằng trái cam, bác sĩ phụ sản khám tưởng có thai 3 tháng :

Trong dân gian thường đắp cao khoai sọ :

Có 2 giai đoạn :

a-Cách làm cao :

Mỗi lần dùng 200g khoai sọ hoặc củ nhánh của khoai môn, mục đích dùng vỏ và lông ngoài vỏ khoai nhiều hơn, nó là chất thuốc đặc biệt, 200g gừng già có vỏ. Cả hai rửa sạch đất, đem xay hay giã nát nhuyễn, không cho nước. Sau đó cho 1 muổng bột (,mì hay gạo…) nhào chung cho thành một chất dính kết. Lấy ra đổ lên trên một miếng nylon, khoảng chừng 1 tấc vuông, dầy 1cm.

b-Chất xúc tác :

Lấy 1 củ gừng chừng 50g đập nát, bỏ vào nồi nưóc nấu sôi vừa. Dùng khăn dầy, nhúng vào nước gừng rồi vắt khô, chờ giảm nóng còn khoảng 60 độ, đắp trên chỗ sưng đau ở bụng dưới cho đến khi hết nóng, đắp lại vài lần như thế. Mục đích tác động trên chỗ bướu làm mềm, giảm đau, làm cho bướu nóng lên sẽ tăng tính hấp thụ thuốc của miếng cao, và làm giảm ngứa của cao khoai sọ khi đắp lên bướu.

Mỗi tối, trước khi đi ngủ, phải đi tiêu tiểu xong, nằm trên giường, đắp chất xúc tác chừng nửa giờ, rồi đặt miếng cao lên, dùng băng cột buộc cho khỏi rớt thuốc khi ngủ.

Phản ứng của thuốc rất ngứa nếu không dùng chất xúc tác sẽ không có kết qủa. Nhờ đắp chất xúc tác, đêm đỡ cảm thấy ngứa, nhưng cảm thấy như có kiến bò. Sáng ngủ dậy thấy cao khô thành bột rời rơi vãi ra ngoài.

Đắp khoảng 10 tối, khi nào thấy sáng ngủ dậy cao thuốc vẫn còn chất nhão mà không khô, là bướu không còn, nên hết rút chất thuốc của miếng cao.

Bài thuốc này đã chỉ cho những người bị bướu to bằng trái cam, bác sĩ tưởng lầm bệnh nhân có thai bị làm băng, sau biết là bướu, đề nghị phải mổ gấp. Trong khi chờ thời gian đến ngày hẹn mới mổ, bệnh nhân làm băng đau qúa, đã tạm dùng phương pháp trên để cầm cự. Nhưng sau đó không thấy bướu và làm băng, đi khám lại không còn bướu. Bài cao khoai sọ cũng chữa có kết quả bệnh lao hạch cổ.

Trong tử cung có huyết xấu gây đau bụng, dân gian thường giã lá rau ngót 1 nắm uống, để trục máu xấu, trục nhau còn sót sau khi sanh chưa ra hết, nó có tính co bóp tử cung mạnh nên phụ nữ đang mang thai cấm dùng.

16-Chân tay lạnh, da chân dầy :

Ở phút 1:04:09

Tắm ngâm người vào bồn tắm nước nóng ấm pha với 1 lít nước nấu sôi với 200g gừng già giã nát, ngâm ngập người trong nước ấm gừng cho đến khi nguội thì xong, lau khô người. Khi ra gió không cảm thấy lạnh nữa.

Còn chai chân do huyết đọng lại dưới bàn chân lâu ngày bị hóa vôi gọi là huyết hóa vôi, ngâm bàn chân hay gót chân vào dầu nguyên chất huile de glycérine 100% có tính chất tan trong nước, rửa chà chân cho sạch, lau khô, rồi đổ dầu vào một cái thau nhỏ hay một cái hộp bằng nhôm (hộp đựng bánh biscuit) đặt được vừa bàn chân vào ngâm 30 phút, xong lau khô. Dầu thấm vào da làm da chân mềm hết bị chai. Áp dụng mỗi ngày hay mỗi tuần cho đến khi khỏi bệnh.

Dầu glycérine thường có pha vào các mỹ phẩm để đem thuốc mỹ phẩm thấm được vào da.

17-Rong kinh, hở cổ tử cung, sa tử cung:

Ở phút thứ 1:08:40

Nấu 1 lít nước với 1 củ nghệ giã ra và 1 cục phèn chua, cả 2 to bằng ngón tay cái cho tan, đổ vào 1 cái bô cao, loại thường cho những người già ngồi đi cầu, xông cửa mình với nước thuốc này mỗi ngày sẽ khỏi. Phèn chua sát trùng làm se lại săn da, khô da, nghệ cũng sát trùng lành vết thương.

Dân gian dùng phèn chua làm lắng nước sông hay nước giếng đục thành trong.

18-Phèn chua với dứa chữa sạn thận, bàng quang :

Ở phút 1:10:20

Mua 1 qủa dứa (tên khác là thơm, khóm), gọt vỏ, cắt phần đầu làm nắp đậy, khoét một lỗ sâu 3cm, đổ vào lỗ một muổng nhỏ (muỗng cà phê) bột phèn chua (mua cục phèn chua nhỏ giã ra thành bột), rồi đậy nắp lại, bỏ qủa dứa vào lò nướng cho chin vàng (nướng 300 độ F lâu 30-45 phút), lấy ra, vắt lấy nước cốt, được chừng 2 ly. Tối đi ngủ uống 1 ly, mục đích làm cho sạn thận và bàng quang mềm ra như trứng gà non. Sáng vừa thức giấc, uống 1 ly còn lại, nằm nghỉ 30 phút, mục đích làm cho vỡ sạn thành bột bụi, rồi đi tiểu. Để ý nước tiểu đục như nước vo gạo hay như nước vôi, mùi nước tiểu rất khai.

Triệu chứng của sạn thận là có cơn đau thắt từ bụng lan ra sau lưng, có khi đau từ thắt lưng sang bụng, mệt mỏi, nói không ra hơi, đi lại mạnh thì đau, không ăn uống được, có lúc nghĩ là bệnh đau lưng, có lúc nghĩ là bệnh đau bụng, nhưng không đi cầu…Sau khi uống nước dứa phèn chua một ngày, những triệu chứng kể trên biến mất, không còn đau đớn, thở dễ, nói cười sang sảng như người hết bệnh.

19-Nóng trên đầu là bệnh gì ?

Ở phút 1:12:00

Trên đỉnh đầu thuộc gan, nóng trên đỉnh đầu là gan nhiệt do huyết lực dư, thăng lên đỉnh đầu là khi, như vậy là bệnh áp huyết cao bên tay phải do gan dư khí lực, dư máu.

Tất cả các bệnh đều lý luận theo ngũ hành, theo khí lực, huyết lực, hàn nhiệt của máy đo áp huyết và bộ vị tạng phủ trên đầu mặt.

20-Tại sao bị bệnh bướu cổ ?

Ở phút thứ 1:12:20

Chẩn đoán bệnh theo kết qủa số đo áp huyết của một bệnh nhân, Đường-huyết 74mg/dL, Tay trái bao tử sau khi ăn 2 giờ vẫn còn cao hơn tiêu chuẩn là ăn không tiêu, khí không đi xuống mà khí thăng lên cổ thành bướu cổ.

Nguyên nhân thứ hai do khó tính, luôn ngậm miệng, khí lên mà không thoát được ra ngoài miệng được nên bị ứ đọng tại cổ thành bướu cổ.

Nhìn mặt biết bị hở van tim, má bên phải phình hơn bên trái đúng với số tâm trương bên phải 81 cao hơn bên trái 79, nhưng cả 2 cao hơn tiêu chuẩn tuổi (65-70).

Sờ trán nóng là bao tử nhiệt thì đúng với nhịp tim đo được bên trái 75, do thức ăn nhiệt, bên phải 72 (tiêu chuẩn 65-70)

Tập bài vuốt cổ cho hạ khí làm áp huyết hạ thấp, và nằm Kéo Ép Gối Thổi Hơi Ra Làm Mềm Bụng 200 lần thông khí toàn thân, bài Vỗ Tay 4 Nhịp điều chỉnh tim co bóp cho nhỏ lại, vì bị hở van tim,

Hướng dẫn một bệnh nhân tập mẫu bài Kéo Ép Gối. Khi bao tử ra hết hơi thì bướu cổ hết, nếu không thổi ra hay tập niệm Phật cho hơi thoát ra mà cứ hít vào bướu cổ càng phình to, sẽ làm hơi thở ngắn, khó thở trở thành bệnh suyễn. Muốn cho khí xuống thì không thở bằng phổi sẽ hít vào nhiều hơn thở ra, còn bịt mũi (nhét bông gòn) thở bằng miệng là thở sâu xuống bụng thì khí bao tử đi xuống, áp huyết xuống, khí của bướu đi xuống và làm hạ áp huyết, vị khí sẽ xuống làm tiêu hóa thức ăn.

Nếu hít vào bằng mũi mà bị bệnh suyễn ngắn hơi hụt hơi, lâu lâu lại phải xả khí thành thở dài, lại sinh ra bệnh thỉnh thoảng thở dài, nếu thêm chán đời nhiều năm 5-10 năm, thì lại biến thành bệnh ung thư vú, khi áp huyết và đường xuống thấp.

Hay buồn ngủ là thiếu đường, bệnh nhân vừa ăn chè đường mới lên được 7.4mmol/l, nếu chưa ăn thì đường sẽ thấp hơn như 5.0mmol/l. Điều kiện tế bào biến thành ung thư do thiếu khí lực, thiếu huyết lực, thiếu đường.

Đừng sợ dư đường, chỉ đi lên đi xuống cầu thang đường xuống nhanh lắm, chỉ cần tập khí công không bao giờ sơ bị bệnh tiểu đường.

21-Hướng dẫn tập thể dục Khí Công Tịnh Độ

Ở phút 1:20:32 đến hết.

Thân

doducngoc

Video bài giảng 4 tại Thụy Điển

Video bài giảng 4 tại Thụy Điển
Lý thuyết Ngũ Hành Tạng Phủ, Tinh-Khí-Thần trong đông y
https://www.youtube.com/watch?v=guMPFbmiV4c

1-Ý nghĩa của 3 số đo áp huyết :

Ở phút đầu .

Số thứ nhất của áp huyết là tâm thu (systolic), số thứ hai là tâm trương (diastolic), số thứ ba là nhịp tim.

Đối với môn Y Học Bổ Sung của Khí Công Y Đạo, theo đông y bắt mạch trên mỗi cổ tay cũng tìm ra được 3 con số ấy ở bên cổ tay phải và tay trái khác nhau tùy theo bệnh của tạng phủ, nên mới gọi số thứ nhất là Khí Lực, số thứ hai là Huyết lực, số thứ ba là Hàn-nhiệt.

Nhưng một thầy đông y giỏi có kinh nghiệm nhiều năm sẽ có kết qủa khác nhau so với một thầy ít kinh nghiệm, khi khám trên cùng một bệnh nhân, nên sự chẩn đoán khác nhau, nên 2 thầy cho thuốc chữa bệnh sẽ khác nhau, vì thế có thầy giỏi chữa hết bệnh nhanh, thầy dở chữa lâu khỏi.

Ngày nay nhờ máy đo áp huyết, cũng đo ở 2 tay, cho ra con số chính xác để định bệnh, nên khám bệnh định bệnh rất nhanh, nhưng khi điều trị, đông y phải dùng thuốc, có loại thuốc tốt xấu khác nhau, nên ngành đông y, cũng giống như tây y, có nhiều loại thuốc vẫn chưa chữa đúng bệnh như thầy điều trị mong muốn, đề làm sao thay đổi được con số khí lực, huyết lực, và nhịp tim hàn nhiệt trở lại trạng thái tiêu chuẩn để khỏi bệnh.

Đông y có tiêu chuẩn Khí/Huyết quân bình thì mạch khí lực, huyết lực chạy hòa hoãn thong thả trơn tru là người khỏe không có bệnh.

Khi mất quân bình, như mạnh hơn, nhanh hơn, người nóng hơn, đông y gọi là thực chứng.

Ngược lại khí lực yếu, huyết lực thiếu, chạy chậm, người lạnh, đông y gọi là Hư chứng.

Bệnh nhân Á Đông hay tây phương khi bị bệnh cũng đêu nằm trong quy luật Hư hay Thực chứng này về Khi lực, về Huyết lực, về hàn nhiệt theo nhịp tim, cho nên đông y lấy kết qủa số đo áp huyết của mọi lứa tuổi, căn cứ theo bắt mạch bằng máy đo áp huyết và bằng khám mạch ở cổ tay, đã phân biệt được bảng áp huyết tiêu chuẩn theo tuổi, mà tây y không biết đến tiêu chuẩn hư-thực, hàn-nhiệt này, chỉ biết áp huyết tổng quát cho mọi lứa tuổi từ trẻ em đến người cao tuổi giống nhau, cứ nằm trong khoảng 100-140mmHg là tốt không có bệnh là một sai lầm, vì trẻ em có áp huyết như người lớn theo đông y là bệnh thực chứng, dư khí lực, dư huyết lực, dư nhiệt người nóng mới hay bị chảy máu cam, động kinh, hiếu động, ngược lại người lớn có áp huyết thiếu như trẻ em là khí lực thiếu. huyết lực thiếu, nhịp tim thấp người hàn lạnh, nên tế bào bị thiếu khí thiếu huyết, máu chạy chậm nên tế bào không có sức hoạt động gây đau nhức toàn thân, hệ miễn nhiễm suy yếu, chức năng tạng phủ suy yếu là nguyên nhân dẫn đến bệnh ung thư, là bệnh không do vi trùng, mà do tế bào không đủ máu nuôi dưỡng bị bỏ đói lâu ngày, bị cô lập kết thành khối u….

Đây là bảng tiêu chuẩn áp huyết theo loại tuổi theo kinh nghiệm của khí công y đạo :

95-100/60-65mmHg, mạch tim đập 60-120 là áp huyết ở tuổi thiếu nhi.( 5 tuổi-12 tuổi)

100-110/60-65mmHg, mạch tim đập 60-70 là áp huyết ở tuổi thiếu niên (13 tuổi – 17 tuổi)

110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi)

120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)

130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)

Công thức áp huyết của tây y đối với cách tìm nguyên nhân bệnh của môn Y Học Bổ Sung gọi là :

Khi lực thuộc KHÍ/ huyết lực đến từ thức ăn thuộc TINH/ nhịp tim tạo ra sức nóng lạnh trong cơ thể liên quan đến lượng đường-huyết trong máu, gọi nôm na là ĐƯỜNG. Cơ thể thiếu đường trong máu thì đau nhức, dư đưởng làm người nóng nhiệt, làm thay đổi sắc mặt, gọi nôm na là THẦN

Công thức khám bệnh hay chữa bệnh là điều chỉnh 3 yếu tố nảy lọt vào tiêu chuẩn áp huyết theo tuổi : KHÍ/TINH/THẦN

Nếu Tinh do ăn uống đúng, Khí do tập luyện đúng, tạo ra thần sắc tốt hồng hào khỏe mạnh, còn khi bị bệnh là do Tinh sai, Khí thiếu, Thần suy. Phải đo áp huyết để biết phải điều chỉnh lại Khí hay Tinh huyết hay Đường.

2-Bàn về TINH là thức ăn :

Ở phút thứ 0:48

Tinh của thức ăn hay thuốc uống có 3 đặc điểm là Tính, Khí, và Vị.

Nếu không tập luyện thể dục hay khí công, thì trong thức ăn cũng tạo ra khí của thức ăn khác nhau. Khí do tập luyện để phụ giúp tạng khí chuyển hóa thức ăn, chuyển hóa thành khí, thành máu, tăng cường oxy, tăng hồng cầu, loại độc tố, đẩy huyết tuần hoàn nuôi dưỡng tế bào, tăng cường hệ miễn nhiễm…

Còn Khí của thức ăn là khí bổ sung cho khí riêng của ngũ tạng giúp tạng phủ duy trì chức năng hoạt động của chúng thướng xuyên mỗi ngày.

3-Học về TINH :

Ở phút thứ 1:52

Mỗi một loại thức ăn hay thuốc uống đơn lẻ hay tổng hợp đi vào cơ thể, đều đem 3 yếu tố riêng của nó làm biến đổi tình trạng khí huyết trong cơ thể. Nếu cơ thể cần nó bổ sung thì làm cho cơ thể khỏe mạnh, ngược lại thức ăn thuốc uống dù tốt, không có độc nhưng cơ thể dư thừa nó lại trở thành xấu làm hại cơ thể.

Ba yếu tố chính của thức ăn là : Tính-Khí-Vị.

a-Yếu tố Tính của thức ăn thuốc uống:

Về tính của thức ăn có tính làm tăng nhiệt, tăng hàn, hay tính ôn, không nhiệt không hàn…

Thí dụ : Ăn 1 qủa táo đỏ, thì có tính nhiệt, ăn rong biển có tính hàn, như ăn hoa cúc thì mát, ăn gừng thì ôn.

Như vậy bất cứ ăn thứ gì mà làm nhịp tim đập nhanh hơn 80 là nhiệt, nhịp tim đập chậm dưới 70 là hàn.

Nhờ tính hàn nhiệt này mà những bệnh mất ngủ do nhiệt tim đập nhanh thì ăn tim sen có tính hàn làm tim đập chậm lại, nên ngủ được. Ngược lại người bị mất ngủ do hàn, nhịp tim chậm, ăn chè táo đỏ tăng nhiệt nhịp tim đập nhanh hơn lại ngủ được….

Nếu chúng ta không biết tính hàn nhiệt do nhịp tim nhanh hay chậm, thì tưởng bệnh mất ngủ nào cũng giống nhau, nên khi nghe lời bạn bè mách bảo nhau dùng tim sen tốt lắm hay dùng chè táo đỏ tốt lắm, mà không phù hợp theo phương pháp đối chứng trị liệu của đông y, là hàn cần tăng nhiệt, nhiệt cần tăng hàn để trở lại trạng thái quân bình là ôn, nhịp tim trở về đúng tiêu chuẩn, thì cách chữa sai đó đông y gọi là thực làm thêm thực, hư làm thêm hư.

Thực làm thêm thực, hư làm thêm hư cũng có nghĩa là ăn hay uống một thứ thuốc lúc đầu thấy có kết qủa tốt, nhưng càng uống lại càng bệnh nặng thêm là tại sao ?

Tại vì không đo áp huyết để kiểm chúng kết qủa của thức ăn :

Thí dụ áp huyết thấp, thiếu máu, nhịp tim chậm là hư chứng, sau khi dùng thuốc áp huyết tăng dần lên lọt vào tiêu chuẩn thì ngưng, vì tình trạng bệnh đang từ hư chứng làm tăng lên đúng thì phải ngưng, nếu tiếp tục làm tăng khí lực cao hơn nữa thì lại trở thành bệnh cao áp huyết..

Ngược lại bệnh áp huyết cao về khí lực, huyết lực, nhịp tim cao người nóng do dư đường mỡ, ăn gạo lức muối mè làm hạ khí lực, huyết lực, hạ nhịp tim, thấy áp huyết xuống tốt, nhưng cứ ăn tiếp làm hạ áp huyết tiếp xuống thấp hơn nữa làm mất khí lực, thiếu huyết, thiếu đường lại trở thành bệnh áp huyết thấp, sẽ suy dinh dưỡng, dễ bị bại xuội, và ung thư.

Như vậy một loại thức ăn hay thuốc uống dùng để chữa bệnh không bao giờ được uống suốt đời. Chẳng hạn đông y ưa dùng sâm, đông trùng hạ thảo, còn tây y phải dùng thuốc chữa bệnh áp huyết và tiểu đường suốt đời là sai với quy luật quân bình âm dương là điều tối kỵ trong phương pháp chữa bệnh : Thực làm thêm thực, hư làm thên hư.

Chữa bệnh theo đông y chỉ là điều chỉnh lại âm-dương, khí-huyết, hàn-nhiệt phải hòa hợp đúng, lọt vào tiêu chuẩn áp huyết theo tuổi thì không bao giờ bị bệnh tật.

Một nhận định khác về cực hàn cực nhiệt là cơ thể ăn những thứ gì có tính mát hàn quá sinh bệnh tiêu chảy, những thứ gì ăn làm cơ thể nóng quá sinh ra táo bón. Nên tiêu chảy làm nhịp tim thấp hay táo bón làm nhiệp tim nhanh, cũng cho chúng ta biết là cơ thể đang bị bệnh hàn hay bệnh nhiệt.

Như sầu riêng, nhãn, xoài, chôm chôm, mít…là nhiệt.

Nếu ăn một chất pha chế tổng hợp như một món ăn chế biến cầu kỳ, một loại thuốc uống có nhiều thành phần khác nhau, nhưng cuối cùng nhờ máy đo áp huyết sau khi ăn được 30-60 phút, nếu nhịp tim càng nhanh là chúng ta đã nhận vào cơ thể chất nhiệt, hoặc nhịp tim càng chậm là cơ thể chúng ta đã nhận chất hàn.

Thí dụ sáng đo áp huyết nhịp tim trong tiêu chuẩn 70-80 là ôn, sau khi ăn những thức ăn chế biến tổng hợp không biết thành phần, nhưng nhịp tim còn 65 so với tiêu chuẩn 70 là đã ăn chất hàn, ngược lại nếu nhịp tim nhanh hơn 80 là nhiệt.

Những thức ăn thuốc uống làm nhịp tim đúng tiêu chuẩn là thức ăn có tính ôn.

b-Yếu tố khí của thức ăn thuốc uống :

Trong thức ăn hay thuốc uống chỉ có 4 loại khí làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người :

-Khí liễm :

Thí dụ cơ thể đang bị xuất mồ hôi lạnh là bệnh sẽ bị mất sức, phải ăn hay uống gì cho cầm giữ mồ hôi lại được, hay đau bụng tiêu chảy mãi phải cầm lại bằng gừng thì gọi là khí liễm.

-Khí xuất :

Ngược lại khi bệnh cảm không xuất mổ hôi ra được, phải cho xuất ra mới khỏe, như ăn ớt hay xông là Sả, làm hàn khí trong người xuất ra gọi là khí xuất.

-Khí thăng :

Khi áp huyết tụt thấp, đau nhức mỏi cổ gáy hoa mắt chóng mặt do thiếu khí và máu lên đầu, cần phải ăn uống thuốc gì làm cho khí huyết lên đầu mới khỏi bệnh, gọi là khí thăng.

Cà phê làm tỉnh ngủ, trà xanh làm bón là khí thăng.

-Khí giáng :

Khi nhức đầu làm táo bón khí thăng lên đầu nhiều qúa làm áp huyết tăng, cần phải làm cho khí trên đầu hạ xuống, phải chữa táo bón cho đi cầu được gọi là khí giáng. Như vậy hột mít làm giáng khí.

Môn học đông y là điều chỉnh âm-dương khi-huyết, hư-thực, hàn-nhiệt được quân bình, nên không dùng loại thức ăn thuốc uống nào suốt cả đời, không thể dùng chất liễm mãi, xuất mãi, thăng mãi, giáng mãi suốt đời, sẽ chết.

c-Vị của thức ăn thuốc uống :

Khi học đông y về thuốc cây cỏ trong thiên nhiên qúa nhiều, người học thuốc muốn học nhanh, nên hỏi thầy dạy chỉ cho biết những cây cỏ nào không phải là thuốc. Thầy chỉ nói : Hãy tìm xem có thứ cây cỏ nào không có 1 trong 5 vị này : mặn, ngọt, chua, cay, đắng thì cây cỏ đó không phải là thuốc.

Cuối cùng cây cỏ hoa lá nào cũng có 1 trong 5 vị, như vậy đều là thuốc, nên khi con bò ăn cỏ cũng có chất thuốc đủ 5 vị để điều hòa âm-dương khí huyết, nên nó khỏe mạnh.

Vị chỉ là chất dẫn thuốc vào tạng phủ, như ngọt vào tỳ-vị thổ, như cay vào phế và ruột già, như mặn vào thận và bàng quang, như chua vào gan mật, đắng vào tim và ruột non.

Thí dụ mặn vào thận, dư mặn thì thận bị bệnh thực, thiếu mặn thì thận bị bệnh hư….như vậy tất cả liều lượng của vị cũng phải vừa đủ hợp lý để cho tạng phủ đó không thừa, không thiếu, thì chức năng tạng phủ mới không bị bệnh.

Thí dụ đắng vào tim, nhưng đắng của cà phê, thịt nướng thuộc dương tăng khí làm tim nóng…nhưng khổ qua, tim sen cũng đắng nhưng làm mát thuộc âm. Nếu tim đang nóng làm mất ngủ chúng ta phải dùng nóng hay dùng mát ? Phải dùng mát để quân bình….

Đàm từ bao tử gây ra vì ăn không tiêu, nhất là chất béo, cam, sữa, kem, sữa chua .. nằm trong bao tử hàn do thiếu chất ngọt để tạo khí thấp, thức ăn sẽ không hấp thụ chuyển hoá hết 100% chúng ta biết sự chuyển hóa bao nhiêu phần trăm nhờ đo áp huyết do chênh lệch của áp huyết đo trước và sau khi ăn phải chênh lệch 10mmHg. Bao tử không chuyển hóa được tốt vì bao tử bị lạnh gọi là bao tử hàn, vì thế cần phải giữ ấm bao tử bằng chất gừng.

Những người ăn chay thường ăn nhiều rau xanh nên bao tử hàn không chuyển hóa tốt sẽ sinh đàm cũng làm trở ngại tuần hoàn máu như người ăn mặn dư nhiều chất béo cholesterol xấu không chuyển hóa, đối với đông y cũng gọi chung là đàm, để tránh làm bao tử hàn, khi luộc rau, nấu canh rau, phải cho ít lát gừng nấu chung với canh để trở thành tính ôn ( là ấm, không nhiệt, không hàn) hóa giải tính hàn của rau.

Bao tử muốn làm việc chuyển hóa tốt 100% thì bao tử luôn giữ nhiệt độ 41 độ C không thay đổi để tạo khí riêng của bao tử là khí thấp, nếu thức ăn thuốc uống làm bao tử cao hơn 41 độ sẽ làm cho bao tử bị nhiệt, nếu thức ăn uống nào làm cho nhiệt trong bao tử thấp hơn 41 độ sẽ làm cho bao tử hàn. Các tạng phủ khác cũng phải duy trì khí riêng của tạng phủ mình để duy trì chức năng hoạt động chuyển hóa tốt, nên gọi là Khí của ngũ tạng.

4-Chữa bệnh đàm :

Ở phút 20:50

Thấp khí hư, nhiệt trong bao tử dưới tiêu chuẩn 41 độ C, chẳng hạn như 30 độ C là bao tử hàn do thiếu đường làm tăng nhiệt cho bao tử làm mục nát thức ăn thành chất lỏng, vì không đủ nhiệt tạo ra thấp khí để chuyển hóa thức ăn nên thức ăn mới tạo ra chất đặc sền sệt để biến thành đàm mà không biến thành chất bổ máu. Muốn thức ăn trong bao tử không biến thánh đàm thì cần phục hồi chức năng tỳ-vị, tạo ra khí thấp nhờ chất ngọt và chất ôn ấm là gừng, phải có thêm chất làm hạ khí tiêu đàm, đông y thường nấu nuóc gừng+vỏ quýt khô cho tan, rồi pha 1 thìa mật ong, uống thì khỏi bệnh để hạ đàm và làm tiêu đàm trong bao tử.

Có học viên hỏi cho quế được không.

Mật ong ngọt vào bao tử, quế cay nóng thì cay vào phế, nóng vào tim. Theo ngũ hành tương sinh, hỏa của tim nuôi con là tỳ vị thổ, thổ nuôi con là phế kim…như vậy tim không đủ nóng làm ấm nóng bao tử để chuyển hóa thức ăn, nên tim cần thêm nóng là quế để dẫn hỏa khí xuống bao tử, và cay làm ấm phổi thì đàm hàn trong phổi sẽ lỏng ra dễ khạc đàm, như vậy quế vừa chữa mẹ của bao tử là tim, vừa chữa con của bao tử là phế.

Còn đàm từ thức ăn lạnh mà bao tử không đủ 41 độ C sẽ không chuyển hóa thức ăn thành chất bổ mà biến thành đàm, thổ sinh kim là bao tử thổ đưa đàm lên phế kim, nên gừng quýt, mật ong là chữa bao tử với phổi làm ấm phổi.

Muốn ấm phổi thì dùng ớt cay, chống sốt rét, muốn ấm bao tử thì dùng gừng, muốn ấm thận thì dùng tiêu.

5-Chữa bệnh thận :

Ở phút 22:50

Người ăn mặn bị yếu thận, thì dùng bài thuốc hấp thận heo với tiêu. Xẻ thận heo mở ra làm đôi lóc hết mỡ, bỏ 50 hột tiêu đen vào, đậy lại, bỏ trong chén, không cho nước, khi nấu cơm, đợi cơm gần chín thì bỏ chén thận vào nồi cơm để hấp cho chín. Khi chín, lấy 40 hột tiêu ra, còn 10 hột ăn chung với thận chấm muối, chữa được mọi chứng bệnh của thận như đau lưng, tiểu đêm, hơi thở ngắn, suyễn, thận hàn…40 hột tiêu còn lại phơi khô, khi ăn hết thận, thì mỗi tối uống 10 viên tiêu đó tương đương với 10 viên thuốc bổ thận. Thỉnh thoảng khi có dấu hiệu đau lưng, đau thận, tiểu đêm thì dùng lại một lần.

Nếu ăn chay trường thì dùng bài thuốc : Ba Kich+Đỗ Trọng+Ngưu Tất. 3 thứ bằng nhau, mỗi thứ 3-4 chỉ (12-16g) nấu 4 chén nước cạn còn 1 chén, uống mỗi tối, cũng chữa bệnh đau thận, lưng gối, tiểu đêm.

Ba Kích giống đốt sống chữa cột sống, Đỗ Trọng chữa thận, Ngưu Tất nghĩa đen là đầu gối con trâu, đưa thuốc xuống đầu gối để đầu gối được mạnh, như vậy bài thuốc chữa bệnh lưng thận đầu gối làm mạnh chân thì khí của bài thuốc làm giáng khí nên áp huyết cũng xuống.

Một vị thuốc bắc phải có chất chính, gọi là quân, chất phụ để gia gỉảm làm tăng hiệu lực của thuốc và làm giảm độc tố của thuốc gọi là thần và tá (phò tá), chất dẫn thuốc là đại sứ gọi là sứ, sứ ở đây là chất Ngưu Tất dẫn thuốc xuống đầu gối, nên vừa chữa thận vừa làm hạ áp huyết, nên người có áp huyết thấp không dùng được, gọi là cấm kỵ hay chống chỉ định của thuốc này là : Bệnh áp huyết thấp không dùng được.

Cách nếm thuốc biết thuốc chữa bệnh gì ?

Sau khi sắc thuốc bắc, đổ bã thuốc đi, một thầy thuốc bắc nếm thuốc vẫn biết được thuốc đang uống chữa được bệnh gì nhờ nếm thuốc phân chất theo Tính-khí-vị và vị quân, vị thần tá, sứ, như đã học ở trên.

Thí dụ nếm ngửi thấy mùi vị đắng, ngọt là chữa bệnh tâm tỳ, có mùi vị cay ngọt là chữa bệnh phế tỳ, mạnh bao tử và chữa phổi, ho cảm, phế hư do mẹ là tỳ hư, bổ mẹ bằng chất ngọt làm mạnh mẹ thì chính là bổ con, nên người ta nói theo ngũ hành tương sinh là ngọt bổ phổi, có nghĩa là mạnh mẹ thì bổ con.

Thí dụ vị đắng, vị chua chữa gì ? Chữa tim chữa gan. Một vị là con, một vị là mẹ, chữa tim yếu hỏa yếu, nên làm mộc sinh hỏa giúp mạnh tim.

Thí dụ thuốc có vị mặn vị chua là chữa bệnh gan thận. Thuốc có vị cay vị mặn, chữa bệnh phế thận, thuốc có vị ngọt vị cay, chữa tỳ vị phế.

Nếu thuốc có cả 3 vị như ngọt, mặn, chua, là thuốc chữa gan, tỳ, thận giúp điều kinh cho đàn bà.

Nồng độ đậm nhạt của thuốc là thuốc có lực mạnh hay yếu là do bệnh nặng hay nhẹ.

Món ăn cũng là vị thuốc tùy theo tính-khí-vị của thức ăn, biết cách chọn thức ăn và chế biến thức ăn đúng nhu cầu ngũ hành tạng phủ cần thì nó cũng có giá trị trong chữa bệnh theo đông y ngũ hành tạng phủ, nó khác với khoa dinh dưỡng của tây y vẫn là chữa ngọn không chú trong tính-khí-vị của ngũ hành, chỉ chú trọng 3 thành phần glucid, lipid, protid, không liên quan đến chức năng khí hóa ngũ hành tạng phủ.

Ngay cả những người đứng bán thuốc bắc, hay tây không học rành về ngũ hành tương sinh củng không biết điều này. Có một câu chuyện thực xẩy ra chứng minh điều này :

Tôi cho bệnh nhân người tây phương bị bệnh cao áp huyết uống thuốc viên Lục Vị Hoàn được khỏi bệnh, ông ta khoe với bác sĩ và đưa lọ thuốc cho bác sĩ xem viết bằng chữ tầu, không đọc được. Bác sĩ này thưa lên Hiệp Hội Bác sĩ dùng áp lực, viết một văn thư gủi tôi bắt phải dịch ra tiếng Anh hay Pháp ngữ để biết công dụng và thành phần thuốc, nếu không dịch để trả lời trong thời hạn ấn định sẽ bị phạt 500$ rồi sẽ thưa ra tòa.

Tôi trả lời việc thuốc nhập cảng do y tế quốc gia bắt nhà sản xuất phải dịch chứ không phải thầy thuốc. Họ cũng không chịu, cuối cùng tôi bắt nhà thuốc liên lạc với nơi cung cấp thuốc phải dịch, thì may mắn khi hàng mới về có toa bằng tiếng Anh, tôi gọi bệnh nhân đến giải thích, trong toa thuốc mặc dù không nói đến chữa được những bệnh gì, chỉ có những thầy thuốc học tính khí vị của thuốc để điều chỉnh lại âm dương ngũ hành mới biết cách chữa này, tây y các ông không tin điều chỉnh âm dương ngũ hành mà chữa được nhiều thứ bệnh, nên bắt các nơi sản xuất thuốc cây cỏ thiên nhiên không được quyền ghi chữa bệnh gì, mà chỉ được phép ghi supplémentaire ( thuốc bổ sung) để dấu cho người mua không biết chữa được bệnh gì mà không dám mua.

Còn một trường hợp khác, bệnh nhân yếu thận theo ngũ hành tương sinh thì phổi yếu hay bị ho không đủ khí dẫn xuống thận, tôi cho họ thuốc bổ thận khí là làm mạnh phế khí, tôi cho dùng thuốc

Bách Hợp Cố Kim Hoàn (nghĩa là thuốc viên Bách Hợp củng cố Phế kim). Bệnh nhân sang tiệm thuốc bắc hỏi người bán thuốc, thuốc này chữa bệnh gì, người bán thuốc trả lời, thuốc này chữa bệnh phổi, bệnh nhân hỏi thầy Ngọc bảo thuốc chữa thận, họ nói về hỏi lại thầy Ngọc đi, thuốc này không ghi bệnh thận, chứng tỏ người bán thuốc không biết chữa gốc bệnh là con hư bổ mẹ. Điều này tây y cũng không biết, cho rằng bệnh một đàng đông y cho thuốc một nẻo không hiểu tại sao mà khỏi bệnh, nên cho rằng đông y chữa bệnh mơ hồ qúa, vì họ không học ngũ hành tương sinh tương khắc của tạng phủ như trong hình vẽ trên bảng.

Người Việt Nam có những món ăn bổ tự nhiên do kinh nghiệm nhiều đời của các thầy thuốc đông y truyền lại mà không biết, nên món ăn nào của người VN cũng là vị thuốc chữa bệnh trở thành những câu ca dao như :

Con gà cục tác lá chanh.
Con lợn ủn ĩn mua hành cho tôi.
Con chó khóc đứng khóc ngồi.
Bà ơi đi chợ mua tôi đồng riềng.

Có nghĩa nhắc nhờ người ăn phải nhớ muốn trừ cholesterol của da gà cần nấu với lá chanh, chấm muối tiêu chanh, phở gà lá chanh.

Muốn làm tiêu mất cholesterol của mỡ heo thì ăn vối hành lá (tên VN đặt là Hành có nghĩa là thông, cộng hành rỗng tượng trưng cho ống mạch, chất hành có chất hăng phát tán cho máu chạy trong ống mạch thông suốt không lưu lại chất béo trong ống mạch.

Thịt chó qúa hàn và có độc tố phải thêm riềng để giảm hàn, chống độc tố.

Ốc luộc cũng qúa hàn, ở tây phương chỉ ăn 5-10 con là bị bệnh ói mửa tiêu chảy vì họ không biết gia giảm theo ngũ hành, còn ở VN ăn cà rổ ốc mà không bệnh, vì chấm nước mắm ớt chanh gừng đường cho thật nhiều gừng ớt, ăn ớt gừng cay vừa hít hà vừa ăn được nhiều, mà không đau bụng, kỹ hơn nữa và ăn ngon hơn nữa lại chế biến ốc hấp gừng trước khi chấm nước chấm trên.

Còn tây y chỉ ăn những thứ nào có một vị thôi, như Chip, cay thì cay qúa, mặn thì mặn qúa, ngọt thì ngọt qúa, chua thì chua qúa, đắng thì đắng quá, thiên về một hành làm mất khí hóa đồng bộ của chức năng khí hóa ngũ hành.

Tóm lại, học ngũ hành để biết sau khi ăn rồi, nhịp tim thấp là hàn, nhịp tim cao là nhiệt. Như vậy máy đo áp huyết cũng chính là máy đo công dụng của thức ăn tốt hay xấu có lợi hay có hại đối với cơ thể để chữa bệnh và phòng ngừa bệnh.

Như vậy thức ăn hay thuốc uống bổ hợp với người này mà không hợp với người kia, là do máy đo áp huyết cho biết món ăn ấy có hợp với mình hay không. Ăn một món thức ăn thấy mệt khó chịu, cũng phải đo áp huyết, có khi thức ăn làm tăng khí, hay giáng khí, thì tăng khí có lợi cho người áp huyết thấp, giáng khí có lợi cho người áp huyết cao, ngược lại thức ăn giáng khí mà người áp huyết thấp ăn vào làm mệt do mất khí hạ áp huyết thêm, hay ngược lại người áp huyết cao ăn phải thức ăn làm tăng khí sẽ làm tăng thêm áp huyết sẽ chết.

Có nhiều trường hợp gia đình có nhiều con làm bác sĩ, vẫn thuờng xuyên cho cha mẹ uống thuốc áp huyết đều đặn, nhưng không biết, vì thèm ăn sầu riêng hay ăn trái hồng khiến áp huyết tăng cao đột ngột đứt mạch máu não bị chết, vì không hiểu đông y về tính khí vị của thức ăn thuốc uống, cứ 1 múi sầu riêng hay 1 trái hồng làm áp huyết tăng 10mmHg, ăn 5 múi sầu riêng hay 5 trái hồng áp huyết tăng thêm 50mmHg, nên chết bất đắc kỳ tử. Hai loại thức ăn này làm tăng khí và tăng huyết (tăng tâm thu và tâm trương).

Nếu loại nào làm xuất khí hay hạ giáng khí thì áp huyết tụt thấp…

Báo chí cũng vừa đăng tin bên Thái Lan du khách bị chết vì ăn sầu riêng rồi uống 1 lon Coca. Họ đâu có biết sầu riêng làm tăng áp huyết, rồi Coca làm tăng thêm khí thăng khiến áp huyết tăng cao hơn làm đứt mạch máu não, chứ không phải hai chất kết hợp thành độc tố.

6-Nhờ máy đo áp huyết kiểm soát thức ăn mà chúng ta biết điều chỉnh thức ăn thuốc uống để biết đúng sai, hợp hay không hợp với mình để phòng ngừa bệnh.

Trước và sau khi ăn đo áp huyết giống nhau là có ăn chất gừng liễm khí, nên áp huyết khí lực bao tử không thay đổi. Vì chúng ta không biết kiểm chứng thức ăn thuốc uống bằng máy đo áp huyết có hợp với mình hay không mà cứ nghe quảng cáo thuốc đông y uống bừa, như mật ong nghệ tốt cho bao tử, cuối cùng nó là chất giữ khí, mật ong là chất ngọt tỷ trọng cao là chất lắng đọng khó tan chảy, nẳm dính với thức ăn ứ đọng vào thành bao tử kết thành một lớp dầy, tây y chụp hình thấy vách thành bao tử càng ngày càng dầy lên bất bình thường nghi là ung thư bao tử thì không có gì là lạ.

Không cần chữa ung thư như tây y đã chụp hình và chẩn đoán, chỉ cần dùng thuốc tẩy rửa bao tử là Pepsi trong đó có chất ngọt tỷ trọng nhẹ dễ hòa tan với các chất khác, uống 1 ly sau khi ăn 30 phút, nó sẽ moi móc sủi bọt cho tan những cặn bã thức ăn bị ứ đọng trong bao tử và ruột, moi móc hòa tan những chất mật ong lắng đọng bám vào thành ruột và bao tử, trả lại tình trạng vách thành bao tử bình thường phục hồi lại tính co bóp của bao tử là khỏi bệnh, khi chụp hình lại bao tử không còn thấy dấu vết mà tây y gọi là ung thư.

Nhưng điều quan trọng sau khi dùng chất tẩy rửa để moi móc chất bẩn ra mà không tập khí công tống nó ra khỏi cơ thể bằng mồ hôi, bằng đường tiêu tiểu ra nước tiểu đục, và ra theo phân có mầu xấu và thối khắm, thì nó lại lảng vảng trong dòng máu tuần hoàn dính mắc vào các khe khớp gây ra bệnh gout, thống phong, viêm đa khớp, cholesterol đóng trong tim….

Cho nên chỉ có những bài tập khí công quan trọng là bài Nằm Kéo Ép Gối Thổi Hơi Ra Là Mềm Bụng 200-600 lần sau mỗi bữa ăn 30 phút, mới điều chỉnh tạng khí có kết qủa nhanh nhất mà không có phản ứng phụ nào, gọi là phương pháp chữa bằng cơ học thay cho y học, thông khí toàn thân, muốn thay đổi khí cho thăng, cho giáng cho hạ, hay xuất, liễm khí đều được như ý, đề có kết qủa điều chỉnh khí nhanh do những khí đến từ thức ăn sai làm rối loạn tạng khí.

7-Con hư bổ mẹ, mẹ thực tả con :

Ở phút 49:59

Học ngũ hành cho dễ nhớ. Khi nhà đang cháy, người ta gọi là ông thần hỏa gây ra. Khi nhà cháy xong rồi chúng ta chỉ còn thấy đống tro tàn, như vậy gọi là hỏa sinh thổ.

Trong đống thổ tro tàn đó đào ra thấy cái gì cũng cháy ra tro, chỉ còn lại kim loại, gọi là thổ sinh kim. Kim loại đó bị chảy ra nước, gọi là kim sinh thủy. Chỗ nào có nước là có cây cỏ mọc, gọi là thủy sinh mộc, cây khô dùng làm chất đốt thì mộc lại sinh hỏa. Đó là vòng ngũ hành tương sinh theo quy luật, gọi là mẹ sinh con, nếu đi ngược lại thì mẹ của mộc là thủy, mẹ của thủy là kim, mẹ của kim là thổ, mẹ của thổ là hỏa, mẹ của hỏa là mộc.

Như vậy cách chữa theo ngũ hành của đông y là theo hư (thiếu), thực (dư thừa) phải theo nguyên tắc. Con hư (thiếu) phải bổ mẹ của nó, hay ngược lại. Nó dư thừa gọi là thực, thì phải tả con của nó.

Nếu chúng ta xét về tính khí vị của một loại thuốc, họ quảng cáo tốt cho tiêu hóa ngừa bệnh bao tử là thổ, như thuốc Mật ong và Nghệ.

Hai vị thuốc này không độc, nhưng nó lại làm thành bệnh theo nguyên tắc khí hóa ngũ hành mẹ-con.

Nghệ là chất cay ấm làm lành vết thương lở loét. Mật ong chất ngọt, nó dẫn thuốc nghệ vào thổ là bao tử, mật ong tỷ trọng nặng, khó hòa tan trong thức ăn đặc, nên không tan vào thức ăn mà lắng đọng bám vao thành bao tử để chống lại những thức ăn chua làm loét vách thành bao tử. Vì mật ong không hòa tan dễ với thức ăn nên nó khó đi vào máu theo dưỡng trấp, nên thử đường-huyết không thấy tăng đường, nhưng chất ngọt của mật ong trong bao tử qúa thừa làm bao tử tăng nhiệt trên 41 độ C, nên không cần nhiệt của mẹ nó là tâm hỏa nuôi nó theo nguyên tắc mẹ-con, sinh biến chứng là tâm hỏa tăng qúa thừa hỏa không có lối thoát lại dư hỏa sinh ra bệnh cao áp huyết, lại nữa hỏa dư thì tim không cần gan mộc cung cấp lượng máu cho tim, nên gan lại dư thừa năng lượng, vì nếu tim nhận thì tim làm áp huyết tăng cao thêm, nếu tim không nhận thì năng lượng gan mộc dư thừa phải đi con đường tương khắc ngũ hành là mộc khắc thổ, triệt hạ thổ yếu đi, không cho dư thừa chất ngọt làm hỏa trong tim không có lối thoát, nên gan càng tăng chất chua và đắng cho bao tử làm tiêu mất chất ngọt là mật ong, cho cơ thể không bị tăng nhiệt, thì sẽ không làm cao áp huyết, không làm hại gan, trở thành trận chiến can-vị bất hòa, không ai nhường ai, sinh ra 3 biến chứng hại gan bao tử và tim.

Thế mà con người không biết ngũ hành, không chịu đo áp huyết để theo dõi chức năng khí hóa tạng phủ, cứ tiếp tục uống mật ong nghệ suốt đời, nhiệt trong bao tử nó muốn thoát ra cũng không được nên bao tử bị chai, vách thành bao tử dầy lên, tây y chụp hình xét nghiệm bao tử kết luận là ung thư bao tử phải cắt đi oan uổng.

7-Học về KHÍ :

Tạng khí :

Ở phút 44:40

Là khí riêng của ngũ tạng giống như một software được tạo hóa an bài, có gài sẵn chương trình chức năng hoạt động thích nghi và đồng bộ, nếu nó bị trục trặc hay hư hỏng mới bị bệnh là do con người không biết điều hành thức ăn cho đúng và đủ để bảo trì đúng khí riêng của nó như :

Khí riêng cho tim duy trì chức năng của tim, tiểu trường và Mệnh Môn hoạt động tốt là Hỏa khí.

Tỳ-vị khí là Thấp khí. (khí ẩm thấp để làm mục nhừ thức ăn biến thành dưỡng trấp)

Phế-Đại Trường là Táo khí (khí khô ráo)

Thận-Bàng Quang là Hàn khí

Gan mật là Phong khí (khí chuyển động)

Cho nên thức ăn thuốc uống phải có đủ 5 chất mặn ngọt chua cay đắng để duy trì không thiếu không dư cho một tạng khí nào thì cơ thể con người không bị mất quân bình sẽ không bị bệnh tật.

Đó là lý do tại sao một người bị tây y kết án có tội bị tiểu đường, đã cấm không cho ăn đường lại còn cho uống thuốc triệt hạ mất đường trong cơ thể suốt đời, thì 5 khí ngũ tạng mất đi một khí là thấp khí thì thức ăn mất chuyển hóa, giống như ngũ hành tạng phủ có 5 bánh xe quay đều, nay bỏ đi 1 bánh xe, nó không còn quay đều, như 1 người què.

Còn 5 tạng trong cơ thể ví như một gia đình có 5 người con tên Mặn, Ngọt, Chua, Cay, Đắng, đến bữa cơm gọi chúng ra ăn, thằng Đắng chọn chất đắng, thằng Cay chọn chất cay, thằng Mặn chọn chất mặn, thằng Chua chọn chất chua, trên bàn hết thưc ăn, trên bàn không có chất ngọt cho thằng Ngọt. Nó hỏi mẹ nó : sao con không có thức ăn ? Mẹ trả lời, bác sĩ bảo con bị bệnh tiểu đường không được ăn ngọt, mà chỉ phá mất ngọt, con chỉ có ống chích và thuốc uống này chữa tiểu đường con uống đi….Cứ ngày nào đứa con tên Ngọt của mình không có thức ăn, nó sẽ chết, thì cả gia đình cũng chết theo.

Còn cách chữa của đông y là phục hồi chức năng hấp thụ và chuyển hóa của tạng khí, để làm sao vẫn được ăn đường giúp tỳ vị duy trì thấp khí chuyển hoá thức ăn đúng không thừa không thiếu để khỏi bệnh, không làm dư đường trong máu thành bệnh tiểu đường, nếu không cho ăn đường mà còn tiêu diệt đường trong cơ thể là cách chữa tối kỵ của đông y hư làm thêm hư.

Chức năng của tạng khí :

Như khí của tim hỏa là hỏa khí, là khí lực co bóp tim bơm máu tuần hoàn đi và về nuôi tế bào…

Khí của phế kim là loại khí khô gọi là táo khí, có chức năng co bóp phổi co vào đẩy độc khí ra, và giãn nở cho con người hít khí vào…

Khí của bao tử thổ là thấp khí, luôn giữ nhiệt độ bao tử 41 độ C làm ủ chín thức ăn trong nhiều giờ để co bóp nghiền nát thức ăn thành chất lỏng…

Khí của thận thủy là hàn khí, luôn giữ nước để thận co bóp lọc nước điều hòa thân nhiệt…

Khí của gan mộc là phong khí, là khí co bóp gan cung cấp máu cho tim, cung cấp khí chạy trong các ống mạch và thần kinh toàn thân….phong khi là khí hay chạy, vừa nghe ai nói điều gì làm mình giận khiến mặt đỏ, vừa nghe nói mình sợ mặt xanh, vừa nghe nói vui mặt chúng ta vui….

Khí phong ra da thành ngứa, phong làm co rút gân, phong phối hợp với nóng là phong nhiệt, với lạnh là phong hàn, với thấp khí là phong thấp đau nhức.

Cách chữa của đông y là đối chứng trị liệu, cũng dùng khí để chữa khí, như ở VN bị phong nhiệt là những bệnh đau nhức do thời tiết ở vùng nóng, khi sang vùng xứ lạnh thì bệnh phong nhiệt biến mất, ngược lại đau nhức ở xứ lạnh gọi là phong hàn, ở xứ lạnh chữa mãi cũng không khỏi, nhưng sang xứ nóng như VN thì lại khỏi bệnh.

5 loại khí trong môn học đông y khí công :

a-Tạng khí : là một trong 5 loại khí trong đông y khí công gọi là ngũ tạng khí.

b-Vinh khí : hay dinh khí là khí chuyển hóa thức ăn sinh ra máu, thu được từ thức ăn để nuôi tế bào trong cơ thể, nuôi sự sống cho con người.

c-Vệ khí : là khí âm từ kinh phế bào vệ máu bên trong cơ thể không bị độc tố xâm nhập vào máu, và khí dương kinh Bàng Quang bảo vệ khí bên ngoài cơ thể phòng chống tà khí xâm nhập từ bên ngoài vào cơ thể, như vậy chức năng Phế và Bàng Quang phối hợp thành Vệ khí.

d-Tông Khí : là khí của phổi phải được tập luyện mới có, như các nhà võ thuật, lực sĩ, hay những người có tập thở khí công. Có thêm tông khí thì vệ khí càng mạnh, làm mạnh thêm hệ miễn nhiễm.

e-Nguyên khí : là khí tiên thiên ở thận do tinh cha huyết mẹ cung cấp năng lượng mạnh hay yếu tạo thành ra nguyên khí trước khi sinh ra, còn do ăn uống tập luyện để nuôi dưỡng thận sau khi sanh gọi là khí hậu thiên.

8-Biến chứng bệnh theo ngũ hành :

Ở phút 51:50

Thí dụ bệnh tiểu đường, không được ăn đường mà bị chích hay uống thuốc cho mất đường, thì tỳ vị hư thiếu.

Có những tình huống xẩy ra tùy theo tình trạng nặng nhẹ khác nhau, đông y gọi là chính kinh bệnh, các kinh khác không bệnh.

Nặng hơn nữa là 2 kinh bệnh quan hệ mẹ con là mẹ nó với nó.

Nặng hơn nữa là 3 kinh bệnh là nó bệnh, mẹ nó bệnh và nó làm cho con nó bệnh.

Nặng nhất là tỳ vị hư làm cả 5 tạng phủ bệnh

a-Biến chứng của bệnh tiểu đường cao :

Do không kiêng đường hay không uống thuốc trị tiểu đường, không dùng máy đo đường kiểm soát đường sau mỗi bữa ăn, để lượng đường trong máu cao hơn tiêu chuẩn.Tiêu chuẩn bụng đói từ 6.0-8.0mmol/l, tiêu chuẩn bụng no sau khi ăn từ 8.0-12.0mmol/l. Hậu qủa nhiều đường làm tăng nồng độ bao tử cao hơn 41 độ C làm tăng thấp nhiệt, ăn nhiều mà thức ăn bị đốt cháy không thành chất bổ, nên ăn nhiều mà không mập. Cơ thể tăng nhiệt qúa nóng phải uống nước nhiều, nuớc không bốc hơi kịp làm đầy bọng đái nên phải đi tiểu nhiều.

Thổ thực sinh phế kim thực là phổi qúa khô khát, chức năng phổi nuôi da lông, khí phổi đem khí nóng thấp nhiệt ra da làm da mẩn đỏ sinh mụn, lở da hại thịt, mủn da, da bị trầy xước dễ bị nhiễm trùng không lành làm mủn da rách thịt bị thối rữa nên phải cưa cắt bỏ…..

Thổ thực thì từ chối nhận hỏa của tim, nên tim dư thừa hỏa, càng làm tăng áp huyết tăng thân nhiệt.

Nếu tim bị thực chứng dư thừa, lại từ chối năng lượng do gan cung cấp, khiến gan nóng, làm co rút gân cơ, co thắt thần kinh và ống mạch gây tai biến mạch máu não, viêm gan nhiệt, sưng to gan.

b-Biến chứng của bệnh tiểu đường thấp :

Tỳ vị thiếu đường thì bao tử hàn vì không có đường, thay vì nhờ khí thấp nhiệt trong bao tử giữ 41 độ C, nhưng vì không đủ đường ổn định nhiệt lượng cho bao tử làm chín thức ăn, bao tử mất nhiệt thành thấp hàn, nhiệt độ bao tử xuống thấp qúa không làm chín thức ăn, nên không chuyển hóa thức ăn thành chất lỏng để dễ thu hút chất bổ dưỡng, mà tất cả thức ăn dính kết thành chất đặc tạo ra nhiều khối cục cholesterol và đàm, bướu mỡ, khi ra khỏi bao tử biến thành mỡ dự trữ ở bụng làm to bụng chứ không tạo ra năng lượng khí để nuôi con nó là phổi, nên người mập yếu sức, thở khó làm phế hư.

Cơ thể cần có đường nuôi cơ bắp hoạt động, nhất là cơ tim cần đường để co bóp và máu cần đường dẫn đi nuôi tế bào làm nở thịt, nên trong máu người có chút vị ngọt, vỉ mặn, bây giờ trở thành máu lạt, làm giảm hồng cầu, mất đường trong cơ bắp làm teo bắp thịt, đường cũng nuôi gân cơ thần kinh giao cảm và phản xạ, mất đường làm co rút thần kinh. Làm máu lạnh chạy chậm khiến nhịp tim co bóp chậm, khiến cơ thể lạnh, chân tay tê lạnh, máu không lên đầu nuôi não khiến mất trí nhớ dần, sự cử động gân cơ thần kinh không linh hoạt, bị co giật run lẩy bẩy, thiếu đường làm teo thần kinh gai thị khiến mù mắt…..

Khi bao tử thiếu hỏa không giúp gì cho tiêu hóa thì mẹ nó là tâm hỏa phải làm tăng hỏa giữ cho con nó đủ nhiệt lượng chuyển hóa thức ăn, nên tim phải làm việc nhanh hơn làm rối loạn nhịp tim, rối loạn áp huyết, cuối cùng cũng mất hỏa làm suy tim.

Nên đầu tiên biến chứng của tiểu đường làm suy tim, khi tim suy áp huyết xuống thấp, cơ thể thiếu máu vì không hấp thụ chất bổ của thức ăn, làm khí lực giảm số tâm thu, lthiều ượng huyết giảm số tâm trương.

Biến chứng thứ hai khi bao tử là mẹ hư làm con nó là phổi hư thiếu khí lực, thiếu lượng huyết, nhiệt độ trong phổi hàn, không còn làm chức năng nhận oxy vào xoang phổi để đồi máu đen thành máu đỏ, vỉ xoang phổi không chứa dưỡng trấp mà chứa đàm kết khối trong xoang phổi sẽ chết dần thành ung thư phổi, ruột không chuyển hóa tống đẩy những chất ứ đọng trở thành khúc ruột sưng thối thành ung thư phải bị cắt bỏ….

Biến chứng thứ ba khi phổi suy yếu thì không có năng lượng cung cấp cho con nó là thận, khi thận hư thì tai điếc, mất trí nhớ, loãng xương, hư răng xương, thoái hóa các đốt xương cổ và cột sống, phải lọc thận hoặc ung thư xương, ung thư sọ não..

Khi thận hư thì không nuôi gan, gan không có lực co bóp cung cấp máu cho tim tuần hoàn, làm chai gan, không hoạt động nuôi gân cơ thần kinh gây đau nhức toàn thân, co rút thần kinh phế vị người co rút đau đớn khó thở, sức khỏe con người tàn lụn dần theo những tế bào chết vì thiếu máu, thiếu khí thiếu đường nuôi tế bào, do hậu qủa của cách chữa tây y chứ không phải vì ung thư mà chết.

Đối với bệnh ung thư đông y chữa vào nguyên nhân phải bồi bổ khí, huyết, đường cho tăng áp huyết, còn tây y không chữa vào nguyên nhân mà chữa vào hậu qủa thiếu khí huyết đường làm tế bào bị ung thư cẩn phải cho nhịn đói tiêu diệt cắt bỏ nơi bị ung thư, gây cho bệnh nhân suy nhược, đau đớn khó thở mà chết chứ không phải chết vì bệnh ung thư chỉ do thiếu máu, thiếu khí, thiếu đưởng làm áp huyết xuống đến dưới 70mmHg thì chết.

Đó là lý do tại sao khi bị bệnh ung thư làm đau nhức toàn thân, nếu chịu khó kiểm chứng theo dõi áp huyết cũa mỗi bữa ăn hàng ngày xem ăn đúng hay sai, thì bệnh tật không thể xẩy ra. Đó là ý nghĩa của phòng bệnh hơn chữa bệnh.

9-Cách nhìn mới về bệnh ung thư qua sự khí hóa ngũ hành tạng phủ và cách chữa :

Ung thư là những kết tụ của tế bào do áp huyết của người lớn qúa thấp chỉ bằng áp huyết của một hài nhi nên thiếu nhiều khí lực, thiếu nhiều máu, tâm thu và tâm trương của người lớn mà chỉ bằng hài nhi có áp huyết khí lực dưới 80mmHg, huyết lực dưới 60mmHg, thiếu đường dưới 5.0mmol/l khi bụng đói, làm máu chạy chậm bên ngoài da, tay chân rất lạnh, không bắt được mạch ra tay, nhưng chạy rất nhanh bên trong cơ thể rất nóng, người suy nhược, mệt mỏi, gầy ốm mất thần sắc, ăn ngủ không được, không thở được, đau nhức toàn thân.

Nếu có làm sinh thiết xét nghiệm thì tế bào nơi đó giống như xác chết, không có máu, thịt hư lại dính cả những chất cặn bã hư thối khác nhau như trong bệnh ung thư phổi, trong bệnh ung thư bao tử, trong bệnh ung thư ruột, gan, …hoặc khi chụp x-ray thấy nhiều bướu thịt, bướu mỡ, bướu cặn bã chất bẩn của thức ăn bám vào thịt đã chết….

Đối với lý thuyết đông y là những tạng khí hư, mất chức năng khí hóa ngũ hành tạng phủ, không có khí chuyển hóa thức ăn, nên không tạo ra khí lực, huyết lực, qúa hàn hay qúa nhiệt, mọi tạng khí đều ngưng đọng, cuối cùng do đau nhức, thiếu hơi thở mà chết, chứ không do vi trùng hay virus, chỉ là hậu qủa của ung thư chứ không phải nguyên nhân của ung thư.

Cách chữa ung thư của đông y là dùng khí do tập luyện làm thay đổi khí tuần hoàn của cơ thể, điều chỉnh ăn uống tạo ra chất bổ làm tăng khí lực từ thức ăn được chuyển hóa và ăn thức ăn bổ máu đề phục hồi tế bào, tăng đường để phục hồi thấp khí trong bao tử làm chuyển hóa thức ăn thành chất bổ mà không biến thành đàm, theo dõi kiểm chứng cách chữa bằng máy đo áp huyết và máy đo đường sau mỗi bữa ăn, nếu áp huyết càng tăng lên đúng theo tiêu chuẩn tuổi của KCYĐ thì bệnh càng mau khỏi.

Bài tăng khí giúp tiêu hóa chuyển hóa thức ăn là bài Kéo Ép Gối thông khí toàn thân, ăn thêm chất bổ máu và tiêm hay uống B12 giúp chất bổ chuyển hóa ra máu, dùng thuốc tẩy rửa Coca nạo vét moi móc chất cặn bẩn bám dính vào tạng phủ mà chúng ta chụp thấy gọi là bướu, cùng lúc tập khí công tăng oxy cho tế bào và đẩy chất bẩn tế bào chết ra khỏi cơ thể bằng bài Kéo Ép Gối Thổi Hơi Ra Làm Mền Bụng 200-600 lần sau mỗi bữa ăn 30 phút.

Thuốc tẩy rửa Coca có 3 công dụng :

Có chất ga làm tăng khí làm tăng áp huyết, moi móc chất bẩn dính vào thịt trong nội tạng,

Có chất đường tỷ trọng nhẹ trong Coca sẽ chống cơ thể mệt mỏi trong khi tập, và là loại đường mau hòa tan, nên vừa uống rồi thử đường-huyết thấy tăng lên, nhưng nó cũng mau hòa tan theo mồ hôi sau khi tập luyện khí công, thì thử lại đường-huyết lại thấp hơn so với trước khi uống, chứng tỏ nó cũng moi móc hòa tan đường tỷ trọng nặng dính kết lắng đọng bám vào khối u, khiến oxy lọt vào khối u làm khối u nhỏ dần.

Cách chữa của dông y là điều chỉnh khí để phục hồi chức năng khí của ngũ tạng, trái với cách chữa của tây y, bỏ đói tế bào, và tiêu diệt tế bào ung thư bằng những liều thuốc cực mạnh, làm hao mòn khí lực bệnh nhân càng mất thêm khí lực, mất máu, áp huyết càng thấp, thiếu khí khó thở, dau nhức toàn thân, mệt mỏi, ngủ li bì cho đến khi chết, ngay cả sức mạnh khỏe như con bò mà bỏ đói không cho ăn bổ, mà chỉ tiêu diệt tế bào bệnh cũng như tế bào lành thì nó cũng sẽ phải chết huống chi con người.

10-Tại sao ghép thận mà thận không hoạt động :

Theo vòng tròn bảng khí hóa ngũ hành tạng phủ, khi tỳ vị hư do biến chứng của bệnh tiểu đường, thì tỳ vị khí hư thiếu sẽ không nuôi con thì phế hư, phế hư không nuôi con thì thận hư….đó là tại sao bệnh tiểu đường gây biến chứng thành hơi thở mệt thiếu khí dẫn đến bệnh ung thư phổi và thận hư phải lọc thận, thay ghép thận….tiếp tục bệnh truyền kinh theo vòng tương sinh thận hư không nuôi gan, gan hư không nuôi tim làm suy tim, suy tim là mất hỏa không đủ nhiệt giúp nước trong thận biến thành hơi là thận khí, thận bị ứ nước, đó là lý do tại sao có người đã thay ghép thận mà thận không hoạt động.

Tóm lại cơ thể thiếu đường không đủ nhiệt lượng tạo thấp khí cho bao tử chuyển hóa thức ăn thành chất bổ, chính tỳ vị suy nhược, tế bào chức năng co bóp của bao tử chết dần, khiến tế bào chức năng phổi chết dần, tế bào chức năng thận chết dần, tế bào chức năng gan chết dần, tế bào chức năng tim chết dần, nghĩa là tạng khí của 5 tạng không hoạt động thì chết.

Uống đường Coca hay Pepsi xong thì phải tập khí công bài Kéo Ép Gối Thổi Hơi Ra Làm Mền Bụng thông khí toàn thân để chuyển hóa đường cho cơ thể xuất mồ hôi ra da, thuộc chức năng phổi, phổi mạnh nuôi thận mạnh, thận mạnh làn gan mạnh, gan mạnh nuôi tim mạnh, làm thần sáng, da hồng hào, và cũng làm mất đường của Coca hay Pepsi đã vừa uống, nên thử đường-huyết thấp hơn so với lúc chưa uống Coca hay Pepsi..

11-Ngũ tạng lục phủ là gì ?

Ở phút 54:30

Có học viên hỏi, ngũ tạng là gì, lục phủ là gì ?

Ngũ tạng là cơ quan đặc, chủ về tạo máu, chứa máu, điều hòa máu hơn là khí, tạo ra tế bào, nuôi dưỡng tế bào, thay tế bào mới, loại bỏ tế bào cũ hư hỏng…ví như người vợ là âm, còn phủ là các cơ quan rỗng, chủ về khí hoạt động ví như người chồng là dương, giúp cho vợ làm nhiệm vụ nuôi dưỡng tế bào.

Tạng phủ là một cặp âm dưong cùng một hành :

Như hành thổ âm là tạng tỳ, dương là phủ vị (bao tử) thu nhận thức ăn chuyển hóa giúp vợ là tạng tỳ biến thành máu, nên đông y gọi chức năng tỳ là chức năng sinh huyết để nuôi dưởng các tế bào.

Cặp hành kim thì tạng là phổi, phủ là ruột già, chức năng nhận oxy nuôi tế bào, ruột loại tế bào hư xấu và những độc tố cặn bã của thức ăn ra khỏi cơ thể bằng đường phân như sạn mật, chất béo dư thừa kết tủa, máu ứ…để không gây hại những tế bào lành.

Cặp hành thủy thì tạng là thận, phủ là bọng đái (bàng quang), khi thận lọc độc tố trong máu, nuớc và cặn bã từ thức ăn, thì phủ là bàng quang phải thải những chầt cặn bã dư thừa mà cơ thể không cần sẽ bị loại ra ngoài bằng đường tiểu nên trong nước tiểu có muối, có đường, có mỡ, có vôi, chất urê khai của thận…

Cặp hành mộc thì tạng là gan, phủ là mật, khi gan chứa máu được thận lọc chuyển vể gan, gan chọn lọc ra chất mật, chất béo, chất chua dự trữ giúp việc tiêu hóa, thì phủ mật chứa giữ những chất này đề làm nhiệm vụ điều tiết mật cho gan hoạt dộng đúng chức năng tiêu hóa cho bao tử chuyển hóa thức ăn thành chất bổ máu, và phá bỏ những chất dư thừa độc hại cho cơ thể.

Cặp hành hỏa thì tạng là qủa tim và màng bao tim, phủ là ruột non tiểu trường, tim bơm máu tuần hoàn, thì phủ lả tiểu trường đem dưỡng trấp thấm qua màng ruột non theo mao quản li ti theo máu nhận oxy từ xoang phổi biến thành máu thêm lượng máu cho tim tuần hoàn.

Ở trên là nói về 5 cặp âm-dương tạng phủ, còn thêm 1 phủ và tạng thứ sáu là hệ thống nối ống mạch dẫn khí huyết từ tim đến các tạng phủ khác, gọi là hệ thống tâm bào là màng bao tim bao ngoài qủa tim có tên gọi là kinh Tâm Bào nhưng dính liền với qủa tim, nên không gọi là 1 tạng riêng và vẫn thuộc tạng tim nên vẫn chỉ có 5 tạng, còn phủ rỗng là hệ thống ống mạch giúp tâm bào phân phối máu từ tim ra hệ thống ống mạch trải khắp 3 vùng thượng tiêu, trung tiêu, hạ tiêu thì gọi là phủ Tam Tiêu vẫn nằm trong hành hỏa.

12-Học về THẦN :

Ở phút 59:32

Có thần của 5 tạng là thần sắc vẻ mặt khác nhau lộ trên mặt :

Như Tim thuộc hỏa khỏe thì vẻ mặt lộ ra thần sắc Vui hay cười. Vui qúa thì lại hóa dại .

Tỳ thuộc thổ có bệnh thì hay lo, thì ăn mất ngon.

Phế kim có bệnh thì buồn, hay thở dài.

Thận thủy có bệnh thì hay sợ, thường vải đái

Gan mộc có bệnh thì hay giận.

Muốn dễ nhớ học câu : Vui qúa hóa dại hại tim, lo ăn mất ngon hại tỳ, buồn qúa hại phổi, sợ té vải đái hại thận, giận qúa bầm gan.

Đặc biệt, phụ nữ bị buồn chán thở dài trong nhiều năm thì bị ung thư vú.

13-Nhìn mầu sắc hiện trên mặt biết bệnh :

Ở phút 1:06:30

Thần sắc trên mặt một người khỏe mạnh không bệnh thì lộ mầu da vàng hơi hồng.

Thần sắc bệnh lộ ra bằng mầu sắc trên mặt liên quan đến tạng như :

Mặt vàng đỏ trán nóng là bệnh tim, cao áp huyết, còn mặt sắc hồng tươi sáng là người có tim tốt, người mặt đỏ trán mát không bị bệnh áp huyết cao là người có tập luyện khí công.

Người mặt lộ sắc vàng là có bệnh tỳ.

Mặt lộ sắc trắng là người có bệnh phổi

Mặt lộ sắc xám đen là có bệnh thận

Mặt lộ sắc xanh là có bệnh gan, bệnh xơ gan cổ trướng là độc trong gan mộc sẽ khắc tỳ thổ làm tỳ thổ bệnh thì sinh bệnh vàng cả da mặt và thân người.

Một học viên lên mọi người nhìn sắc mặt vừa vàng vừa hồng, nhìn bên ngoài thấy khỏe, tuy nhiên dưới lớp da ẩn hiện mầu hơi đen và xanh là tiềm ẩn bệnh thận, thì khí thở không dài hơi, mà ngắn hơi, là bệnh suyễn do thận, theo ngũ hành thận hư thì con nó là gan mộc cũng sẽ hư nên có lộ mầu xanh.

Mặt có tàn nhang là máu độc trong gan, chứ chưa phải gan bị bệnh.

Thực tập nhìn mặt tìm bệnh.

Thân

doducngoc

Video bài giảng 3 tại Thụy Điển

Video bài giảng 3 tại Thụy Điển
https://www.youtube.com/watch?v=r0RW3XSdiCQ

Giải thích :

1-Chữa bệnh bằng cơ học : Những bài tập liên quan đến từng bệnh cần chữa.

Ở phút đầu .

-7 bài chữa thần kinh : Cào đầu, Cào gáy, Chà gáy, Vuốt gáy, Vuốt cổ, Chà tai, Xoa mặt.

-Chữa thoái hóa cổ, đau cổ gay tay vai, bàn tay lạnh, bệnh phổi, chỉnh nhịp tim : Tập bài Vỗ Tay 4 Nhịp. Bài có 4 động tác : Sau, trên sau trước giúp cho nội tạng như tim, phổi, gan, bao tử, thận được theo nhịp vỗ tay mà “mở ra, nâng lên, hạ xuống, đóng lại” kích thích chức năng ngũ tạng hoạt động đồng bộ.

-Chữa thoái cổ, cột sống lưng trên, tăng khí ngũ tạng : Tập bài Vỗ Tay 2 Nhịp, Vỗ Tay 4 Nhịp (200 lần).

-Chữa cảm cúm, đau vai : Quay Vặn Khớp Vai (3 lần)

-Chữa mắt cá chân, chữa mất thăng bằng : Tập bài Dịch Cân King 2 Nhịp (10-20 lần)

-Chữa lưng, gối, chữa mất thăng bằng, điều hòa âm-dương tâm-thận : Tập bài Dịch Cân Kinh 4 Nhịp 910-20 lần)

-Chữa cột sống lưng giữa : Tập bài Cúi Ngửa 2 Nhịp (10 lần)

-Chữa cột sống lưng bị lệch, thoái hóa cột sống, gai cột sống, rối loạn tiền đình, chữa gan bao tử, đau hông sườn : Tập bài Vặn Mình 2 Nhịp (10-20 lần)

-Chữa bệnh tiểu đường, gan tỳ thận, côt sống, bơm máu não : Tập bài Cúi Ngửa 4 Nhịp (10-20 lần)

-Chữa bệnh tiểu đường, ép gan tỳ thận, cột sống thoái hóa : Tập bài Vặn Mình 4 Nhịp (10-20 lần)

-Chữa thần kinh tọa, đau , đau dưới tim, làm tăng áp huyết, giảm đường-huyết : Tập bài Dâng Hoa Cúng Phật (Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực) (100 lần)

-Chữa yếu chân, hạ áp huyêt, thần kinh tọa, tê lạnh chân gối : Tập Dậm Chân Phía Trước/Phía Sau (3-5 phút)

-Chữa yếu đau chân gối, tê liệt đi đứng mất thăng bằng : Tập bài Chachacha chân trái chân phải (5 phút)

-Chữa rối loạn tiền đình, mất thăng bằng, hạ áp huyết : Tập bài Đứng Hạc Tấn mở mắt, nhắm mắt (mỗi chân đứng lâu 1 phút mà không bị lảo đảo )

-Tăng nhiệt khí thông khí huyết trên cột sống, ép khí ngũ tạng giải độc, chữa các bệnh ung thư : Tập Đứng Ngũ Hành Tấn (lâu 5 phút).

-Tăng khí chuyển hóa ngũ tạng, tăng áp huyết, làm săn chắc da bụng, chữa thông mũi, nghẹt mũi, mũi ngửi mất mùi : Tập bài Nạp Khí Trung Tiêu 5 lần ( cuốn lưỡi ngậm miệng, dơ 2 chân thẳng góc 45 độ lâu 1 phút, nghỉ 1 phút hay hơn cho bụng nhồi khí)

-Chữa bệnh tiêu hóa, chuyển hóa thức ăn, thông khí toàn thân, tăng tính hấp thụ và thải độc CO2 qua hơi thở ra bằng miệng khi đầu gốt kép ép vào bao tử và gan mỗi khi kéo gối đổi chân,bụng thả lỏng mềm mỗi lần kéo xong ( 200-300 lần sau mỗi bữa ăn 30 phút)

Tập kéo chân chậm làm hạ áp huyết, kéo chân nhanh làm tăng áp huyết, kéo cho xuất mổ hôi làm tiêu mỡ.

-Chữa bệnh áp huyết thấp, đau gối, thần kinh tọa, đau lưng : Tập bài Nằm Đá Gót Chân Vào Mông (200 lần)

-Làm hạ áp huyết, hạ đường-huyết, đau lưng : Tập bài Cúi Lạy Phật 100 lạy chậm. Nếu tập lạy nhanh thì làm hạ đường, tăng thân nhiệt tiêu mỡ nhưng không hạ áp huyết.

-Chữa suyễn thở ngắn hơi : Niệm Phật nhỏ tiếng nhanh 1 hơi liên tục thành chuỗi .

-Chữa chân phình tĩnh mạch, đau nhức tê lạnh chân, tiểu đường cao : Bó chân đi cầu thang cao 10 bậc, đi lên-xuống 30 lần là 600 bậc làm hạ đường 5.0mmol/l. Đi nhanh làm tăng áp huyết, đi chậm làm hạ áp huyết. Khi đi phải hát hay niệm A-Di-Đà-Phật hay A-Lê-Lui-A cho khí thoát ra làm hạ áp huyết nhanh, nếu không hát mà ngậm miệng thì áp huyết tăng.

Thay cầu thang bằng chồng gạch hay khúc gỗ cao 20-25cm giả làm 1 bậc cầu thang, đi lên đi xuống 600 lần.

2-Giải thích những thắc mắc về kỹ thuật các thế tập.

Bài Đứng Tấn Ngũ Hành : Ở phút 28:48

Là thế tập ép khí đẩy độc tố ra khỏi cơ thể ra da phát hiện ra những cơ quan nội tạng bị ung thư, như ung thư đáy phổi khi đứng tấn, cuốn lưỡi ngậm miệng, thở bằng mũi bình thường, đứng lâu 10-15 phút, cả người nóng xuất mồ hôi, da đỏ hồng, thì nơi bị ung thư, có vết đỏ tím, từ từ tím đen 1 vùng lớn bị khí trong nội tạng ép ra, thu nhỏ vết bầm đen đúng vào nơi có bướu độc, toàn thân xuất mồ hôi lấm tấm kể cả nơi da có bướu, nhưng mồ hôi ở nơi vết bầm tím đen mùi mồ hôi thối như mùi phân khắm, còn mồ hôi nơi không có bệnh thì không bị hôi. Cứ tiếp tục tập đứng tấn ngũ hành mỗi ngày 3 lần, mỗi lần lâu hơn 15 phút càng tốt, thì những vết tím bầm đen thu nhỏ dần cho đến khi biến mất và mồ hôi nơi bị bướu ung thư không còn mùi hôi, tập mỗi ngày nhiều lần trong 1 tháng thì khi đi tái khám sẽ có kết qủa không còn tìm thấy dấu hiệu tế bào bị ung thư nữa.

Muốn dộc tố ra khỏi cơ thể nhanh, thì cuối tuần uống thuốc xổ độc máu trong gan bằng Lá Phan Tả Diệp, lấy 1 thìa lá Phan Tả Diệp, giớn như lá me pha đun sôi cho tan vừa 1 ly, uống vào buổi tối, hay dùng thuốc viên tay y đã bào chết thành viên sẵn mang tên Senna Laxative, tối uống 5 viên. Cuối tuần uống 2 tối liên tiếp, sẽ ra phân mầu đen và mầu nâu do máu ứ tích tụ trong cơ thể, khi cơ thể bớt độc thì ra phân mầu xanh lá, khi hết độc ra phân mầu vàng bình thường.

Nên bài tập này dùng để ép khí độc trong những bệnh ung thư và có công hiệu chữa bệnh sa xệ ruột, tử cung, tuyến tiền liệt ,bệnh trĩ.

Bài Vận Khí Ngũ Hành: Ở phút 31:40

Bài này có kết qủa nhanh hơn nhưng khó tập. Xem video đoạn này.

Bài tập Kéo Ép Gối Thổi Hơi Ra Làm Mềm Bụng tập 200 lần sau mỗi bữa ăn 30 phút, giúp cho bao tử co bóp thức ăn để chuyển hóa cho mau tiêu hóa, loại độc tố trong máu, trong thức ăn, ra khỏi cơ thể nhanh cho độc tố khí CO2 ra khỏi miệng, chất cặn bã cho thoát ra bằng đường mồ hôi, thoát ra bằng đường tiêu tiểu, nên sau khi tập đi tiêu tiểu dễ, giúp thông khí oxy toàn thân làm tăng hồng cầu để biến thức ăn thành máu đỏ.

Khả năng của bài tập này một mình nó không giúp giảm đau hay làm tan những thức ăn và những chất ứ đọng của thức ăn lâu ngày kết tủa thành bướu, nhưng nếu cơ thể có dùng thêm chất tẩy rửa là Coca hay Pepsi (tùy theo áp huyết cao thì dùng 1 ly Pepsi làm hạ áp huyết, hay 1 ly Coca làm tăng áp huyết), chất tẩy rửa này làm sủi bọt moi móc chất bẩn, độc, cặn bã thức ăn đã kết bướu kết khối tan rã ra, thì bài Kéo Ép Gối này giúp cơ thể dọn dẹp hốt quét đẩy nó ra ngoài cơ thể để không bị cholesterol xấu làm nghẹt tim mạch và kết khối tụ đọng lại tại các đốt xương khớp gây ra bệnh viêm đau nhức đa khớp và bệnh gout, còn chất ngọt trong Pepsi hay Coca giúp hưng phấn thần kinh để giảm đau, và chất ngọt trong loại nước này cũng bị thoát ra, khọng còn lưu lại trong người..

Kỹ thuật bài này là : Kéo ép, thổi, nghỉ thả lỏng bụng. Kéo ép, thổi, thả lỏng bụng….

3-Phương pháp dinh dưỡng chỉ điều chỉnh Tinh, còn cần phải điều chỉnh Khí là tập luyện mới chữa được bệnh :

Ở phút 37:58

Dùng máy đo áp huyết và máy đo đường để kiểm soát vấn đề dinh dưỡng có phù hợp với tình trạng bệnh của mình không.

Có những vị giáo sư dạy về dinh dưỡng, biết phân chất, chọn những thực phẩm tốt và dạy phương pháp chế biến thức ăn, nhưng lại không để ý đến áp huyết và đường của mỗi bệnh nhân khác nhau, nên nó tốt cho người này lại xấu cho người kia, nó phù hợp với người này cần hạ áp huyết, hạ đường thì phù hợp, nhưng với người có áp huyết thấp và đường thấp lại trở thành nguy hiểm khiến bệnh nặng thêm hay ngược lại.

Thí dụ phương pháp ăn gạo lức muối mè có lợi cho những người béo phì, cao áp huyết, cao mỡ, cao đường-huyết, dùng nó một thời gian thì những bệnh này biến mất, nhưng nó lại làm chết người có áp huyết thấp, không có mỡ, thiếu đường, mà cứ ăn tiếp tục lâu dài làm cơ thể gầy ốm da bọc xương, mất sức, áp huyết càng thấp, đường-huyết thấp càng đau nhức, mất trí nhớ, chân tay vô lực.

Cũng giống như thuốc trị bệnh cao áp huyết để giúp người có bệnh cao áp huyết thì tốt, nhưng nếu dùng suốt đời thì áp huyết hạ thấp làm chân tay vô lực, cơ thể suy nhược, không đủ sức đi lại phải nằm một chỗ cũng bị tê liệt bại xuội chứ không phải bị stroke do xung huyết đứt mạch máu não….

Nên cách chữa của dông y là điều chỉnh lại âm-dương khí huyết quân bình, không dư, cũng không thiếu, nên khi khỏi bệnh thì ngưng không bao giờ phải dùng suốt đời lại trở thành bệnh thực làm thêm thực, bệnh đã hư lại càng thên hư.

Do đó thức ăn hay thuốc uống chỉ là điều chỉnh được một yếu tố Tinh trong đông y. Trong khi bệnh đều do 3 yếu tố hợp lại là Tinh ( ăn uống và thuốc chữa bệnh sai)-Khí thiếu do không vận động tập luyện giúp chuyển hóathức ăn-Thần do biến đổi tâm lý tình cảm lo lắng buốn, giận, sợ..

Nên sau khi ăn cần phải vận động tập luyện để có khí lực chuyển hóa thức ăn làm tăng tính hấp thụ biến thức ăn thành máu, và loại bỏ độc tố ra khỏi cơ thể nhanh để không biến bao tử trở thành thùng rác chứa những thức ăn và thuốc uống không được chuyển hóa gây nên bệnh ung thư.

4-Nạp Khí Trung Tiêu :

Ở phút thứ 39:23

Môt học viên lên làm người mẫu.

Nằm ngửa, người lạnh thì hai bàn tay để lên Đan Điền Thần nơi mỏm xương ức, bàn tay trái của người nam để dưới, bàn tay phải đặt chồng lên trên, (người nữ đặt bàn tay ngược lại với người nam). Đan Điền Thần thuộc dương, ngay dưới mỏm xương ức làm tăng hỏa, tăng áp huyết.

Đan điền Tinh ở huyệt Khí Hải dưới rốn 3 ngón tay, thuộc âm, làm tăng thận thủy, hạ áp huyết làm mát cơ thể, bàn tay phải người nam đặt trên huyệt Khí Hải, bàn tay trái đặt chồng lên trên tay phải, (người nữ đặt ngược lại)

Nếu cơ thể không nóng không lạnh, áp huyết không cần tăng, không cần hạ. Thì bàn tay trái người nam là dương đặt trên huyệt dương Đan Điền Thần, bàn tay phải nam là âm đặt trên huyệt âm Đan Điền Tinh, (người nữ đặt tay ngược lại) mục đích điều hóa khí âm dương.

Cuốn lưỡi cong sát gốc lưỡi nối Mạch Nhâm-Đốc cho ra nước miếng, ngậm miệng, lúc nào cũng ngậm miệng. Dơ hai chân thẳng cao, nghiêng 1 góc độ 45 độ, để dồn khí vào giữa bụng gọi là Nạp Khí vào giữa bụng nên gọi lả Trung Tiêu, tập dơ chân lâu 1 phút, rồi vẫn ngậm miệng bỏ chân xuống, sẽ thấy bụng nhồi khí cho đến khi hêt nhồi khoảng 1 phút hay lâu hơn, rổi mới dơ chân lên tập lần thứ 2…

Nếu đang dơ chân mà cảm thấy mỏi thì co 2 chân vào bụng cho hết mỏi rồi lại tập tiếp cho đủ 1 phút.

Khi bụng nhồi khí mạnh như sóng biển vỗ vào bờ, chúng ta thấy bao tử, gan ruột bị co bóp mạnh giúp tiêu hóa nhanh, táo bón làm phân mềm ra, tiêu chảy làm phân cứng lại, đi tiểu đêm, tiêu chảy do hàn khí nhiều thì đặt tại Đan Điền Thần, táo bón, tiểu khó, đặt tay tại Đan Diền Tinh.

Bài này tập ít nhất 3-5 lần, sau khi ăn, tập một thời gian bụng tiêu mỡ, bụng săn lại nhỏ bụng, chữa bệnh béo phì, chữa đau bụng do bụng nóng lạnh, khí không thông…

Nếu bị bệnh suyễn khó thở, nghẹt mũi, sổ mũi, cảm cúm, mũi ngửi mất mùi, viêm xoang mũi, ăn không tiêu, bụng mỡ….Nhân tiện tập bài này, sau khi hạ chân xuống, thì bôi dầu Vick, dầu Bạc hà, dầu Tràm, dầu Ling Nam Ultra Balm, dầu Camphre… lên bàn tay để vào mũi, khi bụng nhồi thì khí qua mũi nhiều hơn bình thường, nên nó hít được mùi dầu này làm thông mũi, khô mũi, sát trùng phổi, hết bệnh cảm cúm vì nó làm tăng khí đề kháng cho cơ thể.

Nếu muốn chữa viêm xoang, trước khi tập bài này, thì cần phải xịt mũi cho khô rồi mới tập và cho ngửi dầu.

Nếu trong khi đang tập mà chảy nước mắt là dấu hiệu bệnh gan, bài này cũng làm mạnh phổi, gan thận, tỳ vị, ruột. Tập xong da mặt hồng hào, dễ thở, ngưùi nạp được nhiều oxy tăng hồng cầu nhiều hơn.

Nếu những người áp huyết thấp về Khí lực thấp (Tâm thu Systolic thấp), Máu thiếu (tâm trương diastolic thấp) chưa có đủ sức tập bài này thì có thể uống thêm thuốc đông y :

Phụ Tử Lý Trung Hoàn làm tăng áp huyết, tăng tính hấp thụ và chuyển hóa, mạnh tỳ vị và thận, phục hồi chức năng thận khi bị suy thận, chữa đau lưng, tiểu đêm, uống thuốc này cần uống nhiều nước làm tan và dẫn thuốc nhanh, khi áp huyết tăng cao đúng tiêu chuẩn thì ngưng.

5-Quay Vặn Khớp Vai :

Ở phút 1:05:20

Muốn cho mau khỏi cảm cúm thì tập thêm bài : Quay Vặn Khớp Vai 10 lần. Làm nóng vùng gáy vai, xuất mồ hôi, ép lỗ chân lông do cảm làn hở lỗ chân lông sau vùng cổ gáy. Xem video. Nắm chặt tay, hít vào ngậm miệng để giữ khí trong phổi khi quay vặn khớp vai để phồi ép khí nhiễm cảm thoát ra lỗ chân lông sau cổ gáy, và tay ra mồ hôi, tập 3 lần, mặt hồng hào.

6-Bệnh nhân thực tập bài Nạp Khí Trung Tiêu chữa cảm cúm hen suyễn, tiêu hóa kém, người bị nóng hay bị lạnh.

Ở phút 1:15:05

Xoa dầu vào bàn tay bệnh nhân, để bệnh nhân khi tập Nạp Khí Trung Tiêu xong thì đặt tay có bôi dầu vào mũi, thì bệnh nhân bị suyễn khó thở, thở ngắn hơi, tự nhiên được thở nhiều bằng bụng.

7-Kỹ thuật bó băng thung quấn chân trước khi đi cầu thang :

Ở phút 1:18:05

Cần phải đo áp huyết và đo đường, để biết có phải uống thêm chất tẩy rửa Pepsi hay Coca làm tăng hay hạ áp huyết, chống mệt, làm hạ đường, loại bỏ chất cặn của thức ăn và độc tố của cơ thể ra ngoài bằng mồ hôi, tiêu tiểu.

8-Tất cả bệnh nhân thực tập kỹ thuật bài tập Kéo Ép Gối Thổi Hơi Ra Làm Mềm Bụng 100-200 lần :

Ở phút 1:23:49

3 động tác : Kéo ép gối sát bụng cùng lúc miệng thổi hơi ra, thả lỏng bụng, rồi đổi chân. Khi tập đúng, trán nóng xuất mồ hôi trán và lưng bụng là tập đúng. Bài này cũng chữa đau lưng, sạn thận, sạn mật viêm gan, viêm ruột, tuyến tiền liệt, tử cung, kinh nguyệt không đều, tắc buống trứng.

9-Nằm thở thiền thư giãn :

Ở phút 1:30:00 dđến hết.

Sau khi tập Nạp Khí Trung Tiêu xong, nằm thư giãn, nhắm mắt, cuốn lưỡi ngậm miệng, hai bàn tay đặt chông nhau trên rốn, để trên rốn không cần chú trọng tay âm-dương.

Chỉ cần theo dõi bụng sôi, nước và khí huyể đọng trong bụng như mỡ hay khí hay nước trong gan tan chảy xuống rốn hay trong bao tử chạy xuống ruột, hay nước dưới đáy tim từ nơi ngực, nơi xương ức chảy xuống bụng, hay theo dõi bụng tự phồng xẹp, hay theo dõi bàn tay và bụng càng nóng ấm rịn mồ hôi…

Nếu theo dõi cảm nhận được những kết qủa này gọi là thiền tỉnh thức có lợi cho chữa bệnh. Còn không tỉnh thức theo dõi được hơi thở mà buồn ngủ thì gọi là thiền bị hôn trầm cũng có lợi cho việc điều trị bệnh mất ngủ mà không cần phải dùng đến thuốc. Ngủ.

Cả hai lối thở thiền tỉnh thức hay hôn trầm đều làm tần số sóng não giảm xuống thấp 3 Hertz, thấp hơn là uống thuốc ngủ chỉ xuống 5 Hertz, do đó mà khi tập thở thiền, thì 1 giờ thiền có giá trị bằng 2 giờ ngủ của người bình thường, nên các vị thiền sư tập thiền một ngày 4 thời, mỗi thời 2 giờ vào giờ tý, ngọ, mẹo, dậu, không cần ngủ mà người vẫn hồng hào khỏe mạnh không mệt mỏi.

Thân

doducngoc

Video bài giảng 2 tại Thụy Điển

Video bài giảng 2 tại Thụy Điển
https://www.youtube.com/watch?v=9w2mgvZwopk/

Giải thích :

1-Cách chữa mắt : Lý thuyết .

Ở phút đầu.

Trong bài giảng có 5 huyệt trên mắt và 1 huyệt sau đỉnh đầu theo hình vẽ trên bảng.

(Sẽ bổ túc sau huyệt Dương Bạch thuộc kinh Vị do cholesterol làm thành catarac là 6 huyệt trên mắt)

2-Cách khám bệnh tay đau do đường kinh nào trên tay và cách chữa :

Ở phút 12:50

Đau tay có nhiều nguyên nhân không biết đau ở đâu nhưng để ý dấu hiệu khác nhau để nhận biết do đường kinh ở ngón nào để thông khí huyết thuộc đường kinh ấy thì khỏi bệnh :

a-Với tay ra phía trước đau, do đường kinh ngón tay cái.

b-Dơ thẳng cánh tay lên trước mặt lên trời thấy đau là do đường kinh ngón tay trỏ.

c-Dơ cánh tay ngang ra đi thẳng lên đầu đau là do đường kinh ngón tay giữa.

d-Đưa cánh tay quặt ra phía sau lưng đau do đường kinh ngón thứ tư.

e-Đưa bàn tay ra sau lưng mà không đưa cao lên trên được vì bị đau do đường kinh ngón tay út.

Cách chữa :

Đau đường kinh của ngón tay nào thì dùng hai ngón tay bóp day vào hai bên móng đầu ngón tay đó cũng thuận chiều dơ cánh tay, thì khỏi bệnh.

Tuy nhiên nếu áp huyết thấp hay đường thấp dưới tiêu chuẩn tuổi thì phải chữa gốc bệnh là bổ máu tăng đường. Áp huyết cao phải tập bài đi cầu thang, uống Pepsi. Còn áp huyết và đường trong máu thiếu tiêu chẩn thì bị đau lại do dường kinh ấy không đủ khí huyết tuần hoàn.

3-Thực hành cách chữa trật khớp vai làm bên vai cao bên vai thấp.

Ở phút thứ 19:09

Bên vai nhô cao là do trật khới vai làm hai vai bị lệch, vai bên trật khới rút ngắn vai. Xem cách chữa trong video.

4-Thực tập chữa bệnh mắt làm sáng mắt.

Ở phút 20:40

Các bệnh về mắt cườm, cận viễn thị, lòa mắt, mờ mắt. Day mỗi huyệt thuận chiều kim đồng hồi 18 lần

Hai chấm đen ở huyệt 1,2 phải nặn máu thông khí và huyết vào mắt trước, xong tất cả các huyệt day thứ tự từng huyệt, mỗi huyệt day18 lần thuận..Đo đường để xem bệnh nhân có ăn đủ đường hay không, thiếu đường thì dù có day huyệt cũng vẫn bị mờ mắt hay mù mắt trở lại.

5-Cách thay đổi thức ăn làm tăng hay giảm áp huyết, tăng hay giảm đường.

Ở phút 25:57

Ý nghĩa của 3 số đo áp huyết trong tiêu chuẩn đói và no.

Thí dụ trung niên và lão niên

120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)
130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)

Số thứ nhất chỉ tâm thu, đông y gọi là khí lực, số thứ hai tâm trương đông y gọi là lượng máu qua tim, số thứ ba nhịp tim, đông y gọi là hàn nhiệt

Thí dụ số thứ nhất chỉ khí lực từ 130 đến 140 là áp huyết thay đổi trong tiêu chuẩn tuổi tùy theo lúc no hay lúc đói ở bên tay trái và ngược lại với bên tay phải.

Máy đo áp huyết thử được những thức ăn nào mỗi ngày làm thay đổi áp huyết tốt hay xấu. Khi đo áp huyết số giữa tâm trương lớn hơn tiêu chuẩn là dư thừa máu và mỡ.

Khi số này lớn thì cũng phải đo áp huyết ở chân.

6-Cách đo áp huyết ở chân tìm nguyên nhân đau chân, nguyên nhân suy tim, suy thận phải lọc thận :

Ở phút thứ 26:10

Khi đo áp huyết trên tay có số thứ hai lớn hơn tiêu chuẩn thì phải đo cả chân.

Cũng đo chân khi có các bệnh về đau chân để tìm nguyên nhân.

Khi đo chân ở phía cổ chân trong trên mắt cá mới bắt được mạch, dây máy đo cũng hướng về tim như đo ở tay.

Áp huyết tay chân số thứ hai và thứ ba giống tiêu chuẩn, nhưng khí lực ở chân phải cao hơn tay 10mmHg.

Thí dụ ở tay là

130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)
thì áp huyết tiêu chuẩn ở chân số khí lực thay đổi là :
140-150/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)

Nếu khí lực thấp thì chân không có sức, sẽ bị té ngã, thường những bệnh nhân uống thuốc trị cao áp huyết xuống thấp thì khi đi chân yếu thiếu sức sẽ bị té ngã suốt ngày

Một bệnh nhân làm mẫu, đo áp huyết chân trái có kết qủa là :
167/82mmHg 87. Nhịp tim cao, tâm trương đúng, tâm thu cao.

Áp huyết chân phải đo đuọc :
154/81mmHg 81

Không biết chân nào đau thì hỏi bệnh nhân, nên bệnh nhân chính là thầy thuốc của mình. Bệnh nhân này cho biết chân trái đau, thì chúng ta có kinh nghiệm ngay, vì chân trái khí lực 167mmHg cao hơn chân phải khí lực 154mmHg. Kết luận chân trái cứng hơn chân phải nên bị đau. .

7-Cách chữa bệnh bằng dinh dưỡng được kiểm chứng bằng máy đo áp huyết, máy đo đường.

Có người hỏi tại sao phải đo áp huyết 2 tay. Nhắc lại đo bên tay trái đo sự thay đổi áp huyết đúng hay sai lệ thuộc vào thức ăn, món ăn hay thuốc uống nằm trong bao tử.

Đo bên tay phải xem áp huyết thay đổi do sự hấp thụ chuyển hóa thức ăn đúng hay sai của gan.

Khi muốn thử thức ăn thuốc uống đúng sai, như ăn sầu riêng, trái hống, chè sầu riêng…nên đo áp huyết trước và sau khi ăn để so sánh sẽ biết thức ăn đó làm tăng hay giảm áp huyết và đường.

KCYĐ khám phá ra bất kỳ cái đau nào trong cơ thể đều do thiếu đường so với tiêu chuẩn lúc đói và lúc no. Lúc đói đường thấp dưới tiêu chuẩn 6.0mmol/l thì đau, lúc no dưới tiêu chuẩn no dưới 8.0 thì vẫn bị đau, so với đường tiêu chuẩn lúc đói tử 6.0-8.0mml/l, lúc no từ 8.0-12.0mmol/l.

Khi trong máu thiếu đường sẽ bị đau nhức thần kinh, mắt ưa nhắm, buồn ngủ, sụp mí mắt, mắt mệt mỏi, xuất mồ hôi trộm, mồ hôi lạnh, ngay cà mồ hôi tay… …

Nếu áp huyết số thứ nhất khí lực chân bằng tiêu chuẩn, nhưng số thứ hai chỉ lưu lượng huyết lớn hơn tiêu chuẩn thì là bệnh phình tĩnh mạch chân, hậu qủa sẽ suy tim sẽ suy thận thì phải lọc thận.

8-Nguyên nhân ung thư :

Ở phút 44:37

Thí dụ trẻ em nặng 5kg cơ thể cần 1 lít máu nuôi 5 kg tế bào, càng lớn tế bào trong cơ thể phát triển càng nhiều, càng nặng thì cần nhiều lượng máu hơn để nuôi dưỡng đủ cá tế bao, thì áp huyết cũng tăng theo tuổi, như 20 kg cần 2 lít máu, 40kg cần 3-4 lít máu, 50kg cần 4-5 lít máu…

Thí dụ cơ thể có 4 lít máu mà người nhỏ ít kg thì có phải áp huyết sẽ cao hơn tiêu chuẩn không, còn 1 người nặng 50-60kg chỉ có 1 lít máu thì áp huyết phải thấp do thiếu máu không đủ nuôi 60 kg tế bào, như vậy 60 kg tế bào chỉ có 1 lít máu nuôi thì không thể phát triển và tế bào không thể khỏe mạnh như người bình thường đủ máu, nên tế bào sẽ yếu dần bị cô lập thành khối trở thành tế bào ung thư. Có những tế bào quan trọng cần nhiều máu để duy trì sự sống như tim, thận, phổi cần nhiều máu, nó sẽ thu nhiều máu hơn, những tế bào khác sẽ bị bỏ đói lại trở thành tế bào ung thư, nên sau khi chữa trị xong nơi này thì nơi khác lại bị ung thư mà tây y gọi là di căn.

Như vậy ung thư được biết trước khi cơ thể thiếu máu và thiếu đường hiện ra số đo áp huyết của người lớn trung niên lão niên chỉ có khí lực và máu thấp chỉ bằng áp huyết ít hơn em bé mới sanh khí lực 80mmHg, máu qua tim 55-60mmHg và đường-huyết 2.5-3.5mmol/l gây đau nhức toàn thân là đang bị bệnh ung thư.

9-Cách chữa bệnh theo KCYĐ là cách chữa bệnh bằng cơ hơc chứ không phải y học.

Ở phút 45 24

Nếu chúng ta tuổi trung niên, lão niên có áp huyết khoảng 100mmHg khi ăn không đủ chất bổ máu, ăn sai, ăn không tiêu, không hấp thụ chuyển hóa, chán ăn, bỏ ăn, chỉ uống sữa ensure, không tạo thêm máu và khí lực, chúng lại biến thành đàm kết khối trong mạch máu trở ngại tuần hoàn, các tế bào bị bỏ đói kết thành khối u hình thành bệnh ung thư khi áp huyết tụt thấp dần xuống 80mmHg.

Ngoài ra chúng ta lại còn bị vô minh che lấp uống đủ loại thuốc chữa cao áp, tiểu đường, loãng xương, mất ngủ, đau nhức, loãng máu, cao mỡ, thuốc bao tử ăn không tiêu, bón, thuốc tiểu đêm…đều tống vào bao tử đã mất chức năng co bóp để được chuyển hóa dẫn thuốc đến nơi bệnh cần chữa, bao tử trở thành thùng rác chứa đủ loại thuốc tổng hợp nó gây ra phản ứng hóa học thành độc tố hình thành ung thư bao tử nhanh hơn, cũng như thư nhiều nơi gửi tới cho nhiều người đều nằm trong bưu điện mà không có người đi giao thư. Bưu điện trở thành nơi chứa rác. Đó là lý do tại sao uống thuốc hoài mà thuốc không chuyển hóa để giảm bệnh, mà bệnh càng nặng thêm.

Cách chữa theo KCYĐ trong trường hợp này không dùng thuốc nào để chữa được, cần phải dùng phương pháp ngưng xả thêm rác mà phải dọn dẹp rác tống những thức ăn thuốc uống kết thành khối u trong bao tử ra ngoài cơ thể bằng động tác tập khí công Kéo Ép Gối Thổi Hơi Ra Làm Mền Bụng, dùng thuốc tẩy rửa là nước uống Coca có chất ga moi móc thức ăn xấu những thuốc ứ đọng trong bao tử và ruột, vừa làm tăng khí lực áp huyết vừa chống mệt khi tập khí công.

Như vậy tập khí công chữa bệnh là phương pháp cơ học chứ không phải y học nên không có hại như thuốc có phản ứng phụ.

Bài tập khí công và hai loại nước uống Coca hay Pepsi giúp các cơ quan nội tạng trong cơ thể co bóp tẩy rửa tống những chất dư thừa, mỡ, thức ăn tạo trở ngại cho tuần hoàn khí huyết, lại làm tăng hay giảm khi lực, lại vừa chống mệt mỏi khi tập, chỉ là phương pháp tẩy rửa cơ học để chữa bệnh tiêu hóa và điều chỉnh áp huyết phối hợp thêm với phương pháp dinh dưỡng đuuuợc theo dõi bằng máy đo áp huyết để lúc nào cũng giữa đúng 3 yếu tố Tinh-Khí-Thần hòa hợp để cho ra con số áp huyết khí lực/máu/Nhịp tim đúng tiêu chuẩn tuổi thì không bao giờ chúng ta bị bệnh.

10-Cách chữa bằng cơ học : Cách bó 2 chân đi cầu thang để chữa các bệnh liên quan đến thần kinh tọa, đau lưng, chân, chân dài chân ngắn..

Ở phút 47:35

Dùng băng thung quấn bó chân từ mắt cá chân quấn lỏng từ từ quấn chặt lên bắp chân và hơi lỏng quấn lên sát đầu gối. Xem video hướng dẫn cách bó chân.

Chữa được các bệnh chân ngắn chân dài, thần kinh tọa, đau lưng, đau tê nhức, lạnh chân đau gối, gót chân, phình tĩnh mạch, hở van tim, tim thiếu máu do mất một lượng máu tụ đọng dưới chân do van tĩnh mạch chân phình hở van nên số máu dưới chân không hoàn trả về tim để thay máu mới, máu đọng dưới chân là máu xấu thiếu oxy làm hư da thối thịt ở chân, đen thâm các ngón chân.

Nhờ bó chân và tập bài “Đi cầu thang 10 bậc” đi lên-đi xuống là 20 bậc, đi 30 lần, cơ bắp chân khi đi cầu thang sẽ bóp bơm máu lên thận lọc máu rồi về gan lên tim tuần hoàn nhận thêm oxy thành máu mới.

Khi tập đi cầu thang phải đo áp huyết xem cao hay thấp, đường đủ hay thiếu, để chọn xem uống Coca làm tăng áp huyết hay uống Pepsi làm giảm áp huyết, thêm đường chống mệt khi tập.

Một yếu tố quan trọng nhất là “ Thiếu đường làm co rút gân và thần kinh làm đau nhức”.

Hãy để ý cơ bắp chân trong 3 cách tập : Đi bộ. Đạp xe, và Đi cầu thang, thì cách nào cơ bắp chân co bó ép máu dưới chân về tim nhiều hơn. Dĩ nhiên là Đi Cầu Thang máu trở về tim nhanh hơn.

Khi tập đi cầu thang xong phải tháo băng quấn chân ra và chúng ta sẽ thấy chân ấm nóng lên chảy mồ hôi chân, không còn tê đau lạnh chân nữa, ngón chân móng chân đổi thành máu hồng tươi không nám thâm đen nữa.

Tạm ngưng ở phút 57:50, trở lại phút 1:03:05 sau khi bệnh nhân đi cầu thang xong. Tháo băng quấn chân.

Kiểm soát chân thấy nóng ấm ra mồ hôi và gân hai chân thư giãn hết bị co rút đau nên hai chân bằng nhau. Bệnh nhân tập Kéo Ép Gối chân vài lần cho khí huyết thông xuống chân, rồi bảo bệnh nhân đi thử để tìm chỗ nào còn đau. Bệnh nhân đi xong chỉ nơi đau, thuộc đường kinh ngón chân thứ tư, dùng hai ngón tay bấm day đầu ngón chân thứ thư, rồi lại đi để tìm điểm đau khác, nơi đó là huyệt Hoàn Khiêu, cần phải nằm tập bài “Đá gót chân vào mông” như một nữ bệnh nhân đang tập làm mẫu.

Các bài tập trên là chữa bệnh theo cơ học chỉnh thần kinh gân cơ.

Còn trường hợp huyệt bị tắc, mới dùng kim thử tiểu đường thay kim châm cứu châm vào nơi đau mà bệnh nhân chỉ, gọi là A-Thị-Huyệt.

Cấm kỵ châm kim vào quanh vùng mắt, và nhượng chân sẽ bị vỡ tĩnh mạch khiến nổi vết tím bầm.

Bệnh nhân này phải tập bài nằm Kéo Ép Gối tìm điểm đau, châm nặn ra máu bầm, sau khi châm tập thông khí huyết qua huyệt thần kinh tọa (Hoàn Khiêu) là bài Dâng Hoa Cúng Phật.

Bệnh nhân tập bài Cúi Ngửa 2 Nhịp xem có cúi khom lưng hai tay chạm được đến mặt đất hay không, nếu không là do thoái hóa cột sống lưng bị lệch, phải chữa chỉnh lại đoạn đốt sống lưng bị lệch làm tắc khí huyết không lưu thông được suốt đường kinh Đởm xuống chân, thì phải nằm ngửa ấn đè cho giãn gân đầu gối, và nắm bàn chân bẻ ngược lên cho giãn gân gót chân, rồi dùng dụng cụ có đầu tròn trơn, bôi dầu trơn vuốt cho khí huyết lưu thông.

Nguyên nhân đau thần kinh gân cơ do thiếu đường vì kiêng ăn đường sợ bị bệnh tiểu đường. Nếu cơ thể không đủ đường nuôi gân cơ thần kinh thì thần kinh lại bị co rút gây ra cơn đau tái phát.

Bệnh nhân này áp huyết 145mmHg, đường sau khi ăn 8.9mmol/l là qúa thiếu, vì sau khi ăn phãi lớn từ 8.0-12.0mmol/l

Thử xem biết chân nào đau và cơ thể có thiếu đường hay không, tập bài “Dịch Cân Kinh 4 Nhịp” thì chân trái đau của bệnh nhân này thiếu khí lực, thiếu đường nên chân bị rung. Phải tập bài : Con Lật Đật “ hay còn gọi là Con Thuyền Bồng Bềnh.

Vuốt đưởng giữa hai bắp chân để sửa lại Cột sống lưng bị lệch, và vuốt cột sống theo chiều xuống nếu áp huyết cao (hoặc ngược lại theo chiều từ dưới lên nếu áp huyết thấp, cạo gió cũng theo chiều liên quan đến áp huyết.)

11-Hít vào nhiều hơn thở ra làm thành bệnh bướu cổ và bệnh suyễn do vị khí nghịch :

Ở phút thứ 57:50

Môt bệnh nhân bước ra trước ống kính, mọi người xem cô bị bệnh gì ? Là bệnh hít vào nhiều mà không thở ra nên hay bị mệt như suyễn, hít vào nhiều làm vị khí thay vì đi thuận là khí đi xuống ruột, nhưng vì ăn không tiêu vị khí đi nghịch đưa khí lên cổ họng thành bướu khí hình thành bướu cổ làm bệnh nhân thiếu khí lại tham hít vào để có khí mới tạo thành bệnh suyễn. Chỉ cần thở ra nhiều hơn hít vào thì bướu xẹp. Có bài làm tan bướu cổ là bài tập thể dục khí công : Vuốt cổ, vừa vuốt vừa niệm A-Di-Đà-Phật hay hát one,two,three…( hay A-Lê-Lui-A). Nhiều người tập sai, Vuốt cổ chứ không phải vuốt vai. Muốn tránh thói quen hít vào nhiều hơn thở ra thì dùng bông gòn nhét vào mũi thì sẽ không hít vào nhiều được.

Có bệnh nhân thắc mắc nếu bịt mũi không thở được chết thì sao ?

Chính bệnh nhân đó lên thử nghiệm xem khi bịt mũi để thở, chúng ta quan sát cô này nằm thở.

Khi thở tự nhiên thì cô có thói quen thở bằng ngực. Nhưng khi bịt mũi cô thở tự nhiên bằng miệng thì khí tự động vào bụng, như hơi thở lúc đang ngủ, như vậy đâu có chết được mà lại thấy khỏe hơn…Cô này xác nhận khi thầy bịt mũi thở bằng miệng thì không có chết !

12-Nguyên nhân tại sao bị suyễn và cách chữa :

Ở phút thứ 1:01:48

Có hai loại suyễn : Hit vào nhiều mà thở ra ít, và thở ra nhiết hít vào ít. Làm cho hơi thở ngắn, gọi là suyễn tức.

Cách chữa theo đông y là đối chứng trị liệu, có nghĩa là làm nghịch lại, hễ thở vào nhiều thở ra ít thì cho bệnh nhân thở ra nhiều, bằng cách bịt mũi thở bằng miệng. Ngược lại, thở ra nhiều thở vào ít thì ngậm miệng thở bằng mũi sẽ thở vào được nhiều.

Trường hợp bà bệnh nhân này, chúng ta xem bà thở thuộc loại suyễn nào để áp dụng cách chữa đúng.

Bệnh suyễn này là hít vào nhiều thì bịt mữi, hát A-D-Đà-Phật đều đều bằng miệng thì gân cơ cổ họng thư giãn, thần kinh phế-vị thư giãn, vì không dùng khí ở phổi mà dùng khí oỏ bụng sẽ hết suyễn.

13-Bệnh đau chân, nguyên nhân và cách chữa :

Ở phút 1:42:54

Tuổi 50, bà có áp huyết TT 100/65mmHg 74 TP 105/66mmHg 75

Thâp hơn tiêu chuẩn tuổi :

Bệnh này chữa không khỏi nếu không ăn đủ chất bổ máu làm tăng số thứ hai tâm trương 65-66 lên tiêu chuẩn 70-80, nếu không tập thể dục bài Dâng Hoa cúng Phật. Nhớ rằng khi đang tập bị mệt thì phải uống 1 ly Coca vừa làm tăng áp huyết vừa chống mệt tim.

Bệnh nhân khác khiếu nại tại sao nhịp tim tay trái 65, tay phải 75.

Nhịp tim liên quan đến đường, thì đường huyết lưu thông trong cơ thể không đều do thiếu tập để lưu thông lượng máu và đường tuần hoàn đều khắp cơ thể, phải tập bài Vỗ Tay 4 Nhịp.

14-Tập thể dục khí công tập thể..

Ở phút 1:49:35

Thân

doducngoc

Video bài giảng 1 tại Thụy Điển – Gnosjo Sweden 2014

Video bài giảng 1 tại Thụy Điển – Gnosjo Sweden 2014
Có chia mục lục từng bệnh
http://www.youtube.com/watch?v=o-5R_baGy7Q

Giải thích tóm tắt :

1-Ý nghĩa áp huyết theo tiêu tiêu chuẩn tuổi :

Ở phút đầu :

Tây y không có bảng áp huyết theo tiêu chuẩn tuổi, nên không thể tìm ra được nguyên nhân bệnh theo 3 tiêu chuẩn của đông y về khí-huyết hư hay thực, hàn hay nhiệt.

Đo áp huyết ở 2 cánh tay cho ra kết qủa 3 con số :

Số đầu tiên tây y gọi là Tâm thu, tim co bóp bơm máu đi qua động mạch đông y gọi là khí lực. Số thứ hai là tâm trương, máu đen theo tĩnh mạch về tim, đông y gọi là máu qua tim. Số thứ ba là nhịp tim nhanh hay chậm, đông y bắt mạch thấy nhanh gọi là nhiệt, thấy mạch đi chậm gọi là hàn.

Muốn dựa vào 3 yếu tố Khí-Huyết hư-thực, hàn-nhiệt thì áp huyết phải sắp theo tiêu chuẩn tuổi, thì mới biết áp huyết của hạng tuổi nào là hư hay thực, hàn hay nhiệt.

Dưới đây là tiêu chuẩn áp huyết theo tuổi của KCYĐ :

Đây là bảng tiêu chuẩn áp huyết theo loại tuổi theo kinh nghiệm của khí công y đạo :

95-100/60-65mmHg, mạch tim đập 60-120 là áp huyết ở tuổi thiếu nhi.( 5 tuổi-12 tuổi)
100-110/60-65mmHg, mạch tim đập 60-70 là áp huyết ở tuổi thiếu niên (13 tuổi – 17 tuổi)
110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi)
120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)
130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)

Theo bảng tiêu chuẩn này, thì một người lớn tuổi có áp huyết bằng trẻ em thì cà khí, cả huyết đều hư và người hàn., nên cơ thể bị suy nhược hay bị bệnh mệt mỏi, chóng mặt, đau nhức, ăn không tiêu…

Ngược lại trẻ em có áp huyết cao bằng tuổi thanh niên thì dư khí huyết, gọi là thực và người nóng nhiệt. Nên dễ bị chảy máu cam. động kinh co giật, hiếu động…

Tây y không đo áp huyết ở 2 tay và hai chân, tưởng nơi nào cũng giống nhau, nhưng thực ra áp huyết tim mạch thay đổi ở tay trái do chức năng của bao tử lệ thuộc vào thức ăn, nó làm thay đổi áp huyết đo ở tay trái, khi no và khi đói, thức ăn nhiều hay ít, dễ tiêu hay khó tiêu, ít dầu mỡ hay nhiều dầu mỡ…sẽ có kết qủa áp huyết khác nhau.

Áp huyết tim mạch cũng thay đổi ở tay phài khi chức năng gan phải tiết ra mật để chuyển hóa thức ăn nhiều hay ít, cũng thay đổi theo tính tình, thời tiết tác động vào tâm lý con người nên số đo áp huyết ở tay phải cũng thay đổi khác nhau.

Áp huyết đo ở 2 cổ chân trong, thì không phải là áp huyết của tim mạch, mà đông y gọi là khí huyết của chức năng hoạt động của mỗi qủa thận xem tốt hay xấu, xem lượng nước trong người thiếu hay dư thừa làm ảnh hưởng đến thận để biết thận có bị bệnh hay suy thận hay không…

Giải thích từng trường hợp hư thực, hàn nhiệt cụ thể để biết cách chữa bệnh đúng hay sai, như bệnh thực chữa hết thực thì khỏi bệnh, bệnh hư chữa hết hư thì khỏi bệnh, chứ không phải chữa suốt đời như tâ y để từ bệnh thực đến hết thực lại tiếp tục cho nó thành hư dần, làm hư càng thêm hư, hay ngược lại chữa hư thành hết hư, rồi lại chữa tiếp tục suốt đời thành bệnh thực càng thêm thực.

Như vậy thì cách chữa bệnh cao áp huyết và bệnh tiểu đường của tây y phải uống thuốc suốt đời thì từ bệnh thực là dư thừa, thay vì khỏi bệnh là phải ngưng thì lại cứ tiếp tục chữa suốt đời trờ thành hư càng thêm hư khiến cơ thể bệnh nhân mất hết khí huyết nên các tế bào không đủ khí oxy và huyết nuôi dưỡng, làm các chức năng tạng phủ suy yếu dần mất sức đề kháng, suy giảm hệ miễn nhiễm, gay đau nhức thần kinh gân cơ, các tế bào chết dần kết thành khối u biến thành bệnh ung thư….

Đo áp huyết bằng máy của tây y là thay phương pháp bắt mạch ở cổ tay của đông y, cho con số chính xác về hư thực, hàn nhiệt về khí hay huyết, nên cũng đã ngăn ngừa được những cách chữa sai lầm như hư làm hư thêm, thực làm thực thêm.

Như trong các bệnh vuện hiện nay bệnh nhâ bị bệnh do hư càng làm thêm hư, không tìm ra những bệnh về đau nhức, một mặt cứ cho thuốc giảm đau, một mặt vẫn cho uống thuốc trị áp huyết mặc dù áp huyết đã thấp đến 80mmHg, và vẫn dùng thuốc chữa bệnh tiểu đường mặc dù đường thấp dưới 5.0mmol/l sau khi ăn…khiến bệnh nhân càng suy nhược cho đến khi cơ thể hết khí huyết tuần hoàn đi vào giấc ngủ sâu qua bên kia thế giới.

Tôi có hỏi tại sao áp huyết thấp và đường thấp mà vẫn cứ cho bệnh nhân uống thuốc hạ áp huyết và đường. Tây y chỉ có một cách trả lời duy nhất là 2 bệnh này phải uống thuốc suốt đời, không liên quan đến bệnh khác…Than ôi ! Hy vọng tây y nhìn ra được vấn đề này.

2-Cảnh báo : Những người áp huyết thấp dưới 100mmHg dù có bệnh cũng không được chữa sẽ gây chết người.

Ở phút 14:24. Những thức ăn làm thay đổi áp huyết, có những người áp huyết thấp muốn tăng lên cho cao, hay ngược lại áp huyết cao muốn cho hạ thấp bằng thức ăn, nhưng vì không biết tính chất của thức ăn tạo ra tăng khí, giảm khí, tăng đường, hay giảm đường, nên có người càng ăn áp huyết càng hạ, hay càng ăn áp huyết càng cao.

Trong trường hợp áp huyết cao, hay đường cao, họ có biết đâu thức ăn cũng đã làm hạ áp huyết và hạ đường mà vẫn uống thuốc hạ áp huyết, vẫn tiêm insulin, làm cho áp huyết càng thấp, đường-huyết càng thấp dẫn đến hôn mê chết người, tây y tưởng lầm là do ăn thức ăn bị ngộ độc.

Để ngăn ngừa trường hợp này xẩy ra, những học viên không nên tin vào lời bệnh nhân khai bệnh là tôi có bệnh áp huyết cao và đường cao, tôi bị đau nhức chỗ này chỗ kia…mà không kiểm chứng lại áp huyết và đường-huyết cho bệnh nhân, mà cứ theo cách chữa ngọn bệnh là bấm huyệt, vô tình khiến áp huyết và đường huyệt sau khi bấm huyệt bị tụt thấp bệnh nhân bị rơi vào hôn mê gây chết người. Nên bao giờ cũng phải đo áp huyết 2 tay, và đường. Nếu thấy thấp, thì không nên dụng vào người bệnh nhân mà mang họa.

Ở VN đang có một trường hợp áp huyết thấp người mập 90kg muốn nhịn ăn 12 ngày để giảm cân bằng pp chanh-đường, trong thời gian nhịn ăn đã giảm 10kg, và đã chết, vì áp huyết thấp.

Cách chữa ung thư theo tây y cũng vậy, không để ý đến áp huyết mà chỉ lo tiêu diệt tế bào ung thư bằng hóa trị, xạ trị, áp huyết bệnh nhân tụt thấp dần đến 70mmHg thì chết, không phải do bệnh ung thư làm chết người mà do thuốc chữa làm tụt áp huyết mà chết người.

Cũng vậy áp huyết thấp mà khi dùng huyệt để chữa hay dùng thức ăn thuộc Tinh, để chữa mà không theo dõi áp huyết để biết công dụng của huyệt hay của loại thức ăn nào làm tăng làm giảm áp huyết thì chỉ là chữa ngọn, không để ý đến gốc bệnh là khí huyết hiện ra bằng con số cụ thể trên máy đo áp huyết, nên nhiều bệnh nhân đã chết do cách chữa bệnh hiện nay của đông tây y.

Như vậy chính máy đo áp huyết và máy đo đường giúp người bệnh đo kiểm chứng những thuốc uống hay thức ăn nào đúng và hợp với cơ thể mình, chính xác hơn là đợi đi tái khám để hỏi bác sĩ, thì đã muộn.

Đối với các học viên ngành Y Học Bổ Sung, những trường hợp này không đụng chạm đến bệnh nhân, chỉ đo áp huyết và đường, cho bệnh nhân biết nguyên nhân Khí thiếu, tinh sai, cần phải ăn uống những chất làm tăng áp huyết và tăng đường huyết thì bệnh tự khỏi. Khi áp huyết và đường huyết lên mới tập khí công được.

3-Bất cứ bệnh nào, khám bệnh cần phải biết bệnh hư, bệnh thực :

Ở phút thứ 16:00 Thí dụ bệnh nhân khai nhức đầu, về huyệt có huyệt chữa nhức đầu rất hay, nhưng vừa bấm vào cũng có thể chết.

Mình phải biết bệnh nhức đầu này áp huyết cao hay thấp, và sau khi bấm huyệt rất hay ấy thì áp huyết tăng hay giảm, mục đích chữa bệnh chỉ là điều chỉnh lại áp huyết vào tiêu chuẩn, nếu sau khi bấm huyệt áp huyết lọt vào tiêu chuẩn thì bệnh khỏi, còn lọt ra ngoài tiêu chuẩn cao hơn hay thấp hơn thì bệnh nặng thêm..

Nếu nhức đầu áp huyết cao qúa hay thấp qúa đừng đụng tới, để những thầy cao cấp có kinh nghiệm mới đụng tới bệnh nhân này được.

Thí dụ khi bệnh nhân khai bệnh đau tay, mà áp huyết đo một bên tay áp huyết đúng tiêu chuẩn, một bên tay đau áp huyết thấp hơn tiêu chuẩn thì nguyên nhân đau tay do áp huyết thấp…Hư là không đủ máu chạy ra tay. Dấu hiệu Hư là đưa tay lên vẫn được nhưng cảm thấy đau nhức, không có diểm đau nhức cố định.

Ngược lại bệnh Thực là áp huyết cao hơn tiêu chuẩn, có điểm đau rõ ràng, dơ tay lên không được, nó đau 1 chỗ, đụng vào chỗ đó nó đau.

Đau bụng cũng có bệnh hư, bệnh thực. Bệnh thực thì bệnh nhân không cho đè hay đụng đến bụng, còn bệnh hư thì đè ấn xoa bóp lại thấy dễ chịu. Đụng vào đau là thực, đụng vào lại không đau mà cảm thấy dễ chịu là hư.

Những bệnh hư chữa không bao giờ khỏi vì không đủ khí huyết tuần hoàn nuôi thần kinh gân cơ và tế bào nơi đau, cần phải bổ máu và tập thể dục khí công là vừa bổ huyết, vừa bổ khí, thì bệnh mới khỏi, chỉ tập là bổ khí, hay chỉ uống thuốc bổ máu, không kết hợp cả hai thì cũng không hkỏi.

Tuy nhiên khi khí huyết đủ mà còn thiếu 1 yếu tố là tốc độ tuần hoàn máu là nhịp mạch đập của tim là nhịp tim nhanh hay chậm lại lệ thuộc vào đường-huyết cao hay thấp, đường-huyết thâp do thiếu đường thì nhịp tim chạy chậm nên bệnh nhân vẫn bị đau do không đủ đường trong máu, nên hiện nay bệnh thời đại là giảm đường, kiêng đường gây ra nhiều bệnh nan y đau nhức thần kinh gân cơ, giảm chức năng tiêu hóa tuần hoàn và áp huyết càng thấp dễ làm cho tế bào trở thành tế bào ung thư do thiếu máu, thiếu đường.

4-Học phương pháp cấp cứu trước khi học phương pháp chữa bệnh :

Ở phút 17:24 Bệnh do Tinh sai-Khí thiếu-Thần suy.

Tinh sai là do ăn uống không có chất bổ máu, những người ăn chay nên ăn uống súp này để chữa bệnh áp huyết thấp : 5 Củ dền đỏ+ 5 củ cà rốt+1 củ Hành tây nướng+1 củ gừng nướng bằng ngón tay cái. Hầm như nước súp dùng mỗi ngày sẽ lên máu cả 2 số tâm thu, tâm trương..

Nếu uống 5 loại trái cây xay thì áp huyết tụt thấp chỉ để chữa bệnh áp huyết cao.

Trường hợp cấp cứu chúng ta có 4 Huyệt:

a-Huyệt Nhân Trung : (Mạch Đốc) ngay điểm 1/3 rãnh mũi tính từ chân mũi đến môi. Công dụng ngừa mất oxy trong não, không kịp chữa nảo mất oxy teo lại gọi là nhũn não.

b-Huyệt Nội Quan tay trái giữ cho nhịp tim đập đều, điều hòa áp huyết, không bị mệt.

c-Ngón tay út bên trái : day bấm đau ở 2 đầu móng ngón tay: Mục đích làm tim ngưng đập sẽ đập trở lại, thay vì tây y dùng máy xung điện để vào ngực.

d-Ấn đè 3 ngón tay vào giữa ngực trên Mạch Nhâm cho bệnh nhân thở bằng bụng : Phổi thiếu oxy, dùng dầu thơm xông hơi mạnh như dầu Bạc Hà, Dầu Tràm, dầu Camphre. Dầu gió xanh, hay dầu tên Ling Nam Ultra Balm, bôi vào lòng bàn tay mình rồi để vào mũi bệnh nhân, tự nhiên thấy ngực bụng bệnh nhân thở mạnh hơn bình thường.

Một bàn tay đã bôi dầu để vào mũi bệnh nhân, còn tay kia dùng 3 ngón tay ấn vào Chiên Trung giữa ngực (ngang với 2 núm vú) khiến bệnh nhân thở sâu bằng bụng.

5-Tại sao chúng ta không thắc mắc giới hạn tiếu chuẩn áp huyết chênh lệch 10mmHg

Ở phút 30:18

Chúng ta thường chỉ chú trọng áp huyết bên tay trái theo như tây y. Thí dụ trước khi ăn, tiêu chuẩn 120-130mmHg, còn KCYĐ đo tay trái, đo tay phải, sẽ biết người ta ăn rồi hay chưa, tiêu hóa hấp thụ và chuyển hóa thức ăn tốt hay xấu ?

Đo bên tay trái áp huyết tim mạch lệ thuộc vào chức năng bao tử khi đói khi no khác nhau.

Trước khi ăn bao tử đói chưa làm việc thì áp huyết phải thấp ở mức tiêu chuẩn thấp 120mmHg, sau khi ăn áp huyết bên tay trái phải cao trong tiêu chuẩn cao 130mmHg.

Đo áp huyết bên tay phải, áp huyết tim mạch lệ thuộc vào chức năng gan chuyển hóa thức ăn, trước khi ăn gan phải làm việc tiết mật và chất chua sang bao tử khiến bệnh nhân biết đói, thì áp huyết bên gan phải cao trong tiêu chuẩn cao 130mmHg, sau khi ăn chức năng gan nghỉ ngơi, thì áp huyết bên gan xuống trong tiêu chuẩn thấp 120mmHg.

Sự chệnh lệch nhau 10mmhg là chức năng chuyển hóa của bao tử 100%, bên gan cũng chênh lệch 10mmHg thì chức năng hấp thụ thức ăn thành máu cũng được chuyển hóa 100%, ngược lại thức ăn bên bao tử chuyển hóa 100% trong bao tử trống rỗng thì không bị bệnh bao tử, nhưng chức năng bên gan chênh lệch nhau 5mmHg thì hấp thụ thức ăn thành chất bồ có 50%, còn lại 50% thức ăn biến thành mỡ và đàm nằm trong gan.

Ngược lại bên bao tử chuyến hóa chênh lệch nhau 1-5mmHg thì chức năng chuyển hóa của bao tử chỉ được 10-50%, nên thức ăn còn ứ đọng lại trong bao tử gây thành nhiệt ợ hơi, ợ chua, loét bao tử, thành bướu hơi ở cỗ gọi là bệnh thyroid, bướu trong bao tử, và những chất cặn bã dư thừa ấy đã trở thành cholesterol xấu bị đẩy ra khỏi bao tử ở những bửa ăn kế tiếp, nó trôi nổi cholesterol xấu đi trong ống mạch, đi vào các khớp gây ra bệnh viêm đa khớp, bệnh gout, mỡ đóng quanh màng bao tim làm tắc tuần hoàn tim mạch phải làm stent…

6-Sự hấp thụ và chuyển hóa thức ăn thuận, hay nghịch :

Ở phút thứ 33: 07

Như vậy trước khi ăn, bụng đói áp huyết bên bao tử phải thấp, áp huyêt bên gan phải cao. Và sau khi ăn áp huyết bên bao tử phải cao, áp huyết bên gan phải thấp.

Sau 2 tiếng áp huyết 2 bên đều, 2 tiếng sau nữa áp huyết bao tử lại xuống thấp, bên gan lại cao. Gọi là chuyển hóa thuận.

Nếu sau 4 tiếng áp huyết bao tử vẫn cao không hạ xuống là cơ thể vẫn no không muốn ăn, ăn sẽ không tiêu, khó chịu, thì không nên ăn, nếu ăn thêm làm áp huyết tăng lên cap nữa là chết. Đa số những người bệnh cao áp huyết bị chết vì không đo kiểm soát áp huyết bên tay trái không giảm mà vẫn tăng cao do ăn không tiêu, không chuyển hóa, nên mới bị chết, giống như bội thực bị ói mửa mà tưởng trúng gió đi cạo gió, uống nước gừng để giữ khí lại làm mệt tim tăng cao nhịp tim thêm là sai nên áp huyết không hạ xuống thấp được.

Nếu gặp phải trường hợp ăn không tiêu, khó chịu, cần phải đo áp huyết 2 tay mới biết nguyên nhân áp huyết cao do ăn không tiêu, thì ăn cháo Ý Dĩ làm đi tiêu tiểu dễ sẽ hạ áp huyết.

Do đó khi chữa bệnh phải có bảng theo dõi áp huyết của bệnh nhân và dặn bệnh nhân tho dõi sự hấp thụ và chuyển hóa thức ăn tốt hay xấu để tránh bị rắc rối về pháp lý.

7-Chuyển hóa thức ăn nghịch gây ra nhiều bệnh nan y :

Ở phút thứ 35:45

Đa số những bệnh nhân đang chữa bệnh cao áp huyết tạo ra sự chuyển hóa thức ăn nghịch, nên trở thành bệnh nan y mãn tính của thời đại.

Đối với cơ thể theo giờ mà chức năng gan và bao tử chuyển hóa đồng bộ, đến giờ thì biết đói, ăn rồi biết chuyển hóa khi áp huyết cần tăng cần giảm theo chuyển hóa thuận một cách cơ học tự nhiên.

Nay có thuốc chữa áp huyết và thuốc chữa tiểu đường xen vào không đúng lúc, không đúng thời, thay vì cơ thể cần tăng thì bị ảnh hưởng thuốc làm giảm, thay vì đang làm giảm thì lại bị thuốc làm giảm thêm, đó là vô tìng khiến chức năng hư càng thêm hư, nên nó không còn điều khiển được chức năng chuyển hóa tự động nữa, ỷ lại vào viện trợ của thuốc, mới thành chuyển hóa nghịch.

Ngay cả những người không bị bệnh cao áp huyết, không bị bệnh tiểu đường, nhưng lại kiêng ăn đường, làm chức năng chuyển hóa không đủ năng lượng chuyển hóa, thiếu khí chuyển hóa, nên cũng bị chứng chuyển hóa nghịch, gây ra nhiều bệnh nan y.

Chuyển hóa nghịch có nghĩa là thay vì sau khi ăn áp huyết bên tay trái phải cao hơn lúc đói, thì nó lại thấp hơn, áp huyết bên tay phải thay vì phải cao hơn khi đói giúp bao tử chua xót thèm ăn thì nó không làm việc này, nên bao tử không biết đói, nhưng sau khi ăn rồi áp huyết bên gan mới làm việc tiết mật và chất chua, lúc đó bao tử đã hạ thấp cần nghỉ ngơi, không có sức co bóp, thì chất chua chất mật ứ lại trong bao tử nên trở thành bệnh thời đại là bệnh gastro, no ợ hơi chua và đắng, bướu cổ, loét hay ung thư bao tử và ruột, bệnh viêm kết nhiệt giữa 2 khúc ruột non và ruột già, nối nhau có điểm đau cộm co thắt bụng ở huyệt Thiên Xu bên trái, tây y gọi là bệnh Crohn’s disease.

Đông y có tên bệnh này từ lâu là Can-Vị bất hòa.

8-Bệnh do Can-Vị bất hòa :

Ở phút 39:50

Bệnh liên quan đến áp huyết 2 tay và liên quan đến đường khi bụng đói và khi bụng no.

Về đường khi bụng đói là 6.0-8.0mmol/l, khi no từ 8.0-12mmol/l.

Riêng về đường trên mắt, nếu cơ thể chuyển hóa tốt thì dù no hay đói, mắt điều tiết tốt sự chuyển hóa tốt thì đường trên mắt lúc đói cũng như lúc no đều trong tiêu chuẩn từ 6.0-8.0mmol/l thì mắt sáng, cao hơn 8.0mmol/l thì mắt mờ lòa, thấp hơn 6.0mmol/l thì mắt mù dần. Đó là lý do tại sao những người uống thuốc trị tiểu đường làm đường trong máu thấp dưới 6.0mmol/l thì đường trên mắt sẽ thấp hơn chỉ còn 4.0-5.0mmol/l thì thị lực giảm dần. Dưới 3.0mmol/l là mù.

Có người hỏi có thuốc gì uống trị tiểu đường không. Trả lời KCYĐ không làm hạ đường mắt sẽ mù, mà ngược lại được ăn ngọt thoải mái cho cơ thể đủ đường, vì đường do hấp thụ từ thức ăn mỗi ngày khác nhau thì đường-huyết mỗi ngày cũng khác nhau nhiều hay ít do thức ăn, nên đòi dứt hết bệnh tiểu đường thỉ hỏi xem cơ thể có chịu nổi mỗi ngày chỉ uống nước lạnh thì trong máu không có đường thay cho ăn cơm được không ? Dĩ nhiên không được rồi. Vì thế khi ăn cơm lúc nào cũng có đường, nhưng quan trọng là nó có hấp thụ và chuyển hóa tốt hay không. Chuyển hóa không tốt thì đường trong máu dư, chuyển hóa tốt thì đường lọt đúng tiêu chuẩn không thừa không thiếu, vì cơ thể cần đường nuôi cơ co bóp tim và nuôi gân cơ bắp trong ngũ tạng có sức co bóp làm nhiệm vụ chuyển hóa. Thiếu đường các chức năng này tê liệt không làm việc.

Mắt cườm cũng do đường vào mắt không đều.

9-Cách chữa bệnh đường cao :

Ở phút thứ 45:00

Thiếu đường có triệu chứng vã mồ hôi lạnh, mệt, buồn ngủ, mắt mờ dần, hoa mắt chóng mặt, tê lạnh đau nhức đầu ngón tay chân. Như vậy mà người ta cứ bắt uống thuốc trị tiểu đường là sai, đối với KCYĐ vẫn cho ăn đường thoải mái nhưng phải tập khí công giúp cơ thể chuyển hóa đường, giống như các lực sĩ thể thao họ cần đường cho năng lương và họ tập cho rã mồ hôi nhiệt thì đường xuống thấp.

Có 5 trường hợp chức năng can-vị bất hòa, áp dụng khác nhau :

Chỉ tính áp huyết bên tay trái.

a-Trường hợp áp huyết cao đường cao :

Áp huyết tay trái cao hơn tiêu chuẩn, đường huyết cao hơn tiêu chuẩn. Chữa làm sao ?

Thí dụ số tâm thu tay trái 135mmHg trở lên (tiêu chuẩn 120-130) đường 300mg/dL

Ông này phải đi cầu thang cao 10 bậc, đi lên-đi xuống 10 lần tương đương với 1 viên thuốc, cần đi 30 lần là 600 bậc thang. Không có cầu thang, đóng 1 bậc cầu thang bằng khúc gỗ cao 20-25cm, đi lên xuống 600 lần, đường sẽ hạ xuống 100mg/dL. Không cần uống thuốc mà dùng “Thuốc cầu thang” sau khi ăn 30 phút. Đường 300 muốn giảm 150mg, còn 150mg thì đi 45 lần.

Nếu đường 240mg thì đi 1 lần 600 bậc, đường sẽ xuống 100mg còn 140mg/dL

Không được đi bộ trên đường bằng, đi cầu thang làm bắp chân co bóp mạnh trả máu về tim làm bắp chân săn chắc, khác với đi đường bằng jogging làm chân sưng phù mất máu tuần hoàn về tim làm suy tim.

b-Áp huyết cao hơn tiêu chuẩn, đường thấp hơn tiêu chuẩn.

Muốn áp huyết xuống thấp cũng phải đi cầu thang nhưng lại mất đường sẽ mệt tim, nên cần uống thêm đường bằng 1 ly Pepsi thường (không phải loại diet là đường hóa chất có độc) làm tăng đường và làm hạ áp huyết, có thêm đường đi cầu thang sẽ mất đường nhưng không bị mệt tim .

c-Áp huyết thấp, đường thấp hơn tiêu chuẩn :

Uống 1 ly Coca vừa làm tăng đường vừa làm tăng áp huyết, đi cầu thang là đường trong Coca đã mất hết thoát ra bằng mồ hôi, nhưng nhờ nó mà tập đi cầu thang mới xuất mồ hôi nóng mà không bị mệt tim.

Tập luôn 200 lần không nghỉ bài Dâng Hoa Cúng Phật, nếu mệt uống thêm Coca.

Đường bình thường cũng phải uống thêm Coca để có đủ năng lượng tập khí công sẽ không bị mệt tim.

d-Áp huyết thấp đường cao hơn tiêu chuẩn :

Đi cầu thang nhanh mà không cần uống gì rồi tập tiếp bài Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực ( tên mới trong Khí công Tịnh Độ là Dâng Hoa Cúng Phật) 200 lần làm tăng áp huyết và hạ đường.

f–Bó chân đi cầu thang trong trường hợp nào ?

Chữa bệnh áp huyết cao cả khí số thứ nhất và cả huyết số thứ hai cao.

Công dụng của bó chân :

Chữa bệnh phình tĩnh mạch, bắp chân to, cả chân to, đau lưng, hông, thần kinh tọa, đau gối, mắt cá chân, lạnh chân, tê chân, tê liệt do yếu chân đi không vững, áp huyết cao đường thấp uống Pepsi, áp huyết thấp đường thấp uống Coca, nhưng tất cả các bệnh trên đều phải đi cầu thang,

10-Kỹ thuật bó chân :

Ở phút 1:01:00 xem video.

Bó chân xong chỉ đi cầu thang giúp cơ bắp chân co bóp mạnh trả máu vế tim, tập xong thì tháo ra, sẽ biến mất bệnh phình tĩnh mạch, và chân ấm nóng hơn. Không được đi đường bằng cơ co bóp chân yếu hơn là trọng lực của máu dồn xuống chân không trả máu về tim được làm chân sưng tụ máu nhiều hơn khiến bị hở van tim nặng hơn.

Vớ bó chân của tây y thì bó lỏng hơn không có tác dụng siết bắp chân, nên vẫn đeo vớ suốt ngày mà không bị đau chân, mục đích ngăn ngừa tĩnh mạch không bị phình to thêm chứ không làm thu nhỏ đóng van tĩnh mạch chân được.

Thân

doducngoc

Video: Cách thông lỗ tai, trị tai điếc, ù, ve kêu…

Video : Cách thông lỗ tai, trị tai điếc, ù, ve kêu…
https://www.youtube.com/watch?v=qOEHyPuBBj0

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 241 other followers

%d bloggers like this: