Video bài giảng 11 tại Thụy Điển

Video bài giảng 11 tại Thụy Điển

https://www.youtube.com/watch?v=GeSqqLRPJCM

Giải thích :

1-Hậu qủa của đường-huyết thấp :

Ở phút đầu

Theo bảng tiêu chuẩn viết trên bảng này thì đường-huyết dưới 100 mg/dL =6.0mmol/l là thiếu đường làm cho con người không có năng lượng hoạt động, nên không làm được những việc nặng, cơ thể cứ cảm thấy tự nhiên yếu đi làm việc gì cũng hay mệt, vã mồ hôi, không có sức, chân tay lạnh. Nhất là hiện nay có sự mâu thuẫn về tiêu chuẩn đường-huyết giữa ngành y và ngành dược.

Ngành dược sản xuất ra máy thử đường-huyết ghi trên hộp que thử tiêu chuẩn bình thường 6.0-8.0mmol/l, trên thực tế ngành y tự động hạ thấp tiêu chuẩn xuống, nếu ai đường-huyết trên 6.0mmol/l là đã bị kết án là có bệnh tiểu đường nên phải dùng thuốc trị tiểu đường, vì thế đa số những người uống thuốc trị bệnh tiểu đường thì đường-huyết xuống trung bình còn 4.0-5.0mmol/l=60-80mg/dL, nên người bị yếu không có sức làm việc, hay bị chóng mặt đổ mồ hôi, mệt tim, hồi hộp, chân tay lạnh.

Đường-huyết thấp nữa từ 3.0-4.0mmol/l thì sẽ bị mù mắt, hay ngủ gục, hôn trầm, mệt mỏi, đau nhức tứ chi, đau nhức thần kinh gân cơ, thoái hóa xương đốt sống cổ gáy, lưng, thoát vị đĩa đệm, loãng xương, mất trí nhớ…

Thấp hơn nửa là mất dương khí, mắt luôn nhắm, ngoài những dấu hiệu bệnh như trên cò hay bị sỉu, ngủ sâu khó tỉnh dậy hôn mê như chết, có khi bị chết oan.

Nhiều người đi khám bác sĩ không bị tiểu đường, nhưng sợ ăn ngọt nhiều sẽ bị bệnh tiểu đường, nên kiêng ăn đường, kiêng ngọt làm đường-huyết xuống thấp, vì không có máy đo nên không biết, cũng bị chết oan, ngủ như bất tỉnh không dậy nổi.

Ở VN xưa kia chưa có máy đo đường và cũng không biết bệnh tiểu đường là gì, thỉnh thoảng có người đêm ngủ một giấc sâu như hôn mê, người lạnh do nhịp tim qúa thấp, do đường qúa thấp, người nhà tưởng chết đem chôn, thực ra 2 ngày sau tỉnh lại thì đã ở trong quan tài dưới lòng đất không ai biết để cứu.

2-Có người hỏi trưùng hợp đường-huyết cao phải làm sao ?

Ở phút 1:25

Đường cao thì bó chân tập bài “Đi cầu thang 10 bậc” 30 lần đường-huyết xuống 5.0mmol/l, ở VN những người lao động nặng như đạp xích lô, phu khuân vác không bao giờ bị bệnh tiểu đường hay dư thừa mỡ, mà luôn luôn bị thiếu đường thiếu mỡ do làm việc nặng tiêu hao mất mỡ mất đường. Vì thế bệnh tiểu đường hay áp huyết cao, dư mỡ chỉ xẩy ra cho những người ăn nhiều lười tập vận động cơ bắp.

Có người nào bị đi cải tạo mà có bệnh tiểu đường, áp huyết cao, dư mỡ không, lúc nào cũng đói không có gì ăn, thiếu dinh dưỡng làm sao có bị những bệnh này.

3-Tại sao hay bị đau nhức ?

Ở phút 4:15

Ngoài nguyên nhân áp huyết thấp, nguyên nhân đau cũng do đường-huyết lúc đang bị đau là thấp, cần phải đo để biết ngay nguyên nhân để chữa vào gốc bệnh, chứ không thể nói tôi đi bác sĩ khám nói không có bị tiểu đường, hay nói đường-huyết của tôi tốt. Cái đau ngay bây giờ đang đau thì phải thử đường ngay bây giờ, chứ không phải lấy kết qủa ngày hôm qua, hay lấy kết qủa thử trước khi ăn lúc sáng hay lúc trưa….Tại sao ?

Nhiều người tưởng lầm. nếu đường trước khi ăn là 6.0mmol/l, sau khi ăn tưởng đường sẽ cao hơn, nên tưởng cái đau không liên quan đến đường-huyết, nên không ngờ khi đang đau là đường-huyết đã xuống thấp, vì nếu hôm đó ăn canh khổ qua, hay khổ qua kho, ngon miệng ăn nhiều, sau khi ăn xong thấy mệt, thấy đau nhức mà không đo nên không biết đường-huyết bị tụt xuống, có khi tụt thâp dưới 4.0mmol/l làm mệt tim muốn ói tưởng trúng độc thức ăn.

4-Khi đau uống thuốc giảm không hết là tại sao ?

Ở phút 4:20

Ngoại trừ khi bị đau do chấn thương làm sưng đau nhức, do áp huyết cao.. thì dùng thuốc giảm đau mới có kết qủa. Còn đường-huyết thấp làm đau nhức thần kinh thì không chữa đúng gốc bệnh, dù có uống thuốc suốt đời cũng không bao giờ hết đau mà lại gây phản ứng phụ của thuốc làm hại bao tử.

Vì thuốc an thần giảm đau là thuốc ngủ cho quên đau, làm giảm chức năng giao cảm thần kinh, khi tỉnh dậy cũng vẫn còn đau, không khác gì mình đói bị đau bụng, uống thuốc ngủ khi tỉnh dậy vẫn đói, chữa gốc bệnh là phải cho ăn mới hết đói, cũng vậy, khi đau cần đo đường-huyết thấy thấp thì phải uống thêm ngọt đủ để nuôi thần kinh gân cơ giúp thần kinh được thư giãn không co rút làm đau nữa.

Một bệnh nhân bị đau nhức kinh niên, hỏi đường bao nhiêu, trả lời 118mg/dLtrước khi ăn. Đường trong tiêu chuẩn khi bụng đói, sao bây giờ vẫn đau. Vậy đưởng ngay bây giờ là bao nhiêu ?. Trả lời chưa đo.

Không phải bữa ăn nào đường-huyết cũng lên, vì trong bữa ăn có khi ăn những chất làm hạ đường-huyết như khổ qua, những chất chua làm hạ đường mà không biết, vì thế sau khi ăn vẫn phải đo đường-huyết để biết nguyên nhân.

Trong bữa ăn trưa nay có những món gì làm lên đường : Dưa gang, chè ngọt, bắp luộc…

Có chất dưa hấu, nước chanh…làm xuống đường.

Vậy ăn trái hồng, muốn biết áp huyết hay đường lên hay xuống thì hỏi ai ? Hỏi máy đo áp huyết với máy đo đường…..

5-Da chân dầy chai chân.

Ở phút 13:30

Theo lý thuyết đông, phế yếu không nuôi da, không nuôi thận, và do uống chất vôi calcium nhiều làm máu đặc trở thành huyết hóa vôi làm bệnh gai gót chân.

Cách chữa ngọn :

Chà rửa sạch chân bằng nước xà phòng, rửa chân lau sạch, rồi ngâm chân vào nước dấm 30 phút cho mềm da, lau khô, rồi ngâm chân 30 phút vào cái khay hay hộp thiếc bánh Biscuit có đổ 1 chai dầu nguyên chất Huile de Glycérine 100%. Tính chất của dầu làm mềm da và dầu có tính hòa tan trong nước nên dầu thấm được vào sâu mấy lớp da giúp máu lưu thông dễ dàng ra bên ngoài nuôi da.

Dầu Glycérine có trong những mỹ phẩn nuôi da để dẫn những chất nuôi da thấm vào da giữ cho da có độ ẩm tốt không bị khô da, chai da.

Ngâm bao giờ khỏi bệnh thì ngưng.

6-Áp dụng đồ hình Lạc Thư Ma Phương.

Ở phút 22:00

Nguồn gốc Hà Đồ Lạc Thư

Tương truyền vào thời Phục Hy trong Tam Hoàng thời thượng cổ, trên sông Hoàng Hà xuất hiện một con Long Mã (đầu rồng mình ngựa), trên lưng có những điểm đen trắng cấu thành một bức đồ; Phục Hy theo đó mà diễn ra Bát quái, bức đồ này gọi là “Hà Đồ”.

Tương truyền khi Đại Vũ trong Ngũ Đế trị thủy, trên sông Lạc xuất hiện một con rùa lớn, trên lưng rùa mang hoa văn cấu thành một bức đồ, bức đồ gọi là “Lạc Thư”

Theo Dịch Lý, Hà Đồ Lạc Thư có rất nhiều công dụng trong mọi lãnh vực để áp dụng, nó gồm có 9 số từ 1 đến 9, xếp theo hình vuông có 9 ô vuông, xếp đặt số trong mỗi ô làm sao cho tổng số 3 số theo chiều dọc, hay ngang hay chéo là 15, nên môn hình học gọi là Kỳ Hà Học và trong toán học gọi là Ma Phương.

(Xem hình trên bảng)

Giống như khoa học truyền thông, người ta đặt những trạm thu phát sóng ở 9 địa điểm xa, mỗi địa điểm có môt số code hoạt động riêng để liên hệ với nhau thành một vùng phủ sóng, cho các số thẻ điện thoại mà họ sản xuất ra đều có số code để có thể liên lạc với nhau trong vùng phủ sóng từ trường ấy.

Cũng áp dụng nó trong môn day bấm huyệt, chọn 9 huyệt, 3 hàng ngang, mỗi hàng có 3 huyệt, như vậy 9 huyệt này tạo thành một từ trường năng lượng hoạt động chung, nên mặc dù những huyệt được chọn trên cơ thể thuộc nhiều đường kinh khác nhau, thì giá trị chữa bệnh của huyệt không còn nằm trong sự khí hóa hạn hẹp của đường kinh nữa, mà nó được thu hút năng lượng từ trường bên ngoài tác động vào trong cơ thể.

Ứng dụng, thông thường lấy huyệt thứ 5 làm căn bản đặt trên đường giữa Mạch Nhâm trước ngực bụng hay trên Mạch Đốc phía lưng trên hay giữa hay dưới, nó là trạm trung ương thu nhận năng lượng và phát tán năng lượng làm thay đổi tình trạng khí huyết trong vùng phủ sóng được điều hòa.

Gài số code Hà Đồ Lạc Thư của mỗi số bằng cách day mỗi huyệt hay mỗi số theo thứ tự vị trí từ 1 đến 9 như sau :

Những vị trí số lẻ 1,3,5,7,9, mỗi vị trí số dùng ngón tay cái ấn vào huyệt, day tròn thuận chiều kim đồng hồ, mỗi số được nhân với 9 lần gọi là số lão dương.

Những vị trí số chẵn 2,4,6,8, mỗi vị trí số dùng ngón tay cái ấn vào huyệt, day ngược chiều kim đồng hồ, mỗi số được nhân lên với 6 gọi là lão âm.

Chữa bệnh day Hà Đồ Lạc Thư thì mỗi số phải nằm trên vị trí của 1 huyệt.

Xem thêm chi tiết : Đánh tìm trên Internet chữ Hà dồ lạc thư Khí Công Y Đạo

Hôm nay chúng ta áp dụng đơn giản hơn theo sáng kiến của Thầy đông y Hoàng Duy Tân đã đem giảng dạy trong Trường Đông Y VN, gọi nó là dồ hình Lạc Thư Ma Phương mà thầy giải thích và đã áp dụng có kết qủa tốt :

Đúng ra nên gọi là đồ hình Lạc thư – Ma phương, vì Hà Đồ ứng dụng Tiên thiên (nói về vũ trụ-thiên nhiên) còn Lạc Thư ứng dụng Hậu thiên (về con người).

Cách áp dụng :

Xé một tờ giấy khổ rộng nằm vừa trên mặt bụng hay mặt lưng bệnh nhân, đục 9 lỗ ngay giữa 9 ô vuông, đặt đồ hình bất cứ chỗ nào cũng được, không cần huyệt. Chỉ cần Ma phương – các hình vuông chung quanh. Như vậy có thể dùng được rất rộng rãi và rất công hiệu…

Khi ấn day vào 9 vị trí theo thứ tự chỉ cần nhớ là muốn day bổ, hay day tả, hay day đièu hòa :

-Nếu muốn bổ những bệnh hư yếu : Các vị trí đều day 9 lần thuận chiều kim đồng hô

-Nếu muốn tả những bệnh thực chứng : Các vị trí đều day 6 lần nghịch chiều kim đồng hồ.

-Đặc biệt, nếu muốn điều hòa, không rõ bệnh hư hay thực : Các vị trí đều day 5 lần thuận chiều kim đồng hồ, và cuối cùng day 5 lần lại vị trí số 5 thêm một lần nữa.

Và cũng chỉ nhớ là điều hòa, bổ hoặc tả… không cần phải nhớ số lẻ là bổ số chắn là tả… như kinh nghiệm của KCYĐ, vì thật ra, đang làm số lẻ bổ (9) đến số chẵn lại tả (6) hơi khó đối với những người mới học hoặc những người lớn tuổi.

Không cần chú ý số chẵn lẻ bổ tả nhưng chỉ thống nhất từ đầu là muốn bổ hay muốn tả hay muốn điều hòa mà thôi, thấy có kết quả tốt, có thể dùng được trong rất nhiều trường hợp..

Thí dụ chữa bệnh Nhức đầu, để huyệt số 5 giữa đỉnh đầu ngay huyệt Bách Hội.

Có 2 loại nhức đầu do thực chứng ( áp huyết cao) thì tả day ngược chiều kim đồng hồ 6 lần, hư chứng (áp huyết thấp) thì bổ day thuận chiều kim đồng hồ 9 lần.

Dễ nhất, khi không biết bệnh thực hay hư thì dùng phương pháp điều hòa, tất cả các huyệt đều day thuận chiều 5 lần theo từ 1 đến 9, rồi cuối cùng day lại huyệt số 5 một lần nữa.

Áp dụng đồ hình Lạc Thư Ma Phương điều hòa :

-Để huyệt số 5 nằm vào huyệt Chiên Trung, chữa mạnh tim, phổi, ho, suyễn, tức ngực…….

-Để huyệt số 5 nằm vào huyệt Trung Quản, chữa bệnh bao tử, đau bụng, không tiêu.

-Để huyệt số 5 vào ngay rốn Thần Khuyết, chữa bệnh đường ruột

-Để huyệt số 5 vào huyệt Khí Hải, chữa bệnh thuộc thận

-Để huyệt số 5 vào Mệnh Môn chữa mạnh thận dương

7-Tại sao những người già có bệnh cao áp huyết, khi đi hay bị ngã ?

Ở phút 40:45

Có những người già đi trong nhà hay bị té xụm chân do chân yếu chứ không do vấp té, mà chính bệnh nhân và các con ở nhà không biết nguyên nhân, cho đến khi té mà không ngồi dậy được, phải gọi xe cứu thương chở vào bệnh viện.

Bệnh nhân nằm trong bệnh viện 3 tuần không tìm ra nguyên nhân, và càng ngày bệnh nhân không cử động và ăn uống được, ai dè do vẫn uống thuốc chữa bệnh cao áp huyết nên áp huyết xuống còn 80mmHg nên cơ thể giống như người lớn mà sức lực chân chỉ bằng trẻ em thì không thể nào đi vững mới bị té. Hỏi bác sĩ và y tá sao áp huyết xuống thấp qúa rồi mà còn phải uống thuốc chữa áp huyết. Họ trả lời thuốc áp huyết là phải uống suốt đời không được bỏ ngày nào.

Cách chữa :

Tôi khuyên người nhà bệnh nhân xin cho cụ về nhà, uống thuốc bổ máu vì thiếu máu chứ không còn là dư máu cao áp huyết nữa. Một tháng sau cụ khỏe lại đi đứng vững vàng, còn về VN đi chơi.

Cho nên mỗi khi mệt, khó chịu, nhức đầu, chóng mặt, đau bụng, ăn không tiêu…..đều phải đo áp huyết và đo đường để biết nguyên nhân tại sao để phòng ngừa và biềt cách chữa kịp thời. Trong trường hợp áp huyết hay đường-huyết xuống qúa thấp thì tới giờ phải uống thuốc hạ áp hay hạ đường thì phải ngưng ngay, ngậm cục kẹo và hãy gọi điện thoại hỏi lại bác sĩ của mình.

8-Bệnh Parkinson có phải do áp huyết thấp lâu ngày ?

Ở phút 42: 20

Bệnh Parkinson có 2 loại thực chứng do cao áp huyết và hư chứng do áp huyết thấp.

Cách phân biệt :

Áp huyết cao do chạm thần kinh vận động, khi để tay trên bàn, có điểm tựa mà cứ vẫn bị giựt, cầm vật gì cũng bị co giựt nên múc cơm ăn bỏ vao miệng không được

Áp huyết thấp không phải do chạm thần kinh mà người không đủ khí lực và huyết lực, chân tay run lẩy bẩy khi đi đứng hay cầm vật gì, nhưng khi ngồi, đặt tay lên bàn có điểm tựa thì tay không bị giựt, tau cầm một vật nhẹ không bị giựt…Bệnh này dùng thuốc chữa Parkinson thực chứng để chữa thì sai, nếu càng ngày áp huyết càng hạ thấp thì bệnh càng nặng không còn sức đi lại, phải nằm một chỗ tiêu tiểu, vì dùng không đúng thuốc theo đông y là phạm phải sai lầm mà đông y gọi là : bệnh hư càng làm thêm hư.

Do đó bệnh nào cũng phải đo áp huyết và đo đường để biết phải chữa bổ khí huyết hay tả khí huyết.

9-Áp huyết số tâm trương cao, nhìn thấy dấu hiệu gì để biết ?

Ở phút 44:50

Có 1 trong 2 dấu hiệu nhìn thấy :

Mặt tự nhiên to má phình ra tưởng là mập, đó là dấu hiệu hở van tim, Màng bao tim có nhiều cholesterol trong vách thành ống động mạch hay tĩnh mạch, bên má nào phình to hơn là van tim bên đó có bệnh.

Ngược lại số giữa thấp hơn tiêu chuẩn thì má bị hóp hẹp là dấu hiệu hẹp van im, má bên nào hẹp thì van tim bên đó hẹp.

Bụng to có nhiều mỡ bụng, có thể khí lực cao, có thể khí lực thấp không có sức, do ăn không tiêu, chức năng tiêu hóa không tốt, không chuyển hóa thành máu mà thành mỡ bụng.

Đa số những người bụng mập nhiều mỡ bụng khi đo đường-huyết lại thấp, mặc dù họ có ăn nhiều chất ngọt. Thật là do nguyên nhân thân nhiệt hàn, áp huyết thấp, nên đường nằm trong mỡ không chuyển hóa đi vào máu. Sau khi tập bài “Đi cầu thang 10 bậc” đi lên xuống 30 lần cho xuất mồ hôi trán như những người có đường-huyết cao sẽ giảm xuống 5.0mmol/l, thì ngược lại người này đo đường-huyết lại tăng lên cao hơn trước khi tập.

Có câu hỏi làm sao để chữa ?

Dựa theo kết qủa số đo áp huyết, áp huyết cao thì tập cho xuống thấp, thiếu đường thì uống thêm 1 ly Pepsi rồi tập bài “Đi cầu thang” 30 lần cho tăng thân nhiệt làm xuất mồ hôi, tiêu mỡ, hạ áp huyết.

Áp huyết thấp thì ăn những thức ăn bổ máu, uống thêm 1 ly Coca rồi tập bài “Đi cầu thang” nhanh làm tăng áp huyết, tăng thân nhiệt. Giúp mau tiêu hóa, tăng tính hấp thụ và chuyển hóa thức ăn biến thành máu.

Thay Coca hay Pepsi bằng cách uống đường với nước có ga có giống nhau không ?

Không giống nhau, chất ga chỉ làm sủi bọt như ga trong Coca hay Pepsi, còn chất Coca có ga, lại có chất Cafein làm khí lực đi lên, tăng áp huyết, Pepsi có chất cam hàn làm tiêu hóa dễ khí lực đi xuống làm hạ áp huyết. Vị ngọt trong hai loại nước này là đường thiên nhiên từ lá Cỏ Ngọt (stévia) ngọt gấp 800 lần đường thường, nên số lượng stévia trong loại nước này qúa ít không thể tìm thấy, nó ngọt hơn cam thảo gấp nhiều lần, bình thường những ai dùng thuốc Malox chữa bệnh làm dịu cơn đau của bao tử, chứa hoàn toàn là bột cam thảo, cho nên phản ứng phụ của thuốc Malox làm tăng áp huyết.

Cơ thể thiếu đường thiếu máu cũng làm co rút thần kinh mặt làm liệt mặt, chứ không phải bệnh trúng gió là can phong nội động làm cao áp huyết gây tai biến mạch máu não.

Đường-huyết thấp phải bổ sung đường,làm thay đổi hàn nhiệt của nhịp tim, còn áp huyết thấp phải bổ khí và máu, áp huy61t cao phải ăn bớt chất bổ máu và tả bớt khí là tập khí công.

Khí công có bài làm tăng khí lực, có bào llàm giảm khí lực. Món ăn có thức ăn làm tăng máu, có thức ăn làm giảm máu như ăn cần tây sống, nhai lá lược vàng…., có thức ăn làm tăng đường, có thức ăn làm giảm đường như hột é, hột đay, khổ qua, lá dứa nấu chè….

10-Nói về đạo học, thế nào là mình biết phạm giới trộm cắp ?

Ở phút 49:45

Trong 5 giới, chúng ta thường phạm giới trộm cắp vi tế mà không biết như :

Khi đi chơi du lịch tập thể, trưởng đoàn dặn xuống xe đi chơi mua sắm tự do, đúng 1 giờ sau xe chạy. Đến giờ xe chạy mình cứ tà tà lè phè, thí dụ trong xe có 60 người, 59 người ngồi chờ mình, mình lên xe trễ bắt mọi người phải chờ mình là mình, dối với giới là mình đã ăn cắp giờ của những người khác, đối với thế gian thì gọi là mình không lịch sự, không biết điều làm phiền lòng người khác.

Khi trên xe hay trên máy bay, thí dụ mình đứng hàng ghết thứ 10, nhưng khi xuống xe cũng phải theo thứ tự, thì mình đứng vượt lên trên để đi ra trước, là mình cũng bất lịch sự, ăn cắp chỗ đứng thứ tự của người khác.

Chỗ trên xe bus dàng cho người già tàn tật, mình ngồi vào nơi đó là chũng ăn cắp chỗ của họ.

Những kinh sách ở chùa để biếu cho không mình lấy, nhưng cũng hỏi thầy một tiếng, con lấy được không thầy.

Ăn cơm mà lấy nhiều, ăn không hết đọ=ổ đi phí phạm cũng làp hạm tội ăn cắp phần cơm của người khác còn đang thiếu ăn.

Những người tây phương dù không tu, nhưng cũng được giáo dục trong học đường về phép lịch sự, cũng không bao giờ phạm những tội này, vô tìng họ không tu mà cũng giống người tu. Như vậy mấy kiếp trước có tu khéo nên kiếp này mới được lọt vào xứ văn minh của người da trắng. Những người kiếp trước không tu nên kiếp này lọt vào xứ kém văn minh là da đen. Còn người tu trung bình là da vàng.

Mình từ da vàng nhẩy sang sống nơi xứ văn minh tây phương là đường tu của mình được lên một bậc, còn mình da trắng trở về Vn đi đạp xích lô da trở thành đen hơn là mình xuống cấp một bậc rồi.

Có bao giờ những người da trắng có đời sống vất vả nghèo khổ như người da đen đâu. Họ phải giầu phải khá hơn người da mầu chứ. Nếu khổ thì phải đi đạp xích lô, buôn bán cực khổ thì da sẽ đổi mầu đen rồi…..

Giảng về những trình độ tu tiến hóa dần dần trong nhiều kiếp của một người….

Quy luật nhân qủa củ đạo Phật là :

Muốn biết kiếp sau thì hãy nhìn nhân gieo trong kiếp này là những hành động tốt xấu của kiếp này. Muốn biết nhân kiếp trước đã gieo thì hãy nhìn những kết qủa đang thọ hưởng kiếp này.

Kiếp này không bố thí thì kiếp sau nghèo. Giống như trồng cây giống xấu, 10 năm sau cây cho trái tốt hay xấu thì mình cũng đã biết trước rồi. Tại sao kiếp này tôi nghèo, vì kiếp trước keo kiệt bủn xỉn tham lam không bố thi…..

11-Tại sao có người trước khi ăn phải chích thuốc tiểu đường ?

Ở phút 54:44

Tại họ không đo, khi đường thấp mà không biết cứ vẫn chích như thường lệ làm suy tim hại thận, mất trí nhớ, loãng xương…

Khi tôi đang dạy, trong lớp có nhiều học viên xin tạm vắng để tiêm thuốc tiểu đường. Tôi bảo đo đường xem bao nhiêu trước khi chích.

Có người đường xuống thấp, tôi nói nếu chích xong thì bị té xỉu. Bệnh nhân trả lời bác sĩ dặn mỗi ngày đúng giớ phải chích.

Còn có người sau khi thử trước khi chích vì thấy đường-huyết còn cao. Tôi bảo trước khi chích hãy cột chân đi cầu thang 10-30 lần, sau khi đi xong, nếu đường còn cao mới chích, nhưng sau khi đi cầu thang thì đường xuống thấp, tôi nói nếu chích làm đường tụt xuống nữa sẽ bị té xỉu.

Trong Đạo Phật dạy Bi-Trí-Dũng, nếu mình biết đường-huyết đã xuống thấp mà chích cho mình bị xỉu gây ra bệnh suy tim hại thận thì mình là người tu mà không có Trí rồi.

Học viên nói : Nhiều người cứ trước khi ăn phải chích một mũi vào bụng rồi mới ăn.

Tại vì người ta không biết nguy hại của bệnh đường thấp nguy hiểm hơn là bệnh đường cao, và không chịu đo đường kiểm soát trước và sau khi ăn. Nên cũng có nhiều người lầm tưởng chắc ăn bánh bao lên đường nhiều, nhưng khi thử đường trước khi ăn và sau khi ăn thì đường lại xuống.

Như vậy tại sao chất bột làm tăng đường mà bánh bao nhiều bột lại không tăng đường. Nếu không thử nghiệm thì cứ tranh cãi, thực ra bánh mì cũng là bột ít đường hơn gạo, còn bánh bao có nhiều bột hơn nhưng nó lại có nhiều bột nổi hơn bánh mì nên nó hút đường làm hạ đường mà không tăng đường.

Những người chích vào bụng nhiều thành tế bào nơi bị chích chai cứng nổi cục lại gây tắc trở ngại khí huyết lưu thông làm chuột rút đau vùng bụng và chân.

Cũng có nhiều người uống mật ong nhiều hay ăn chè nấu bằng gạo nếp lại không bị tiểu đường, vì đo đường vẫn thấp trong tiêu chuẩn. Tại sao?

Vì mật ong tỷ trọng nặng khó hòa tan với thức ăn, nó lắng xuống dáy bao tử và thành ruột không tan vào máu, nên thử máu không có đường, chè nấu bằng nếp cũng vậy, hay chè nấu với nước cốt dừa, thì dễ tiêu hóa nhanh không lưu lại trong máu.

12-Bệnh suyễn không nên chữa bằng thuốc xịt vào lưỡi dễ bị ung thư lưỡi, họng.

Ở phút 55:44

Một bệnh nhân khi theo khóa học bị bệnh suyễn phải dùng thuốc xịt vào lưỡi, không cần chữa chỉ tập niệm A-Di-Đà-Phật là cách chỉ cho hơi ra mà không hít vào tự nhiên hết bệnh suyễn khỏi, vì suyễn là hơi thở ngắn nguyên nhân tham hít vào mà không thở ra, làm áp lực khí huyêt dồn lên ngực khiến thần kinh phế-vị co rút, tăng áp huyết, ngộp thở. Trong mấy ngày bệnh nhân này không chữa cũng đã khỏi.

Nguy hại của thuốc xịt vào lưỡi làm lưỡi mất dần cảm giác, giống như lưỡi có tráng lót một lớp giấy kính mỏng, ăn sẽ không còn biết mùi vị, dù thức ăn có ngon bệnh nhân chỉ có cảm giác như ăn cát, nên tuyến nước bọt cũng không làm việc, không chuyền cảm giác mùi vị nên chức năng chuyển hóa của bao tử cũng mất khả năng dẫn vị đi đến các tạng phủ khác để cùng nhau làm việc chuyển hóa đồng bộ, cuối cùng bao tử như thùng rác chứa những thức ăn không tiêu ứ đọng lâu ngày trở thành ung thư bao tử, ung thư lưỡi, ung thư lá mía….

Có người hỏi thế bệnh suyễn chữa làm sao hết ? Bệnh nhân đã khỏi bệnh suyễn trả lời : Phải bịt mũi thở bằng miệng trong 1 buổi.

Áp huyết cao và bệnh suyễn là bệnh gì ? Là bệnh tham lam, đi vay nhiều mà không chịu trả.

Tham ăn nhiều mà tiêu hóa ít, vay nhiều trả ít thì bị bệnh cao áp huyết. Muốn chữa khỏi bệnh này thì ăn ít là vay ít, làm nhiều là trả nhiều, áp huyết sẽ xuống thấp.

Suyễn là tham hít vào nhiều là vay nhiều, thở ra ít là trả ít. Muốn chữa bệnh này là ít vay mà trả nhiều, bằng cách bịt mũi bằng bông gòn chỉ thổi hơi ra hay thở ra bằng miệng suốt ngày thì khỏi bệnh.

13-Chữa sôi bụng làm sao ?

Ở phút 58:15

Bệnh nhân bị bệnh suyễn bụng lúc nào cũng sôi ục ục…khi tập thiền nằm, hai bàn tay đặt chồng trên rốn, nằm thay vì Thiền Quán Tức nghe bụng phồng-xẹp được thì đổi sang thiền Sổ Tức như bình thường, thì cách này cũng thiền thả lỏng cơ thể, cuốn lưỡi ngậm miệng thở bằng mũi tự nhiên, không đếm hơi thở mà nằm yên lặng nghe tiếng bụng sôi mới đếm 1, cứ thả lỏng người, thở tự nhiên, chỉ lắng nghe bụng có sôi không để đếm lần thứ 2, rồi lắng nghe lần thứ 3… nhờ theo dõi lắng nghe theo nguyên tắc khí công ý ở đâu khí ở đó, ý ở đâu máu chạy đến đó….cuối cùng không nghe thấy tiếng bụng sôi nữa..

Có thể giải thích như sau : Lạnh bụng do thức ăn lạnh làm bụng sôi, ý ở đâu thần ở đó làm bụng tăng nhiệt độ nóng.

Sôi bụng do xoang bụng có nhiều bọng khí, rải rác bị ngăn chặn bởi những màng mỡ sa, tập trung khí vào rốn là huyệt Thần Khuyết, tất cả các khí rải rác trong các bọng khí khi di chuyển về tạo ra tiếng sôi xong thì các bọng khí hết khí.

Tập thiền nghe đếm tiếng bụng sôi trước khi đi ngủ có kết qủa ngủ nhanh hơn, và bụng ấm nóng, hết sôi, không còn lạnh bụng lại ngủ ngon hơn.

Sôi bụng là bụng lạnh

Ăn xong mà ngáp là bụng lạnh bao tử ăn thức ăn hàn.

Ăn xong vừa ngáp vừa buồn ngủ là bao tử thiếu đường nên thiếu nhiệt lượng chuyển hóa thức ăn, nó cũng làm cho áp huyết xuống thấp.

14-Chữa bệnh theo pháp của Phật .

Ở phút 1:00:10

Chữa theo pháp của Phật. Thân người do tứ đại hợp thành : Đất, Nước, Gió, Lửa.

Xét theo y học, chất đất là chất Thổ là những chất đặc hình thành thân xác con người như da thịt xương, đầu mình chân tay…

Muốn nuôi sống được thân xác là chất Thổ thì phải có chất Thủy là chất lỏng như nước, máu và những dịch chất

Muốn cho chất lỏng chuyển động đi khắp toàn thân nuôi các tế bào của thân xác và tế bào máu và và thanh lọc tốt xấu thì phải có chất gió là chất Khí, từ hơi thở, từ thức ăn.

Cơ thể phải có chất lửa bảo vệ và duy trì thân nhiệt bằng hệ thống ống mạch, thần kinh điều khiển chức năng hoạt động trong con người, gọi là chất Điện.

Con vật và cây cỏ cũng có 4 chất đất nước gió lửa hợp thành. Riêng con người hơn con vật là có thêm một chất vô hình là Trí khôn. Gọi là chất Quang.

Trên kinh nghiệm thực hành trong khoa chữa bệnh của cả đông y lẫn tây y có điểm tương đồng và dị biệt.

Đông y vẫn nhìn thấy 3 yếu tố Tinh-Khí-Thần trong 5 chất :

Chất Thổ và Thủy thuộcTinh, chất gió thuộc Khí, chất Điện và chất Quang thuộc Thần, nên cách chữa bệnh được toàn diện.

Còn tây y chỉ nhìn thấy từng chất riêng lẻ, mà không thấy tính liên kết của cả tổng thể, nên chỉ chữa vào cục bộ :

Thí dụ gẫy tay chân, hư hỏng nội tạng như tim, gan, ruột, tai mắt mũi…tây y có thể cắt bỏ, thay thế chất thổ, ráp nối cái mới dễ dàng mà đông y không làm được.

Nhưng thay ráp sửa chữa xong, muốn chất thổ này tồn tại, phải tiếp chất thủy để nuôi dưỡng nó là nước biển và máu.

Cũng như ghép cây chiết cành bó cây xong cũng phải nhờ bó đất tưới nuớc bón phân cành mới sống.

Từ đây dưới con mắt đông y chúng ta rút ra một quy luật, mà tây y không nhìn thấy, nên gặp những bệnh nan y, tây y không chữa đúng vào gốc bệnh theo quy luật này :

Chất nào hư hỏng thì sửa chữa nó và nuôi dưỡng nó bằng chất cao hơn nó.

Do đó hệ thống chữa bệnh hoàn hảo theo pháp của Phật là :

Chất thổ bệnh chữa nó và lấy chất thủy nuôi nó.

Chất thuỷ bệnh, chữa nó và phải lấy chất khí nuôi nó.

Chất khí bệnh, chữa nó và phải lấy chất Điện nuôi nó

Chất điện bệnh, chữa nó và lấy chất Quang nuôi nó

5 chất này Y Học Bổ Sung đưa ánh sáng khoa học vào phân tích theo âm-dương khí hóa của Tinh-Khí-Thần mới thấy sự cấu tạo tế bào trong con người thật là timh tế kỳ diệu có hệ thống tổng thể đồng nhất, không rời rạc.

Mỗi chất đều có âm và dương, dương động, âm tịnh, nên sự chuyển hóa khí hóa âm dương có thuận và nghịch theo thứ tự gọi là sinh-hóa và chuyển hóa như sau :

Sinh hoá-chuyển hóa thuận :

Từ chất Thổ : Có thổ âm là những thức ăn cũng từ đất (thổ) như thịt động vật, thực vật, hoa trái…ăn vào người là thổ âm, được biến hóa thành chất bổ là thổ dương gọi là sinh hóa trong thể động do lục phủ giúp sức, trong thể tịnh do ngũ tạng chuyển hóa thổ dương sang chất thủy thành thủy âm là chất lỏng là máu và dịch chất. Thủy âm lại sinh hóa thành thủy dương nhở thể động của lục phủ, trong thể tịnh do ngũ tạng chuyển hóa thủy dương sang chất khí thành khí âm trong máu Fe2O2 theo máu đen về tim biến thành máu đỏ Fe2O3, rồi lục phủ lại sinh hóa khí âm thành khí dương (sức lực), lại nhờ ngũ tạng ở thể tịnh chuyển hóa thành điện âm (nhân điện), lại nhờ lục phủ có nguyên liệu điện âm sinh hóa thành điện dương làm mạnh hệ thần kinh tăng cường hệ miễn nhiễm, rồi tứ thể tịnh ngũ tạng chuyển hoà điện dương thành quang âm tăng cường tế bào não tủy, rồi trong thể tịnh ngũ tạng lại chuyển hóa quang âm thành quang dương giúp con người càng ngày càng thông minh để học hỏi biết tất cả những kiến thức trong thế gian gọi là thể Hạ Trí.

Khi tập thiền học đạo, thể quang dương phóng ra được khỏi đỉnh đầu tiếp xúc thu hút được thêm chất quang trong càn khôn vũ trụ hay do tha lực vô hình của chư Phật, của Chúa, phóng quang vào mới có đủ khả năng soi sáng khai mở được nhiều tiềm năng còn chứa trong những tế bào não chưa đưọc sử dụng hoạt động.

Sinh hóa-chuyển hóa nghịch :

Khì chát thổ, chất thủy bị bệnh, mà chưa được chữa bổ sung hay không biết chọn lực thức ăn đúng bằng chất thổ, chất thủy từ thức ăn hay tiếp nước biển, hay tiếp máu…, thì một số người biết phương pháp thiền định, yoya…biết nạp năng lượng từ trường quang năng là quang dương vào đỉnh đầu sinh hóa thành quang âm duy trì hoạt động của tế bào não, hệ thần kinh nhận chất cao hơn nó chuyển hóa thành điện dương, tử điện dương sinh hóa thành tĩnh điện là điện âm, lục phủ ngũ tạng thiếu khí, nhận chất cao hơn nó chuyển hóa thành khí dương để hoạt động đưa vào tạng phủ sinh hóa thành khí âm, chất thủy nhận chất cao hơn nó là khí ăm chuyển hóa thành thủy dương là máu chất lỏng, nước và dịch chất và chất điện giải duy trì lại tình trạng máu nhiễm bệnh thành máu tốt, rồi chất thổ nhận chất cao hơn nó là thủy dương sinh hóa thành chất thổ dương đem nuôi các chất đặc là những tế bào xương cốt da thịt bị hư hỏng.

Sự sinh-hóa chuyển hóa nghịch đó là lý thuyết khó thực hiện nếu không phải là những người am hiểu thực hành thường xuyên theo một lý tưởng tôn giáo, các vị này ăn ít hay không ăn mà chỉ ngồi thiền nhập định mà thân không bệnh tật.

Nếu nghiên cừu cách chữa bệnh theo chiều hướng sinh hóa-chuyển hóa thuận, chúng ta thấy ngành y học chính thống của tây y mà cả thế giới đang theo, còn nhiều thiếu sót, chưa thống nhất trong cách chữa được phân tích như dưới đây :

Khi chất thổ bệnh, thân này là thổ bị khô cằn, thiếu nước, thiếu máu, hậu qủa là tế bào thổ bị biến hóa, không cần phải xét tế bào để tìm bệnh, mà chỉ cần dùng chất thủy để bổ nó là máu và nước thì thân xác thổ hết bệnh..

Chất thổ bị nặng nhất hiện nay là ung thư, tây y sau này nếu có tiến bộ hơn, có thể cắt bỏ tất cả các khối u, các tế bào ung thư, cắt bỏ tất cả các tạng bị ung thư, dù có thay thế ráp nối bộ phận mới được thành công, mà vẫn giữ nguyên quan niệm nếu bổ chất thủy là máu thì làm cho tế bào ung thư phát triển thêm, thì ngành tây y vẫn còn thiếu sót về cách chữa bệnh thuộc thổ.

Trường đại học Johns Hopkins đứng hàng đầu thế giới nghiên cứu chữa bệnh ung thư cũng khuyến khích bệnh nhân tập khí công, nhưng chưa nghiên cứu loại khí công nào có kết qủa để hướng dẫn theo dõi bệnh nhân tập đến nơi đến chốn cho có kết qủa.

Về điểm này đông y khi chữa bất cứ bệnh gì của thổ, xưa kia vẫn cho uống thuốc thang bao gồm cả 3 yếu tô có trong thuốc là bổ thổ bằng thủy, bằng chất khí có trong thuốc là chất thổ thấm vào chất thủy. nên khi uống thuốc thang là chữa luôn cả 3 chất thổ, thủy, khí.

Đó là sở trường trong y học cổ truyền của đông y từ mấy ngàn năm đến nay,

Khi chất thủy bệnh, là thiếu nước, thiếu máu, dư máu, máu nhiễm trùng, phải thay đổi máu, thay đổi nước và dùng chất cao hơn nó là chất Khí tăng cường oxy để thanh lọc độc cho thủy, bảo vệ chất thủy không bị hư hại, thì tây y chưa tìm ra cách tạo khí, và không chịu theo hướng nghiên cứu chất khí đưa vào khoa chữa bệnh bằng cách luyện thở. Trong khi các vị tu sĩ bị bệnh, chuyên niệm Phật, tụng kinh vô tình là đang luyện khí, quên thân bệnh, tự nhiên khòi bệnh.

Riêng về chất thủy bệnh, tây y đi theo khuynh hướng nghiên cứu vi trùng học trong huyết học, còn đông y không biết vi trùng học, đi về kinh nghiệm dân gian. Khi cơ thể bị sốt theo tây y là nhiễm trùng phải dùng trụ sinh là chất thổ để chữa thủy, nếu không được thì tiếp nuóc biển pha thuốc trụ sinh kháng sinh, thì vẫn lấy cấp thấp để chữa, chứ không dùng cấp cao hơn nó là chất khí để chữa, vì không biết nghiên cứu tìm chất khí như thế nào để chữa, ngoài cách cho thở bằng oxy không đúng với bệnh.

Đông y theo kinh nghiệm thì hái là cây lá thuốc sắc uống mà khỏi, tây y hỏi vi trùng gì cũng không biết, nhưng bệnh nhân khỏi bệnh, đáng lẽ tây y biết được vi trùng của bệnh rồi thì lấy lá thuốc của đông y để chế ra thuốc kháng sinh cho người bệnh được nhờ, thì tây y không theo con đường này.

Đông y hay hơn nữa là phòng ngừa chất thủy bệnh, đông y dùng chất khí là dùng lá thuốc nấu cho xông hơi là chất khí để ngửi hay xông toàn thân phòng ô nhiễm khí môi trường của những bệnh dịch lây nhiễm cũng có kết qủa.

Khí chất khí bệnh, cơ thể rối loạn khí không điều hòa đều thân nhiệt, thiếu khí giúp máu tuần hoàn toàn thân, chỗ thì dư khí phong, chỗ thì bị khí thấp nhiệt, chỗ thì bị khí thấp hàn gây ra đau nhức, thiếu khí hut hơi làm thành bệnh suyễn…tây y chỉ dùng thuốc giảm đau, an thần, thuôc ngủ, thuốc làm tăng áp huyết là chất thuốc viên thuộc chất thổ, thuốc chích thuộc thủy, là chất thấp hơn nó để chữa nó thì không bao giờ khỏi bệnh. Những bệnh này tây y khuyên đi châm cứu bấm huyệt thì khỏi, tại sao lạ vậy ?

Vi châm cứu bấm huyệt là chỉnh khí, và cấp cao hơn nó là dùng điện bằng kim châm cứu kich thích hệ thần kinh thuộc chất điện, hay châm cứu chạy điện thì kết qủa hay hơn tây y, đông y có dùng chất lửa, chất nóng, chất điện như hơ cứu, hơ bằng máy sấy tóc, chườm nóng….là chất cao hơn chất khí.

Thay vì tây y cũng phải chấp nhận môn học này đào tạo ra bác sĩ sáp nhập vào y học chánh thống thì lại chèn ép đố kỵ, nên ngành châm cứu không được xem trọng để được làm việc chung trong 1 bệnh viện.

Tây y khi thấy bệnh nặng nguy hiểm đến tánh mạng thì dùng phẫu thuật cắt bỏ thay thế thổ là chữa vào cấp dưới là chất thổ và chất thủy. Không biết nghiên cứu chất khí để chữa bệnh nên bó tay, chỉ có 1 chiêu duy nhất mà tây y có là bệnh khí là suyễn, tây y có cho thở oxy là chất khí, mà không dùng chất cao hơn nó là điện, chỉnh thần kinh chức năng phế-vị để điều chỉnh hơi thở làm mất hết bệnh suyễn thì tây y không nghiên cứu, chỉ dùng chất thủy là cách dùng thuốc xịt vào lưỡi nên gây ra biến chứng là bệnh ung thư..

Trong môn học khí công có tập luyện thở, tập động công, tĩnh công, giúp tuần hoàn khí huyết toàn thân, giúp chức năng tạng phủ co bóp tăng sinh hóa chuyển hóa của lục phủ ngũ tạng chuyển thức ăn thành chất thủy, chất khí, chất điện…. làm thay đổi áp huyết, diều khiển được tăng giảm khí lực, tăng giảm huyết lực, tăng giàm được hàn nhiệt, là điều chỉnh được cả Tinh-Khí-Thần, có nghĩa là điều chỉnh được Tinh là chất thổ và chất thủy, điều chỉnh được chất khí tăng giảm, điều chỉnh được thần là chất điện.

Những bài tập Khí công chữa bệnh :

Bài Nằm Đá Gót Chân Vào Mông, bài Nạp Khí Trung Tiêu, bài Đứng Hát Keo Gối Lên Ngực là bài thông khí toàn thân, giúp tiêu hóa, chuyển hóa hấp thụ thức ăn thành chất bồ máu, làm tăng thân nhiệt, tăng áp huyết, hạ đường huyết.

Bài Bó chân đi cầu thang làm hạ đường làm hạ áp huyết, bài thở thận, thở Mệnh Môn ổn định áp huyết và thân nhiệt, bài thờ 2 Đan Điền tăng nhiệt, tăng hồng cầu, tăng áp huyết hay hạ nhiệt, bài thở bụng chữa suyễn, hạ áp huyết, những bài luyện thở bằng niệm danh hiệu A Di Đà Phật hay A Lê Lui A, bài Cúi lạy chữa tiểu đường và áp huyết….

Những bài này làm thay đổi chất khí dùng trong chữa bệnh, chứ không phải là yoga, dưỡng sinh, vì những người tập những môn này vẫn còn bị bệnh, còn ai tập khí công chữa bệnh kể trên thì thân bệnh được chữa khỏi.

Khi chất điện bị bệnh, do dư lửa hay thiếu lửa, thì tây y hoàn toàn thất bại, chất điện gây ra bệnh tâm thần, điên, hiếu động, stress, trầm cảm, ma nhập….chỉ cho uống thuốc an thần là chất thổ thì xem như bệnh chưa bao giờ được chữa nên bệnh càng nặng thêm.

Bênh này cần chất quang là chất thuộc về trí hiểu biết nguyên nhân tâm lý, tây y có bác sĩ tâm lý thần kinh, chú trọng vào khai tâm mở trí cho bệnh nhân thì ít mà cho thuốc chất thổ làm an thần thì nhiều nên cũng thất bại.

Nhưng những bệnh nhân này khi đến với tôn giáo, hiểu đạo pháp, được các nhà tu khuyên bảo, tâm trí được khai mở sáng suốt, tập thở thiền thư giãn, luyện khí, một thời gian tự nhiên hết bệnh, tây y cũng khônghiểu tại sao và không nghiên cứu về lãnh vực này nên cách chữa bệnh vẫn dùng thuốc là chất thổ, chất thủy.

Tây y cũng có chất quang dùng để khám bệnh và chữa bệnh chưa được hệ thống hóa cho hoàn chỉnh, theo quy luật Chất nào hư hỏng thì sửa chữa nó và nuôi dưỡng nó bằng chất cao hơn nó.

Hiện nay chữa mắt biết dùng tia laser, một vài bệnh chữa bằng tia laser, nhưng chưa được an toàn, mà phim khoa học giả tưởng Star Strek đã đưa ra lý thuyết bằng hình ảnh để khuyến khích con người tìn hiểu thêm để biến những giả tưởng thành sự thật.

Như họ dùng dụng cụ gọi là Squip là dụng cụ Laser, rà trên người tìm chỗ đau bệnh, họ không cắt mổ, không dùng thuốc thổ, thủy, họ lại dùng một máy Squip laser khác chiếu vào chỗ đau là bệnh khỏi, nên các nhà phi hành gia trên con thuyền không gian không bao giờ bị thân bệnh.

Họ cũng có những máy quang học làm tan biến tế bào con người vào không gian không còn nhìn thấy thân người để rồi tập hợp lại thành thân người ở một nơi khác, thì nó cũng là sự thực khi các vị tu chứng qủa A La Hán có thần thông cũng biến hóa thân từ nơi này đến nơi khác, nên thân không bao giờ có bệnh, vì chất quang là chất cao nhất sẽ chữa được mọi chất ở cấp thấp.

Tại sao Khí Công chữa khỏi được các bệnh ?

Khí công chữa bệnh là làm cho chất khí càng ngày càng tích lũy bằng cách luyện hơi thở, nó là chất cao hơn chất thủy, chất thổ, có nhiều phương pháp luyện thở đưa khí đi khắp nơi trong thân từ đầu đến chân, từ chân lên đầu, đi vào các khe kẽ thông ra tay chân và từ đầu tay chân thu khí vào trong cơ thể, có công dụng tạo lực đẩy máu tuần hoàn, thay đổi oxy cho máu xấu thành máu tốt, dẫn máu nuôi thổ đến nơi chỗ thổ bị bệnh để thay đổi tế bào, sinh sản tế bào lành, thay thế loại bỏ tế bào bệnh, theo nguyên tắc sinh hóa chuyển hóa nghịch từ chất cao là chất khí dương sinh hóa ra khí âm, để chất thủy nhận khí âm chuyển hóa thành thủy dương lại sinh hóa thành thủy âm, để chất thổ nhận thủy âm sinh hóa thành thổ dương phục hồi thay thế những tế bào bệnh.

Tập khí công luyện thở, mọi người nhìn thấy kết qủa rất rõ có sự thay đổi tốt về phương diện Tinh-Khí-Thần :

Giai đoạn 1 : tập khí công chữa thân bệnh dùng chất cao nuôi chất thấp theo sinh hóa-chuyển hóa nghịch :

Tập khí công luyện hơi thở thì thân bệnh thuộc chất thổ, chất thủy, chất khí không còn bị bệnh, khí công này không phải yoga, tài chi, nó là giai đoạn chuyển Tinh hóa Khí.

Giai đoạn 2 : tập luyện chất khí theo sinh hóa thuận để dưỡng thần :

Khi khí dương dưỡng khí âm đầy đủ để bảo vệ chất thủy chất thổ, thân thể sẽ khỏe mạnh không bệnh tật, tiếp tục luyện khí dư thừa khí dương được chuyển hóa thành điện âm tích lũy duy trì những chất điện giải làm tăng cường hệ thần kinh bền vững bén nhạy giúp hệ miễn nhiễm bảo vệ cơ thể. Giai đoạn này là củng cố hệ thần kinh, Thần với Khí hòa hợp tạo ra sắc mặt hồng hào, có thần.

Giai đoạn 3 : Tiếp tục tập tăng thêm nhiều tích điện âm sinh hóa thành năng lượng để cơ thể có khí lực thành nội lực, cò nhiệt năng, điện năng và từ trường dư thừa chuyển hóa thành chất quang âm, là giai đoạn hoàn tinh bổ não.

(Xem bài giảng thêm về Tâm Bệnh và Nghiệp bệnh bên dưới)

15-Ôn lại bài : Khi cơ thể thiếu đưởng cơ quan nào chết trước ?

Ở phút 1:33:50

Tỳ nuôi cái gì trong con người? Tỳ cần chất ngọt, và tỳ sinh huyết nuôi thịt, cơ bắp, cơ tim, xương, tủy, thần kinh….nên trong máu, thịt và xương có chất ngọt.

Thiếu đường thì chức năng tỳ không hoạt động, chất thổ là những tế bào nào bị bỏ đói sẽ chết trước.

Do đó thiếu đường thì mất thịt gầy ốm, mất thịt rồi thì lại mất chất ngọt trong xương làm loãng xương, lấy thịt phổi làm tế bào phổi bị ung thư, lấy thịt cơ của thận làm thận hư phải lọc thận…đó là di căn của bệnh tiểu đường làm suy tim hư thận, yếu thận, mù mắt, mất trí nhớ, mất thân nhiệt.

Như vậy đường thuộc Tinh mà thiếu thì mất chất điện, chất khí (yếu chức năng co bóp của tạng phủ), mất chất thủy là mất máu không nuôi chất thổ làm tế bào bị đói .

16-Thế nào là khí công chữa bệnh ?

Ở phút 1:41:39

Thực hành các bài tập thở bụng như nằm ngửa, người chữa ép 2 bàn tay ấn đè vào bụng bệnh nhân theo hơi thởi ra để khí trong bụng chuyển động chữa đau bụng, sôi bụng, ăn không tiêu.

Học viên thực tập khí công bài Nạp Khí Trung Tiêu tạo khí trong bụng chuyển hóa thức ăn, tăng nhiệt và tăng áp huyết thì hai bàn tay chồng lên Đan Điền Thần, ngược lại muốn hạ nhiệt, hạ áp huyết thì hai tay đặt chồng lên Đan Điền Tinh Khí Hải.

Nam đặt bàn tay trái vào Đan Diền Thần, tay phải chồng lên trên, nữ làm ngược lại.

Đan Điền Tinh : Nam đặt bàn tay phải lên huyệt Khí Hải dưới rốn 3 lóng tay, bàn tay trái đặt chồng lên tay phải. Nữ đặt ngược lại.

Thân

doducngoc

————–

Tâm Bệnh và Nghiệp bệnh :

1-Làm sao có chất quang để chữa khỏi bệnh ung thư ?

Theo đạo Phật chia làm 3 loại bệnh là : Thân Bệnh, Tâm Bệnh và Nghiệp Bệnh

Thân Bệnh :

Tây y chỉ chữa được thân bệnh nằm trong chất thổ và chất thủy, còn bệnh nặng nhất của chất thổ và chất thủy là bệnh ung thư không chữa được, chỉ tạm thời cắt bỏ chất thổ, làm chậm phát triển mà không chữa khỏi hẳn vì không chữa vào chất thủy, thay chất thủy và dùng chất khí để nuôi dưỡng chất thủy, do đó cứ tiếp máu tốt (chất thủy) mà cơ thể không có oxy (chất khí) để duy trì máu đỏ, lại biến tất cả thành máu xấu tàn phá hỏng chất thổ là tế bào mất sự sống.

Cả tây y lẫn đông y đành bó tay, vì tâm bệnh thuộc thần kinh là chất điện, còn nghiệp bệnh hoàn toàn xa lạ với ngành y, nên cần phải có chất quang.

Người giỏi nhất trong thế gian chữa được cả 3 loại bệnh này phải gọi là Y-Vương, chính là Đức Phật. Phật đã chỉ ra phương pháp tu để giác ngộ và giải thoát sanh tử, khi giác ngộ là biết nhìn thấu buông xả đó là chất quang, chữa được 4 chất thấp là chất điện không còn lo sợ buồn giận làm thay đổi chất điện bất bình thường, không làm chất khí bị xáo trộn, chất thủy không bị biến dạng thành máu xấu ứ tắc và chất thổ là tế bào không bị đói làm biến dạng thành bệnh.

Nghiệp bệnh thuộc về tâm linh siêu hình :

Mỗi tế bào có sự sống là có linh hồn, thí dụ có một loài vật không lồ to lớn gấp chúng ta 20 lần, và chúng ta là những thức ăn của chúng, chúng nắm chúng ta trong bàn tay như củ sâm, vặt đầu, xé chân tay bỏ vào miệng ăn…chúng ta căm giận tức tối vì đau đớn căm thù nó, muốn trả thù nó, trong đông y tạng gan chúng ta chứa máu, tàng hồn của chúng ta, khi chúng ta căm giận thì máu chúng ta trở thành độc tố, khi chúng ăn vào, linh hồn chúng ta vào trong thân nó sẽ bám vào tế bào trong thân xác chúng để phá phách cào cấu cắn xé nát tạng phủ nó để trả thù, giống như Tôn Ngộ Không lọt vào bụng đâm chọc thiết bảng làm cho ma vương đau quằn quại… .

Cũng như thế, nghiệp bệnh ung thư của chúng ta cũng do ăn mặn sát sanh hại vật từ nhỏ cho đến lớn biết bao sanh linh bị chúng ta trực tiếp hay gián tiếp hại chúng để nuôi thân ta. Như vậy chúng ta đã phạm giới luật của Phật là phạm tội sát sanh.

Nên muốn chữa được nghiệp bệnh về sát sanh, bệnh nhân ung thư được khuyên từ nay không được ăn mặn tránh gián tiếp gây thêm tội sát sanh mà phải ăn chay, thức ăn lành hơn không độc hại, và chuộc lại tội sát sanh thì phải phóng sanh cúu giúp những con vật bị người ta bắt giết ăn thịt, nuôi dưỡng lòng từ bi thương những chúng sanh khác.

Phải cầu nguyện cho linh hồn họ tha thứ lổi lầm vô minh vì đã gián tiếp sát hại họ, cầu nguyện cho linh hồn họ được siêu thoát bằng cách họ cùng tu với mình nguyện cầu tha lực chư Phật độ cho họ được siêu thoát, linh hồn họ rời khỏi chúng ta thì những bướu ung thư ác tính đang làm chúng ta đau đớn, bầm thối đen sẽ biến mất, đi tái khám bác sĩ sẽ nói đây là bướu lành, không còn tìm thấy dấu vết tế bào ung thư nữa.

Khi một người giác ngộ hiểu đạo thì thân-khẩu-ý luôn giữ chân-thật,thiện-lành,hữu-ích, là chất quang do sự giác ngộ, và cầu nguyện tha lực chư Phật là chất quang bên ngoài cơ thể đem năng lượng vũ trụ chiếu rọi vào cơ thể, chính là loại thức ăn năng lượng cho các tế bào khỏe mạnh, mà ít cần đến thức ăn có chất thổ chất thủy.

Biết nhìn thấu buông xả tham sân si, biết luật vô thuờng, biết luật nhân qủa về thân-khẩu-ý để khi còn sống thì thân tâm khỏe mạnh không bệnh tật, khi xa lìa thế gian thì được giải thoát. Vì thế tại sao những Phật tử bị bệnh ung thư đi theo con đường giác ngộ là chất quang này tự nhiên khỏi bệnh ung thư. Biết sống an vui trong hiện tại giữ chánh niệm trong từng hơi thở.

Nhà đạo luôn thực hành phương pháp duy trì chất quang là :

Ngoài thân sáu cửa đà kiên cố

Trong dạ bẩy tình đã trống không

Tâm-tức điều hòa tiêu vạn bệnh

Dữ lành chẳng biết, ấy huyền công .

2-Hành động cụ thể nào để biết đã giác ngộ, nhìn thấu buông xả ?

Khi biết thân xác này là vô thường, giả tạm vay mượn để sống, để tiến hóa, cuối cùng cũng phải chết, nhưng trước khi chết theo luật nhân-qủa, không nên gây thêm nghiệp sát mà phải chuộc tội bằng những hành động tạo nghiệp lành là phóng sanh, ăn chay.

Khi đã giác ngộ là một khúc quanh trong cuộc đời, họ từ chối chữa trị tiêu diệt tế bào ung thư không muốn gây thêm nghiệp sát sanh tạo thêm oán thù với các linh hồn để bị trả thù làm thân thể bị hành hạ đau đớn khổ sở hơn.

Chúng ta dành hết cuộc đời còn lại cầu nguyện ăn năn sám hối với Phật, với Chúa soi sáng tâm hồn mình, giúp cho mình và những linh hồn các tế bào trong thân người mình mà đạo Phật gọi là oan gia trái chủ tha nợ cho mình, để cùng nhau tu tỉnh thân tâm trước khi lìa đời thân tâm được an lạc, thân không còn bệnh tật ốm đau ra đi tự tại.

Những bệnh nhân theo Thiên Chúa Giáo, cũng đã từng nếm mùi đau khổ vì bệnh tật mà tây y bó tay, đã từng quay về với Chúa để cầu nguyện :

Chúa ơi ! Con xin Chúa cứu con, một là Chúa cho con chết để thân con không đau đớn nằm liệt một chỗ khổ sở thân con vô cùng, hai là Chúa cứu con cho con khỏi bệnh, gặp thầy gặp thuồc. Con xin tạ ơn Chúa.

Như vậy là chúng ta đã quay về đời sống tâm linh, nhớ ánh sáng quyền năng của Phật hay Chúa là nhờ đến tha lực vô hình, là chất quang giúp chúng ta giác ngộ, thay đổi hoàn toàn cuộc sống mới thiên về tâm linh hơn là vật chất, mà chúng ta khỏi được cả 3 loại bệnh là Thân bệnh,Tâm bệnh và Nghiệp bệnh.

Video bài giảng 10 tại Thụy Điển

Video bài giảng 10 tại Thụy Điển

https://www.youtube.com/watch?v=RYj_giyd0do

Giải thích :

Giải thích :

1-Tập luyện hơi thở bằng niệm A-Di-Đà-Phật

Ở phút đầu.

Niệm danh hiệu Phật có 4 câu với 4 giai điệu cao thấp khác nhau gọi là 1 bài

À Di Đa Phật
Á Di Đà Phật
A Di Đà Phật
A Dì Đa Phật.

Luyện thở 1 câu 1 hơi thở, cứ mỗi câu trong bài là 1 hơi thở.

Luyện thở 2 câu 1 hơi thở. Nhập câu 1 và 2 làm 1 hơi thở.

Luyện thở 4 câu 1 hơi thở niệm nhỏ và nhanh hơn, nhập 4 câu là 1 bài 1 hơi thở

Luyện thở 8 câu 1 hơi thở niệm nhỏ hơn để giữ khí và niệm nhanh hơn cho đủ 8 câu là nhập 2 bài trong 1 hơi thở mà không bị thiếu hụt hơi.

Cách lấy hơi để hát là khi vừa hết câu cuối là hết hơi thì há miệng rồi hát tiếp, không nâng ngực nâng vai, không hít vào bằng mũi, giống như lớp học nhạc làm ca sĩ, không cần để ý hít thở, cứ hát làm sao đúng nhịp mà không mệt.

Luyện thở 12 câu 1 hơi thở, thì giống như mình hát mỗi bài 4 câu, thì hát luôn 1 hơi 3 bài là 12 câu thật nhanh thật nhỏ giống như chỉ nhấp môi, không há lớn miệng làm mất hơi hụt hơi, lúc đó lưỡi rung nhanh trong cổ họng làm kich thích tuyến nước bọt sẽ ra nhiều nước miếng sẽ làm mạnh thận, và niệm Phật cả ngày như thế trong miệng tạo ra hơn 3000 ngụm nước miếng do thận thủy biến thành thận khí, tổng số nước bọt nuốt vào họng là nước cam lồ tương đương 3 lít nước vào bụng thì cả ngày không bị khát nước không cần phải uống thêm nước ở ngoài.

Khi niệm nhanh được 3 bài 1 hơi thì tất cả theo cách niệm nhanh nhỏ cứ thế tập liên tục không cần biết là bao nhiêu bài bao nhiêu câu nữa, cứ niệm liên tục cho đến khi hết hơi thì lại há miệng niệm tiếp cho liên tục không gián đoạn.

Đó là cách luyện thở khí công Tịnh Độ sẽ đạt được kết qủa : Tâm-Tức điều hòa tiêu vạn bệnh.

Có nghĩa là để tâm trí vào câu niệm Phật theo hơi thở cho đúng nhịp, cho không hụt hơi, không trật nhịp, cho ra nước miếng, niệm đều đặn không gián đoạn, khi đi đứng nằm ngồi, làm việc, mọi lúc mọi nơi, cho tăng khí lực tăng công lực, nội lực có nghĩa niệm hoài cơ thể không mệt mỏi thì âm-dương hay khí-huyết hoà hợp thì nhịp tim hòa hoãn không nhanh không chậm, giúp ổn định áp huyết lúc nào cũng lọt vào tiêu chuẩn.

Công dụng theo Tinh-Khí-Thần :

a-Công dụng về Tinh :

Khi miệng xuất ra nước bọt, làm thèm ăn, mau tiêu thức ăn, không bị ợ hơi, bao tử không bị đầy hơi, tránh được bệnh viêm họng lưỡi.

b-Công dụng về Khí:

Hết bệnh suyễn, oxy vào cơ thể nhiều hơn làm tăng hồng cầu, có nghĩa là máu đen Fe2O2 có thêm oxy thành máu đỏ Fe2O3 nhiều hơn nên da mặt hồng hào, là hơi thở dài hơn mà không mệt là chức năng thận mạnh hơn, tránh được nhiều bệnh liên quan đến khí…

c-Công dụng về Thần :

Nhờ nhất tâm theo hơi thở là là một lối thiền định, không làm tâm viên ý mã là tâm được an trú trong hiện tại, niệm không gián đoạn, không xen tạp, nếu nhất tâm huớng về Tịnh Độ thì tập Khí Công Tịnh Độ vừa nhờ vào tự lực mà thân được khỏe mạnh không bệnh tật, vừa nhở vào tha lực mà được trí sáng tâm khai.

2-Bảng tiêu chuẩn chuyển đổi đường-huyết lúc đói và lúc no theo 2 đơn vị đo lường bằng mmol/l và mg/dL.

Ở phút 25:18

a-Đường-huyết thấp bị mù mắt, sỉu, hôn trầm, đau nhức thần kinh gân cơ, đau nhức toàn thân, hoa mắt chóng mặt, loãng xương, thoái hóa đốt sống cổ lưng, đĩa đệm, mất trí nhớ….

mmol/l 3.0 =mg/dL 40

b-Thiếu đường, mệt, buồn ngủ, đau nhức thần kinh gân cơ, đau nhức toàn thân, loãng xương, thoái hóa đốt sống cổ lưng, đĩa đệm, hay bị mệt tim, vã mồ hôi, người lạnh, chân tay tê lạnh, mất trí nhớ…

mmol/l = mg/dL

4.0 = 60

5.0 = 80

c-Tiêu chuẩn khi bụng đói : Nếu khi bụng no mà đưởng-huyết nằm trong tiêu chuẩn như lúc đói này thì cơ thể thiếu năng lượng để làm việc, sẽ mau mệt mỏi, mệt tim đau nhức.

6.0 = 100

7.0 = 120

8.0 = 140

d-Tiêu chuẩn khi bụng no : Nếu khi bụng đói nằm trong tiêu chuẩn này là có bệnh tiểu đường

8.0 = 140

9.0 = 160

10.0 = 180

11.0 = 200

12.0 = 220

Sau khi ăn đường huyết cao hơn 12.0 mmol/l nhưng đến bữa ăn sau đường-huyết phải xuống trong tình trạng đói (6.0-8.0mmol/l), nếu đường-huyết không xuống ở tiêu chuẩn đói, chứng tỏ bệnh nhân ăn xong, không tiêu, cơ thể không chuyển hóa thức ăn, hay bệnh nhân lười vận động, chúng ta biết ngay.

Do đó cần phải tập bó chân tập bài đi cầu thang 30 lần làm tiêu đường-huyết giúp chuyển hóa thức ăn để thức ăn không bị biến thành mỡ.

Thân

doducngoc

Video bài giảng 9 tại Thụy Điển

Video bài giảng 9 tại Thụy Điển

https://www.youtube.com/watch?v=0b6NIPL0VGU

Giải thích :

1-Cách quấn bó chân bằng băng thung chữa bệnh đau chân, đau gối, đau lưng, thần kinh tọa, chân phù nước, lạnh tê chân, phình tĩnh mạch… .

Ở phút đầu

Dùng băng thung 10cmx4.6m quấn từ cổ chân hơi lỏng quấn xéo lên dần đến gần đầu gối, qua bắp chân thì quấn xiér chặt 20% rồi gần gối thi hơi lỏng, lại quấn xéo xuống đến dưới bắp chân lại quấn xéo lên, mục đích ép những nơi van tĩnh mạch bị phình nơi bắp chân.

Chỉ khi nào tập “Đi cầu thang 10 bậc” mới quấn chân, để khi đi lên bắp chân sẽ ép van tĩnh mạch bơm máu đen đi lên, máu sẽ thông qua đầu gối lên bắp đùi trên lên hông, lên háng, khi đi xuống thì máu đỏ đi xuống, làm thay đổi máu mới xuống chân, làm thông những chỗ tắc ứ huyết, nên khi đi cũng cảm thấy đau, vì vậy khi đi xong thì tháo bỏ băng quấn ra cho khi huyết lưu thông bình thường, sờ vào chân thấy ấm nóng rịn mồ hôi và bắp chân nhỏ lại, da chân hồng hào hơn so với lúc trước khi đi chân phình to và lạnh.

Khi đi 30 lần thì có công dụng làm đường-huyết tụt xuống thấp ít nhất là 100mg/dL=5.0mmol/l.

Vì thế nên trước khi tập bài “Đi cầu thang” phải đo áp huyết và đo đường-huyêt, để chúng ta biết phải áp dụng theo một trong 3 cách dưới đây :.

a-Nếu áp huyết cao, đường thấp thì phải uống thêm đường là 1 ly Pepsi, vừa tăng đường-huyết để khi tập không bị mệt, nhưng Pepsi cũng có công dụng làm hạ áp huyết, và Pepsi có đường của cây Cỏ ngọt (stevia) dùng để chữa bệnh tiểu đường. Pepsi cũng là chất tẩy rửa có chất ga làm tan những thức ăn ứ đọng trong bao tử và ruột, và là chất xúc tác hòa tan những đường có tỷ trọng nặng như mật ong, đường dạng sirop không tan trong thức ăn bị lắng đọng dính bám vào đáy thành bao tử và ruột, cho nên sau khi tập xong trán đổ mồ hôi thì thử đường-huyết lại chúng ta sẽ thấy đường-huyết xuống thấp hơn so với trước lúc chưa uống Pepsi.

Thí dụ đường huyết trước khi tập là 7.0mmol/l, so với tây y là cao, nhưng so với Y Học Bổ Sung, thì vẫn là thấp, không thể bó chân để tập “Đi cầu thang” làm hạ áp huyết được, vì chỉ đi lên 2 lần là đường 7.0mmol/l sẽ xuống còn 5.0mmol/l sẽ bị mệt không thể tập tiếp được, nên không có kết qủa làm hạ áp huyết hay làm nóng ấm chân thông khí huyết chữa bệnh phình tĩnh mạch, đau chân, sưng chân hay đau lưng, hay thần kinh tọa được. Vì muốn chữa khỏi được những bệnh này phải đi lên-xuống cầu thang ít nhất đủ 30 lần, do đó phải uống thêm Pepsi cho đường huyết lên đến 10-12mmol/l, để sau khi tập xong đường huyết sẽ xuống còn ở mức trên 5.0-7.0mmol/l thì sẽ không bị mệt tim..

b-Nếu áp huyết thấp, đường thấp, mà muốn chữa bệnh đau chân, thần kinh tọa, đau lưng, lạnh tê chân, sưng phù nước, phình tĩnh mạch…cách chữa hiệu nghiệm nhất vẫn là quấn chân đi cầu thang, nhưng nhớ rằng khi tập đi 30 lần đường huyết tụt xuống mất 5.0mmol/l, và còn lệ thuộc vào áp huyết, nên chọn Coca, uống 1 ly, làm tăng áp huyết và tăng đường, để khi tập không bị mất dường làm mệt xuất mồ hôi và không bị tụt áp huyết cũng làm thở dốc hụt hơi. Nhớ rằng khi xuất mồ hôi vừa mệt vừa hụt hơi là áp huyết và đường tụt thấp lại phải uống thêm 1 ly Coca nữa rồi mới tập tiếp cho đủ số làm tăng khí lực, huyết lực và thân nhiệt làm khi huyết lưu thông mạnh khắp toàn thân thì các bệnh trên mới khỏi được.

c-Bài tập “Đi cầu thang” mục đích chính là thông khí huyết chuyển hóa đường làm hạ đường và làm tiêu mỡ, tiêu cholesterol trong tim mạch có hiệu qủa nhanh hơn các phương pháp khác.

Còn muốn làm tăng áp huyết thì đi nhanh để chữa bệnh áp huyết thấp, hoặc muốn làm hạ áp huyết thì đi chậm để chữa bệnh cao áp huyết.

Nhắc lại : Kết qủa 3 số đo của áp huyết theo tây y là : Tâm thu/Tâm trương/Nhịp tim

Đối với cách bắt mạch của đông y là : Khí/Huyết/Mạch

Đối với Y Học Bổ Sung là kết qủa của tiêu hóa tốt hay xấu, nên gọi là Khí lực/ Tinh lực hay Huyết lực/Hàn-nhiệt do đường-huyết cao hay thấp.

Kết qủa 3 số này phải nằm trong tiêu chuẩn tuổi. Nếu lọt ra ngoài tiêu chuẩn tuổi thì phải điều chỉnh lại về Khí lực là phải tập khí công, về huyết lực là phải điều chỉnh lại cách ăn uống thuộc Tinh, về hàn nhiệt phải điều chỉnh lại lượng đường trong máu.

Điều chỉnh Tinh theo thức ăn dựa vào Tính-khí-vị của thức ăn.

2-Tại sao số tâm trương sáng đo được 80mmHg, chiều đo được 60mmHg, tại sao bị bệnh ung thư ?

Ở phút 9:20

Số tâm trương chỉ về kết qủa của thức ăn tạo ra máu hay làm mất máu, nếu tăng lên là thức ăn tạo máu tạo mỡ, nếu giảm là thức ăn có chất chua làm mất máu tiêu mỡ. Nếu số thứ hai tâm trương là huyết lực thâp hay cao hơn tiêu chuẩn là đã ăn uống sai.

Khi thử một loại thuốc trước và sau khi uống cũng làm tăng giảm số tâm trương làm thay đổi Tinh, nếu đúng, lọt vào tiêu chuẩn thì thuốc đó hợp với mình, còn lọt ra ngoài tiêu chuẩn cao hơn hay thấp hơn thì thuốc đó không hợp đã làm hại sức khỏe của mình, đó là chữa gốc bệnh, tây y không để ý điều này là thuốc cũng làm thay đổi áp huyết tốt hơn hay xấu hơn.

Chúng ta chỉ sợ ăn uống những thức ăn sai, hay thuốc uống sai làm lọt ra ngoài tiêu chuẩn số tâm trương về Tinh.

Chúng ta không sợ về Khí lực là số tâm thu, vì chúng ta có những bài tập khí công làm tăng hay giảm khí lực rất dễ, làm thay đổi kết qủa nhanh.

Còn muốn làm thay đổi kết qủa Huyết lực cần phải thời gian dài điều chỉnh lại cách ăn uống đúng., vì huyết lực thuộc âm đến từ thức ăn, trong thức ăn cũng có khí của thức ăn cũng là âm, nhờ tập khí công là khí lực dương, giúp khí âm chuyển ra huyết mới bền vững.

Chúng ta cũng không sơ bệnh tiểu đường, Chúng ta có thể làm tăng đường bằng Pepsi hay Coca, chúng ta có thể làm hạ đường nhanh bằng bài tập “Đi Cầu Thang” có kết qủa nhanh nhất.

Nguyên nhân tế bào trở thành ung thư :

Số thứ hai tâm trương thấp thì thiêu máu không nuôi đủ các tế bào trong cơ thể, tế bào bị bỏ đói trở thành tế bào ung thư, đó là nguyên nhân. Trong khi tây y chẩn đoán ngược lại xét hậu qủa nói là tế bào ung thư nếu bổ máu thì tế bào ung thư phát triển là sai lầm.

Thí dụ dân cả 1 làng thiếu gạo bị bỏ đói, tất cả mọi người đều bị đói, nhưng người nào đói nhiều thì người đó bệnh nặng hơn, tạm gọi là bệnh ung thư, đó là nguyên nhân.

Bây giờ mọi người được tiếp tế gạo, theo lý thuyết thì người bị bỏ đói nhiều nhất thì cần lấy gạo nhiều nhất, đó là lý thuyết, chứ thực ra tế bào ung thư gặp được máu thì mới khỏe để phục hồi sự sống.

Quan sát thực tế, khi gạo cứu trợ đến làng thì ngưới còn khỏe mới còn sức đi nhận gạo, còn người bệnh chỉ nằm một chỗ đâu còn sức mà nhận gạo, do đó những tế bào lành chưa bệnh gạo cứu trợ đến kịp thời họ còn đủ khỏe sẽ dành lấy trước.

Cũng như thế, cơ thể được bổ sung máu kịp thời nên tế bào chưa bệnh được máu phục hồi sức khỏe nhanh, còn tế bào ung thư dần dần được máu đến tận chỗ mới phục hồi được, làm sao nó khỏe hơn tế bào lành để đánh tế bào lành thành tế bào bệnh được.

Tế bào ung thư tây y xác nhận không do vi trùng thì làm sao lây lan, giống như người bị đói sắp chết làm sao lây cái đói cho người khác, mà thật ra nhửng người khác cũng đang bị đói do thiếu gạo cũng sắp chết, chứ không phải tế bào ung thư làm tế bào lành bị ung thư, như vậy theo đông y những bệnh ung thư theo tây y là các tế bào bị thiếu máu, thiếu khí, thiếu đường là nguyên nhân chứ không phải là hậu qủa.

Ngược lại, theo đông y cũng có bệnh gọi là ung thư được định nghĩa là ung nhọt có mủ phát sinh không phải ở ngoài da để chữa được dễ dàng mà phát sinh trong cơ thể, mới gọi là thư, nên loại ung thư này là loại ác tính, thuộc cấp tính làm con người chết dễ dàng cả đông lẫn tây y không kịp chữa, phải cắt bỏ ngay.

Cũng như thống kê trên thực tế, thử đường trên mắt cao hơn 12mmol/l người bệnh vẫn thấy mắt sáng rõ, mà những người bị mú mắt khi thử đường trên mắt đều dưới 4.0mmol/l là do thiếu đường chứ không phải dư đường.

Nên tây y nói đến hậu qủa những người bị bệnh tiểu đường bị mù mắt do uống thuốc làm hạ đường huyết qúa thấp mới bị mù. Hiện nay chưa ai làm thống kê đường trên măt xem đường cao hay đường thấp trên mắt gây ra bệnh mù mắt, nên làm mọi người tưởng lầm nếu để đường cao sẽ bị bệnh tiểu đường làm mù mắt là không đúng sự thật, mà những người bị bệnh tiểu đường cao do uống thuốc trị tiểu đường và nhịn ăn ngọt làm cơ thể thiếu đường qúa thấp mới làm mắt bị mù..

3-Thiếu máu tập khí công có tăng lượng máu hay không ?

Ở phút 11:20

Trả lời là không.

Thiếu máu thuộc huyết được chuyển hóa từ thức ăn thành máu, nếu không ăn những thức ăn tạo máu thì huyết lực không tăng, câu hỏi này giống như câu hỏi, cơ thể đói không ăn cơm chỉ tập khí công có no không ?

Thức ăn quan trọng tạo ra máu và cũng làm phá mất máu, nên phải biết chọn thức ăn nào để bổ máu khi huyết lực thiếu, hay thức ăn nào làm phá máu khi huyết lực dư thừa.

Làm sao biết được loại thức ăn nào phải nhờ đến máy đo áp huyết, để đi chợ mua thức ăn và cách chế biến, giống như chúng ta đang bào chế thuốc để chữa bệnh. Trước khi ăn phải đo áp huyết 2 tay, sau khi ăn, đo áp huyết 2 tay để kiểm chứng thức ăn hôm nay chúng ta chế biến có cải thiện được tình trạng sức khỏe không so với áp huyết trước khi ăn theo tiêu chuẩn áp huyết.

Ngược lại, nếu chúng ta không phải đi chợ mua thức ăn để chế biến, mà thức ăn được nấu sẵn dọn sẵn trên bàn. Chúng ta cũng phải đo áp huyết xem thấp hay cao, để khi ăn nên chọn thức ăn nào phù hợp mới ăn, thức ăn nào không được ăn, và sau khi ăn phải đo lại áp huyết 2 tay để kiểm chứng xem hôm nay chúng ta chọn lựa thức ăn có cải thiện được tình trạng sức khỏe của mình không.

Chọn thức ăn là chọn khí và vị mặn, ngọt, chua, cay, đắng…

Chúng ta đang học cách bảo vệ sức khỏe cho mình dựa theo tiêu chuẩn áp huyết về 3 yếu tố Tinh-Khí-Thần.

Khí là số áp huyết tâm thu Khí lực (dương).

Tinh là do ăn tạo ra số tâm trương là Huyết lực (âm)

Âm-dương hòa hợp đúng thì nhịp tim hòa hoãn, cơ thể không nóng không lạnh do đường-huyết đúng và đủ, gọi là Thần

4-Tại sao khi ăn xong mệt mỏi buồn ngủ ?

Ở phút 18:14

Ăn xong mà mệt là bao tử không làm việc, có hai trường hợp :

Vì không đo áp huyết trước và sau khi ăn, nên sau khi ăn sai, làm áp huyết tăng qúa cao hoặc xuống qúa thấp.

Nếu ăn những thức ăn làm tăng áp huyết cao qúa làm mệt ói mửa tưởng trúng gió rồi nằm ngủ một giấc ngủ ngàn thu, vì áp huyết tăng cao đã làm đứt mạch máu não.

Nếu ăn những thức ăn làm áp huyết tự nhiên tụt xuống thấp qúa làm hạ đường huyết qúa, như trong thức ăn có món xào hay hầm khổ qua, sau khi ăn thấy mệt, xuất mồ hôi, bủn rủn tay chân, không biết đo áp huyết tìm nguyên nhân để biết cách cấp cứu điều chỉnh lại áp huyết tăng lên cũng sẽ bị ngất sỉu nằm ngủ một giấc ngủ vĩnh biệt cuộc đời.

5-Tại sao ngủ không được ?

Ở phút 19:10

Ngủ không được cũng được biết trước nguyên nhân là cao áp huyết hay thấp áp huyết.

Cao áp huyết làm sung huyết não, máu lên đầu nhiều. Thấp áp huyết là trên đầu thiếu máu não.

Đó là nguyên nguyên nhân thân bệnh , còn do nhiều yếu tố khác, do uống nhiều nuớc trước khi đi ngủ đêm dậy phải đi tiểu, do ăn no qúa vào ban đêm trước khi đi ngủ, do người lạnh bời thiếu đường nhịp tim thấp, do người nóng qúa ngủ không được do đường-huyết cao qúa. Do đau nhức thực chứng bởi áp huyết cao, đường cao, do hư chứng bởi áp huyết thấp, đường thấp.

Do nguyên nhân tâm bệnh , tâm lý biến đổi theo thất tình lo, buồn, sợ, giận, vui qúa, và do sở tri kiến chấp tạo ra thói quen sai lầm như phải uống thuốc ngủ hay thuốc giảm đau, nếu không có không ngủ được, có người thích uống sâm hay kỵ uống sâm, có người thích uống Pepsi mà không thích uống Coca hay ngược lại đều là sai lầm do chấp sở tri kiến mà không được kiểm chứng bằng máy đo áp huyết theo tinh thần khoa học, và do tâm viên ý mã thần không an trú trong hiện tại…

Nếu do thân bệnh áp huyết thấp không ngủ được thì phải bổ khí huyết bằng trà gừng táo đỏ mật ong, hay trà táo đỏ nhãn nhục hay chè sâm bổ lượng

Nếu do thân bệnh áp huyết cao không ngủ được thì dùng trà hoa cúc, trà tim sen, chè đậu xanh, trà ac-ti-sô…

Hai bệnh này không uống lầm thuốc được như bệnh cao áp huyết phải dùng thức uống làm hạ thấp mà không dùng lầm thuốc làm tăng hay ngược lại làm bệnh mất ngủ nặng thêm.

Như vậy mọi người nên có hai máy đo áp huyết và máy đo đường là bác sĩ riêng giỏi nhất trong gia đình của mình để hướng dẫn mình cách ăn uống tập luyện và khám tìm nguyên nhân bệnh cho mình chính xác nhất..

6-Áp huyết số Tâm trương là Huyết lực cao phải làm sao?

Ở phút 28:20

Do ăn những chất dư thừa máu và chất béo làm huyết lực qua tim nhiều, Khí lực tâm thu trong tiêu chuẩn, đường cao trong tiêu chuẩn bụng no từ 8.0-12.0mmol/l, chỉ cần tập bó chân đi cầu thang mà không cần uống thêm đường.

Tập đi cầu thang xong để đường-huyết xuống thành 6.0mmol/l, và làm cơ thể xuất mồ hôi, tan cholesterol và làm hạ số huyết lực.

Xét áp huyết của 1 bệnh nhân : Tay trái 131/90mmHg 62 , Tay phải 141/91mmHg 62, đường 8.2mmol/l

Xem kỹ thuật bó 2 chân Chỉ một người bó chân cho bệnh nhân, để cùng một lực giống nhau cả hai chân. Bó chân xong đi cầu thang vừa đi mỗi bước vừa niệm A-Lê-Lui-A (theo Thiên chúa Gíáo) Đi xong phải thào bỏ băng quấn chân ra dể máu lưu thông bình thường.

Xét bệnh của bệnh nhân theo số đo áp huyết sau khi ăn, thì sau khi ăn áp huyết bên gan phải thấp hơn bên bao tử, nhưng trường hợp này sau khi ăn áp huyết bên gan lại cao là huyết thực trong gan, như vậy bệnh nhân đã ăn nhiều chất béo hàn là nước dừa làm dư cholesterol, tại sao biết hàn vì nhịp tim thấp 62 là hàn.

Tiếp tục ở phút 42:00

Bệnh nhân tập xong đo lại áp huyết có kết qủa :

Tay phải 130/74mmHg 81, tay trái 136/75mmHg 80

Tập xong đường lại tăng lên 10mmol/l mặc dù không uống thêm đường, chứng tỏ đường trong mỡ bụng tan vào máu làm giảm mỡ bụng, bụng mềm và nhỏ lại. Và áp huyết sau khi tập đã chuyển hóa đúng là sau khi ăn bên tay trái áp huyết bao tử phải cao, bên tay phải thuộc gan phải xuống thấp.

Bệnh nhân này số tâm trương bên gan cao là bệnh gan to, sau khi tập thì gan mềm, áp huyết bên gan xuống, bụng nhẹ mềm không bị cứng đau tức vùng gan nữa.

7-Nhìn số đo áp huyết biết bệnh gì và cách chữa ra sao, khuyên bệnh nhân phải ăn gì ?

Ở phút 38:50

Một bệnh nhân tuổi 39, sau khi ăn áp huyết tay trái : 104/69mmHg 78, tay phải 105/65mmHg 77

đường 6.2mmol/l

Áp huyết tiêu chuần theo tuổi :110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70

áp huyết tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi)

Bệnh này là bệnh gì ?

So với tiêu chuẩn tuổi là thiếu khí lực 104-105 so với 110-120mmHg

Số thứ hai là máu trong gan đủ 65, còn trong bao tử 69 là lên máu nhưng không tăng khí

Nhịp tim theo tuổi 65-70 trong khi nhịp tim bệnh nhân 77-78 là nhanh

Đường sau khi ăn phải là 8.0mmol/l trở lên mà bệnh nhân chỉ có 6.2mmol/l là thiếu đường.

Kết luận : Bệnh nhân thiếu khí. Khuyên bệnh nhân tập bài gì để tăng khí ? : Đó là bài Dâng Hoa Cúng Phật 200 lần (Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực), trước khi tập mà đường thấp phải uống gì chống mệt ? Trả lời uống Coca, tại sao, vì Coca làm tăng đường và tăng khí lực, làm tiêu chất béo.

Tạm ngưng phút 42:00 để bệnh nhân vừa tập vừa hát bài A-Di-Đà-Phật….

8-Bệnh nhân thực tập

Ở phút 45:00

Học viên thực tập chẩn đoán bệnh bằng kết qủa số đo áp huyết và đường rồi chọn bài tập tự chữa bệnh cho mình.

Thân

doducngoc

Video bài giảng 8 tại Thụy Điển

Video bài giảng 8 tại Thụy Điển

https://www.youtube.com/watch?v=1pZ7P4JI6QQ

Giải thích :

1-Định nghĩa về hư thực nhìn thấy từ hơi thở bụng.
Tập bài Nạp Khí Trung Tiêu.

Ở phút đầu

Nhìn bụng của một bệnh nhân khi thở có 3 trường hợp :

a-Khi thở chỉ thấy bụng phình cao lên là tăng dương, rồi xẹp là bệnh thực, áp huyết sẽ tăng cao

b-Khi thở chỉ thấy bụng xẹp lõm xuống là tăng âm, rồi nổi lên, áp huyết sẽ hạ thấp.

c-Khi thở, vừa thấy bụng phồng lên cao rồi lại xẹp lõm xuống thấp, gọi là quân bình âm dương thì người khỏe mạnh.

Nhiều học viên cho rằng đa số đều thở bụng phình nhiều hơn là xẹp.

Có những phụ nữ bụng mỗi ngày mỗi phình lên không phải là bệnh, vậy là gì ? Là đang có bầu.

Quan sát một bệnh nhân đang thở nằm trên giường như trong video, bệnh nhân này khi thở bụng chỉ phình lên.

Tay bệnh nhân lạnh là nhịp tim thấp, là đường thấp, áp huyết có khí lực cao, huyết lực cao.

Tay lạnh thì cần phải tăng thêm nhiệt cho cơ thể thì bàn tay phải đặt ở Đan Điền Thần tay trái cho nam, nữ đặt ngược lại, bàn tay kia đặt chồng lên trên. Đan Điền Thần giúp cơ thể nóng lên làm tiêu hóa thức ăn, vì thức ăn không tiêu.

Bệnh nhân cuốn lưỡi ngậm miệng, thở bằng mũi tự nhiện, dơ thẳng hai chân lên 45 độ lâu trong 1 phút.

Giảng thêm về cách quấn bó chân bằng băng thung quấn chân xiết chặt 10-20% cho van tĩnh mạch bị hở hẹp lại.

Chúng ta theo dõi bụng bệnh nhân khi bệnh nhân bỏ chân xuống, ngậm miệng nghỉ. Bụng bệnh nhân xẹp xuống nhiều hơn phình lên. Tập 3 lần cho bụng mềm.

2-Cách ép bụng bệnh nhân bằng hai bàn tay cho bụng xẹp khi bệnh nhân thổi hơi ra.

Ở phút 5:50

Mục đích bài này cũng giúp cho bụng bệnh nhân mềm, tiêu hóa nhanh, trong trường hợp bụng bệnh nhân qúa to không ép đầu gối vào sát bụng được, hoặc bệnh nhân lớn tuổi hay những bệnh nhân không có sức tập, hay không có thời giờ lâu để tập theo bài này.

Chúng ta dùng hai bàn tay đặt song song trên bụng, một bàn tay đặt trên bụng phía dưới rốn, bàn tay kia đặt phía trên rốn. Chờ khi bệnh nhân thở ra thì hai bàn tay mình ấn cho xẹp bụng xuống, rồi lại buông lỏng chờ bụng bệnh nhân xẹp xuống lần kế tiếp lại giúp bệnh nhận làm thoát khí trong bụng ra cho xẹp hơi, cứ tập khoảng 100-200 lần thì cảm thấy bụng nhe, mềm.

Kỹ thuật thổi hơi ra của bệnh nhân :

Chỉ há miệng thổi hơi ra dài và làm sao lấy hết hơi trong bụng thoát ra theo quy luật miệng là van, bụng là lốp xe. Tập làm sao cho van xì, lốp xẹp.

Chỉ cho hơi thoát ra chứ không cho hơi vào, như vậy bài tập này không có lúc nào được hít vào.

Nếu bệnh nhân không thở được bằng bụng mà chỉ thở bằng ngực có nghĩa là làm cho áp huyết tăng cao.

Muốn cho bệnh nhân thở bằng bụng tự nhiên mà không cho thở bằng ngực, thì dùng 3 ngón tay giữa ấn vào giữa ngực nơi huyệt Chiên Trung của bệnh nhân, (như hình vẽ trên bảng), thì tự động bệnh nhân thở bằng bụng.

Sau khi bệnh nhân tập biết cách thở ra bằng bụng thì bắt đầu tập thiền quán.

3-Ích lợi của tập thở thiền quán ở bụng, hai giai đoạn.

Ở phút 12:50

a-Thiền Quán Tức : Nằm lỏng tay lỏng vai, cuốn lưỡi ngậm miệng, thở bằng mũi tự nhiên, nhưng dùng ý theo dõi hơi thở ở bụng, thấy rằng bụng phồng lên và xẹp xuống, cứ dùng ý theo dõi nó tự phồng tự xẹp rõ ràng, đều đặn, nhẹ nhàng, không do ý bắt buộc, không do chủ động hít thở, chỉ như em bé ngủ, hay như một người ngủ say chỉ thấy bụng phồng-xẹp tự nhiên. Như vậy là đã biết quán tức là theo dõi phồng-xẹp tự nhiên ở bụng.

b-Thiền Sổ Tức : là bắt đầu đếm hơi thở mỗi khi bụng xẹp tư nhiên, Chì để ý khi bụng xẹp khi trong đầu còn tỉnh thức thì đếm thầm trong đầu là 1, rồi bụng xẹp nữa thì đếm 2, đếm tới 10, rồi lại đếm trở lại 1, rồi 2,….cho đến 9, rồi thay vì đếm 10 thì đếm nối tiếp theo tổng số là 20, rồi lại đếm 1,2,3,….đến 30, rồi lại từ 1,2,3….đến 40….cho đến 300.

Nếu chúng ta còn tỉnh thức thì đếm được đến 300 lần, nhưng tâm đã vào tĩnh lặng trong định, ý trụ lại 1 chỗ ở bụng để theo dõi chính xác phồng xẹp ở bụng xem đã đếm được bao nhiêu lần mà tâm không viên, ý không mã (tâm chạy lăng xăng như vượn, ý chạy như ngựa), tần số sóng não sẽ xuống thấp hơn tần số đang ngủ 3-4 Hertz.

Tần số thức của người đang hoạt động thì cao hơn 11 Hertz, những vị thiền sư đi vào định ngồi bất động, tần số sóng não xuống còn 2-3 Hertz, còn như chết giả sóng não xuống dưới 1 Hertz.

Nếu không còn tỉnh thức để theo dõi hơi thở, mà buồn ngủ, nhà thiền gọi là hôn trầm, sẽ rơi vào giấc ngủ say, sóng não giữ ở mức 5-6 Hertz, thì cách tập thiền này áp dụng chữa bệnh mất ngủ sẽ không cần dùng thuốc.

Nếu dùng nhiệt kế đặt dưới bàn tay, theo dõi hôi thở sẽ biết tình trạng thiền đúng hay sai :

a-Nhiệt độ bắt đầu thiền, bàn tay lạnh 35-36 độ C.

b-Thiền tập trung ý vào hơi thở , thì nhiệt kế tăng dần, cứ hai hơi thở nhiệt kế tăng đều 0,1 độ, như 36.0, 36.1, 36.2, 36.3….

c-Vẫn tiếp tục thiền nhiệt kế tăng dần 37-38 độ là thiền đúng vì ý ở đâu, khí đến đó, và khí ở đâu là huyết đi theo đến nơi đó làm tăng nhiệt đến đó, có người thiền nhiệt lên 41 độ.

d-Khi lên từ 38-41 độ tùy theo thân nhiệt tối đa trong cơ thể, rồi đứng nguyên là đang vào định, ngủ say,.

e-Khi nhiệt độ đang tăng đều cứ hai hơi thở tăng lên 0.1 độ, tự nhiên không tăng mà lại giảm là ý đã chạy ra ngoài cơ thể không còn tập trung ý vào bụng, như thân đang nằm đây mà tâm chạy đi chỗ khác, rồi tự nhiên nhiệt kế lại tăng là lúc bệnh nhân lại quay ý về bụng. Khi vào giấc ngủ không còn giữ ý tại bụng bàn tay rơi xuống buông thỏng.

4-Chữa mất ngủ bằng thở thiền :

Có nhiều người bị bệnh mất ngủ ban đêm, nhưng khi tập thiền ngồi thì lại ngủ gục, mà lúc ngủ lại thức không ngủ được vì tâm viên ý mã. Do đó những người mất ngủ nên tập thiền ở thế nằm theo dõi hơi thở như trên, nếu thền giỏi được trạng thái tỉnh thức không buồn ngủ nhưng tâm thức không bị động chỉ trụ ý một chỗ, thì một giờ thiền đó có tần số sóng não thấp hơn tần số sóng não lúc ngủ bình thường, thì 1 giờ thiền tương đương với 2 giờ ngủ. Còn không giỏi thiền, vừa nằm thiền là buồn ngủ rơi vào hôn trầm thì cũng không cần phải dùng đến thuốc ngủ.

5-Dùng thiền theo dõi khí hóa trong cơ thể để chữa bệnh :

Còn thiền chữa bệnh về khí hóa thì thay vì theo dõi hơi thở bụng, chúng ta theo dõi bụng sôi bao nhiêu lần, không ai có thể theo dõi bụng sôi 50 lần, vì mới có 20 lần trở lên đã bị hôn trầm rồi. Hay theo dõi mạch đập trong bụng bao nhiêu lần, đó là theo dõi khí chuyển động từ tim xuống bụng, hay từ gan xuống bụng, hay từ bao tử xuống bụng, hay từ bụng xuống ruột, hay theo dõi khí nóng từ rốn đi đâu, hay khí từ Mệnh Môn có nóng không, nóng chạy theo cột sống lên đầu hay chạy xuống chân, theo dõi nơi có bướu trong người nó có thở không, nó còn đau hay không, nó có động đậy không, nó nhỏ mềm dần theo hơi thở ra hay không, nó có mền hơn không, nó còn đau nhói hay không, những cái đau trong thân có giảm và biến mất không…

6-Kỹ thuật tập bài Kéo Ép Gối Thổi Ra Làm Mền Bụng 200 lần.

Ở phút 16:15

Hãy theo dõi video.

Tiếp tục ở phút 19:00

Đo áp huyết thử lại kết qủa, máy đo áp huyết bên phải nhồi 2 lần là gan nhiễm mỡ, mỡ bao quanh tim làm ra cơn đau nhói im thoáng qua. Nếu một ngày bị nhói tim nhiều lần là dấu hiệu sắp bị nhồi máu cơ tim.

Dùng cây bút có đầu nắp to thay cho ngón tay, ấn đè sâu 3-5cm vào huyệt Khí Hải dưới rốn 3 lóng tay, bệnh nhân thở tự nhiên nhưng ý tập trung vào huyệt này, dùng ý mạnh hơn nữa để ý xem khí dưới cây bút có phồng lên xẹp xuống không, khí ở bụng có nóng không, khí có chạy xuống chân không…như vậy sẽ làm áp huyết xuống thấp.

7-Nguyên nhân nhồi máu cơ tim và dấu hiệu báo trước nhồi máu cơ tim :

Dấu hiệu nhồi máu cơ tim khi thỉnh thoảng bị nhói tim như kim đâm, dao đâm thoáng qua, rồi nặng hơn như ai đấm và tim tức thở, lúc đó áp huyết đo được sẽ cao hơn 180/120mmHg, số tâm trương 120mmHg là huyết lực ứ trong tim, do mỡ trong ống mạch màng bao tim chặn nghẹt lại.

Bệnh nhân này có dấu hiệu báo trước khi huyết lực cao 103mmHg, nếu không biết cách làm hạ xuống bằng cách nhịn ăn, hay dùng thuốc thông tim điều chỉnh áp huyết làm tan cholesterol trong gsn và tim mà cứ để số huyết lực tăng dần lên 120mmHg thì sẽ bị nhồi máu cơ tim.

Bệnh nhân này, trước khi tập áp huyết tay phải 154/103mmHg 73 là áp huyết cao so với tuổi (154mmHg) mỡ trong tim (103mmHg), nhờ tập theo cây bút ấn huyệt Khí Hải, áp huyết xuống còn 144/98mmHg 72. Bệnh nhân phải tự tập lấy. Làm sao cho áp huyết xuống tiếp dưới 130/90mmHg mới an toàn :

Cách điều chỉnh Tinh-Khí-Thần :

Cách điều chỉnh Tinh :

Thay bữa ăn chiều bằng Súp Đậu Thận trắng 100g nấu với 100 tép tỏi với 2 lít nước cạn còn 1 lít, vớt vỏ tỏi ra, rồi bỏ vào máy xay sinh tố xay thành bột lỏng ăn hết trong bữa ăn chiều, dùng trong 1 tuần, áp huyết và cholesterol xuống cà 3 số.

Cuối tuần uống 5 viên Senna Laxative ( Phan Tả Diệp) để xổ độc máu trong gan làm hạ áp huyết và hạ huyết lực.

Cách điều chỉnh Khì :

Thủ đường huyết, nếu bệnh nhân cao áp huyết mà đường thấp thì uống 1 ly Pepsi, còn đường cao thì không cần uống Pepsi, rồi bó chân bằng băng thung quấn bắp chân, đi cầu thang cao 10 bậc lên xuống kể là 1 lần, đi lên xuống 30 lần, mỗi bước đi phải niệm A-Di-Đà-Phật hay A-Lê-Lui-A hay A-Mi-Ta-Bha ra tiếng làm hạ khí.

Sau khi tập xong xuất mồ hôi, đo lại áp huyết và đường sẽ xuống thấp.

Thí dụ 1 bệnh nhân có áp huyết hai tay 175/105mmHg, đường 26.0mmol/l. Không uống gì chỉ bó chân đi cầu thang 30 lần, rồi đo lại áp huyết xuống còn 132/82mmHg 80 và đường xuống còn 7.5mmol/l.

Nếu không biết ấn huyệt Khí Hải mà muốn cho áp huyết hạ thấp, thì bịt mũi hay dùng bông gòn nhét vào mũi, để mở hé miệng thở tự nhiên như em bé ngủ, thả lỏng người tự nhiên, áp huyết sẽ xuống dần.

Cách điều chỉnh Thần :

Là vừa đi vừa niệm A Di Đà Phật hay A Lê Lui A, hay A Mi Ta Bha, để nhất tâm an trú trong hiện tại, không bị tâm viên ý mã.

Đề phòng đang đi đường có dấu hiệu nhồi máu cơ tim :

Ngồi ngay xuống dựa tường, há miệng thổi mạnh 1 hơi 10 lần chậm rồi thả lỏng người nghì, rồi lại thổi 10 lần, lần thứ 2, lần thứ 3…cho đến khi cảm thấy khỏe.

8-Áp huyết cao đường thấp, cho uống Pepsi cho tăng đường và làm hạ áp huyết, tập Đi Cầu Thang

Ở phút 18:20

Đường 3.6mmol/l, ăn rồi buồn ngủ, mệt mỏi, mắt ưa nhắm là thiếu dương khí do thiếu đường, bà này hay bị sỉu, mất trí nhớ, không biết đường về nhà, mắt kém, người mập. Nhưng áp huyết cao.

Uống 1 ly Pepsi, rồi chữa mắt cho sáng mắt, cho tỉnh táo để tập Đi Cầu thang không buồn ngủ, không bị té sỉu.

9-Tại sao nhịp tim thấp phải mang máy trợ tim

Ở phút 24:55

Khi người khỏe nhịp tim 70-80. Khi cơ thể thiếu máu, thiếu khí, thiếu đường, nhịp tim thấp dưới 60, thay vì chỉ cần ăn thêm những chất bổ máu, tập khí công tăng khí, ăn thêm ngọt tăng đường-huyết, thì tây y chữa ngọn là gắn thêm máy trợ tim với nhịp đập cố định 65 nhịp, nếu tim thật đâp thấp hơn nữa dưới 55 thì tây y gắn máy với nhịp tim 60…

Khi bệnh nhân ăn thức ăn bổ máu hay uống thuốc bổ máu, tập khí công, uống Coca tăng đường tăng khí, tập đi cầu thang nhanh, áp huyết tăng lên 3 số Khí lực/Huyết lực và nhịp tim tăng lên 70, lúc đó may trợ tim ngưng hoạt động.

Làm sao đông y bắt mạch phát hiện bệnh nhân có gắn máy trợ tim ?

Máy trơ tim tây y gắm trên đỉnh phổi trái, khi bắt nhịp mạch cổ tay, bên tay trái nhịp tim có nhịp cố định không thay đổi thí dụ như 60, còn bên tay phải nhịp tim thay đổi thấp dưới nhịp cố định của máy, có nghĩa là cơ thể suy nhược nhịp tim thấp hơn từ 50-60, đó là nhịp tim thật, thay vì suy tim mệt mỏi thì được máy trợ tim co bóp bơm máu đều với nhịp 60.

Ngày nay dùng máy đo áp huyết đo ở 2 tay cũng thấy nhịp tim như vậy.

Nhưng khi uống thuốc bổ máu, ăn phở, uống Coca, tập đi cầu thang nhanh, thì áp huyết đo 2 tay lên cao cả 3 số, cả nhịp tim cũng tăng cao hơn từ 70-80, mà máy không hiện số 60 nữa, có nghĩa là khi cơ thể hoạt động làm tăng nhịp tim thì máy tự động ngưng không hoạt động.

Nếu biết tìm nguyên nhân bệnh bằng máy đo áp huyết để biết nguyên nhân thì không bao giờ cần phải gắn máy trợ tim.

Bệnh nhân hỏi tại sao nhịp tim bị thấp. Lý do tim kỵ ăn những loại mắm như mắm nêm, mắm nục, mắm thái, mắm bò hóc..mặn qúa hại thận, thận hư yếu hại gan, gan hại tim. Bệnh nhân kêu Ủa lên một tiếng. Nhà con bán các loại mắn, nên ngày nào cũng ăn mắm, như vậy hại gan bị độc làm gan hư, suy tim. Cô bệnh nhân này đã thoát khỏi đổi máy trợ tim lần thứ 2 với nhịp thấp hơn.

Muốn biết ăn đúng sai không phải hỏi thầy thuồc nào hết mà phải hỏi vị thầy giỏi nhất là máy đo áp huyết hay máy đo đường.

Trên thế gian này có nghề nào người nào biết luyện khí luyện thần giỏi nhất ?

Học viên trả lời là thiền sư.

Không phải thiền sư. Đó là người làm xiệc đi trên dây, nếu áp huyết thấp sẽ bị chóng mặt, nếu cao sẽ bị đi lảo đảo, nên áp huyết tốt trong tiêu chuẩn, thần vững không xao động, trụ tâm ý vào bước đi trên dây, không ảnh hưởng tiếng vỗ tay khen chê, huýt gió của khán giả làm động tâm mất thăng bằng khi đang biểu diễn.

10-Cách tập thổi bếp lửa làm áp huyết hạ thấp.

Ở phút 38:10

Để tờ giấy ở xa 1 cánh tay, há miệng thổi hơi dài mạnh vào tờ giấy thấy lay động, khi hết hơi thì thả lỏng nghỉ, thổi 1 hơi 20-30 lần từ hơi này đến hơi kia, tự nhiên thấy chóng mặt là áp huyết xuống cả 2 số tâm thu và tâm trương, còn thổi nhanh như 20 hơi trong 1 phút thì nhịp tim nhanh, thồi 10 hơi 1 phút thì nhịp tim chậm hơn.

Có thể thay cách thổi bếp lửa bằng niệm A-Di-Đà-Phật hay A-Lê-Lui-A , niệm ra tiếng nhỏ nhanh đều làm sao cho đủ 8 câu 1 hơi thở, không hụt hơi, không dư hơi, niệm suốt ngày mà không mệt là đúng thì áp huyết lúc nào cũng nằm trong tiêu chuẩn tuổi.

Đây là cách luyện thở khi đi đứng nằm ngồi bất cứ lúc nào thì khí hòa hoãn, tâm an, sẽ hết mọi bệnh tật như cổ nhân đã nói :

Ngoài thân sáu cửa đà kiên cố
Trong dạ bẩy tình đã trống không
Tâm-tức diều hòa tiêu vạn bệnh
Dữ lành chẳng biết, ấy huyền công.

Bệnh nhân là 2 vợ chồng, đang đua nhau tập thổi xem ai tập làm hạ áp huyết nhanh.

Thân

doducngoc

Video bài giảng 7 tại Thụy Điển

Video bài giảng 7 tại Thụy Điển

https://www.youtube.com/watch?v=4riqjgp7gT0

Giải thích :

1-Kỹ thuật chữa bệnh mờ mắt, mù mắt.

Ở phút đầu

Căn bản có 7 huyệt để điều chỉnh thị lực mắt ( xem hình vẽ trên bảng):

Huyệt số 1 : Toản Trúc nơi đầu lông mày

Huyệt số 2 : Ngư Yêu nơi giữa lông mày thẳng con ngươi lên.

Hai huyệt này phải châm nặn máu để thử đường trên mắt nếu nằm trong tiêu chuẩn từ 6.0-8.0mmol/l dù lúc no hay lúc đói, thì mắt không có bệnh, thị lực tốt.

Nếu đường-huyết ở hai huyệt này trên 8.0mmol/l là mắt mờ, càng dưới 6.0mmol/l là mắt càng mù dần, đến 2.0-3.0mmol/l là mù.

Còn 5 huyết sau không được châm nặn máu, nếu châm trúng vào tĩnh mạch sẽ vỡ tiểu cầu làm sưng bầm mắt., nếu không châm thì không nguy hiểm gì:

Huyệt số 3 : Ty Trúc Không cuối lông mày.

Huyệt số 4 : Cầu Hậu, nằm trên xương hốc mắt dưới bên ngoài điểm giữa con ngươi và khóe mắt ngoài.

Huyệt số 5 : Thái Dương nơi chỗ lõm phía ngoài đuôi mắt.

Huyệt số 6 : Dương Bạch là điểm giữa từ Ngư Yêu lên chân tóc trán.(Dương Bạch nó cũng có nghiã là sáng như ban ngày.)

Khi châm nặn máu 2 huyệt 1,2. thì tất cả 6 huyệt đều phải day theo thứ tự như sau :

Số 1 bên phải, rồi bên trái

Số 2 bên phải rồi bên trái,

Số 3 bên phải rồi bên trái

Số 4 bên phải rồi bên trái

Số 5 bên phải rồi bên trái

Số 6 bên phải rồi bên trái

Dùng ngón tay cái ấn đúng ngay vào huyệt với 1 lực vừa không yếu qúa, không mạnh qúa, theo vòng tròn nhỏ thuận theo chiều kim đồng hồ 18 lần, huyệt nào đau là nơi đó bị tắc khí huyết không thông vào nuôi mắt, có khi day huyệt đau làm chảy nước mắt là tốt.

6 huyệt này giống như bóng đèn cũ, khi day 6 huyệt này là đã thay 6 bóng đèn mới.

Huyệt thứ 7 sau đầu nằm trên Mạch Đốc đường giữa đầu trên giao điểm với đường thẳng ngang hai đỉnh tai, day huyệt này 18 lần mạnh giống như thay pile mới mạnh hơn.

Sau khi day xong 7 huyệt, chúng ta sẽ thấy mắt sáng từ từ và nhìn rõ nét hơn.

Quan sát kỹ những thao tác châm nặn máu và day huyệt trên bệnh nhân mẫu :

Bút châm thử tiểu đường để số 2 châm nông thì khi châm không bị đau.

Tiêu chuẩn đường sau khi ăn đường-huyết có thể lên đến 12.0mmol/l là bình thường. Nhưng mắt phải điều tiết lúc no cũng như đói, nó chỉ cần giữ trong tiêu chuẩn 6.0-8.0mmol/l thì mắt tốt.

Châm và thử đường huyệt số 1 bên phải 10.5mmol/l, bên trái 10.9mmol/l

Châm và thử đường huyệt số 2 bên phải 11.2 mmol/l, bên trái 10.9mmo/l

Xem kỹ thuật ấn day 7 huyệt theo hình vẽ trên bảng.

Đúng ra, khi bệnh nhân có đường-huyết cao thì bệnh nhân phải tập bài “Đi cầu thang” trước, cho đường huyết xuống, rồi day huyệt chữa mắt thì mới có kết qủa nhiều hơn.

Học viên thực tập chữa mắt cho nhau.

2-Kỹ thuật chữa tai ù, điếc, lãng tai…

Ở phút 12:25

Lỗ tai mình ví như cánh cửa buồng. Nếu cửa buồng đóng mình ở bên trong sẽ không nghe được tiếng người nói chuyện bên ngoài, nếu cửa buồng mở ra ít thì nghe tiếng nói bên ngoài được, nhưng không rõ, nếu cánh cửa buồng mở rộng lớn tối đa thì sẽ nghe rõ ràng hơn.

Lỗ tai mình ví như cửa buồng, khi dùng hai ngón tay trỏ nhét vào hai lỗ tai của một người để khám xem tai nào điếc hay nghe không rõ, thì chính họ có lỗ tai bên hẹp, bên rộng, bên hẹp là bên bệnh nghe không rõ. Tại sao vậy, đông y thường nói : Thận hư thì tai điếc.

Như vậy đông y đã phát hiện ra chứng bệnh tai điếc do thận khí của một bên thận bệnh không đủ khi xông lên tai để mở rộng lỗ tai, nên cửa buồng là lỗ tai hẹp lại.

Cách chữa ngọn là thông rộng lỗ tai, cách chữa gốc là bổ thận và tập khí công bài “Kéo Ép Gối Thổi Hơi Ra Làm Mền Bụng 200-600 lần sau khi ăn 30 phút, và tập thêm bài “Đứng Tấn Nạp Khí ngũ hành” 1-5 phút, giúp thận khí thông lên tai.

Kỹ thuật chữa ngọn :

a-Dùng hai ngón tay trỏ của mình đút vào lỗ tai, ngoáy lỗ tai đang hẹp lại trở thành to tròn rộng ra. Ngoáy lỗ tay quay tròn móc ngón tay lên, mình có cảm tưởng ban đầu lỗ tai bên hẹp có hình bầu dục hay hình thoi hay hình chữ nhật đứng, khi cho ngón tay xoay ngang cho rộng chiều ngang móc lên cho lỗ tai thành hình tròn và rộng to ra thì đúng.

b-Dùng ngón tay cái của mình đặt vào huyệt Thính Cung trước cạnh tai bệnh nhân, rồi bảo bệnh nhân há miệng ra, tự nhiên sẽ cảm thấy có chỗ lõm vào dưới ngón tay cái của mình. Như vậy khi ngậm miệng thì huyệt Thính Cung đóng lại, khi bệnh nhân mở miệng ra huyệt Thính Cung mở ra, nơi huyệt này sát ngay màng nhĩ là màng trống, chúng ta dùng ngón tay giữa của tay kia búng vào ngón tay cái của mình, nó sẽ tạo tiếng vang bục bục đánh vào màng trống trong tai bệnh nhân khiến bệnh nhân giựt mình, là bệnh nhân đã nghe rõ, búng 10 lần, bảo bệnh nhân khi nghe tiếng động trong tai lúc búng kêu bục bục, là thính lực bệnh nhân đã được phục hồi.

Có thể làm lại nhiều lần.

c-Duy trì thính lực bệnh nhân phải tập luyện như sau :

Tánh nghe của mọi người vẫn có không mất, nó mất không nghe được do thận khí hư, hay bị tắc do vật cản màng trống, hay do tiếng nói có tần số âm thanh lớn hơn tần số mà khả năng tai chỉ có thể nghe được tần số âm thanh thấp. Do đó người bị điếc phải dùng máy nghe khuyếch đại âm thanh mới nghe được. Mà thận khí tai càng yếu lại không nghe rõ, lại cần phải máy khuyếch đại lớn hơn, như vậy là thận vẫn không được chữa để phục hồi chức năng thận khí.

Khí phục hồi chức năng thận khí mạnh thì tai có thể nghe được những âm thanh nhỏ, tần số thấp.

Đó là nguyên tắc chữa tai điếc là phải phục hồi thận khí theo 3 yếu tố Tinh-Khí-Thần.

Điều chỉnh Tinh :

Điều chỉnh thức ăn thuốc uống: Không nên uống nhiều nước làm thận dư nước không chuyển hóa kịp làm thận ứ nước làm mất thận khí lên tai, khi thận ứ nước làn thận nở to gây ra bệnh đau mỏi lưng. Đó là lý do tại sao không được uống nhiều nước theo phương pháp của tây y, mà cần phải làm cho nước bốc hơi thành khí bằng cách dùng Phụ Tử Lý Trung Hoàn hay ăn Thận hấp tiêu.

Tối truớc khi đi ngủ ngậm 10 viên Phụ Tử Lý Trung Hoàn làm ấm thận chuyển nước trong thận thành khí, thận hết sưng, không bị đi tiểu đêm, không bị ù tai, ve kêu trong tai.

Mua trái thận heo, bổ đôi mở ra, lóc màng gân mỡ trắng bên trong, rửa sạch, cho 50 hột tiêu đen rồi úp thận lại, bỏ vào trong chén, hấp trong nồi cơm, khi cơm chín là thận chín. Lấy ra 40 hột tiêu phơi khô, còn 10 hột ăn chung với thận chấm muối cho hết. Sau dó 4 tối, mỗi tối uống 10 viên thuốc tiêu đã phơi khô, đó là thuốc bổ thân để chữa đau lưng, thận hư, tai điếc, tiểu đêm.

Điều chỉnh Khí :

Tự mình có thể ngoáy rộng lỗ tai, xong dùng hai ngón tay trỏ bịt nhẹ lỗ tai lại, rồi tập khí công, niệm A Di Đà Phật hay A Lê Lui A, ( người ngoại quốc thì niệm A-mi-ta-bha) nhỏ tiếng cho tai mình nghe, mà người ngồi bên cạnh không nghe, chúng ta sẽ thấy tai nghe rất rõ như nghe tiếng nói trong một hang động, nếu chúng ta càng nói lớn hét ra tiếng thì tai nghe lại càng nhỏ như tiếng vọng rất xa bên ngoài tai, còn càng nhỏ tiếng lại càng nghe rõ ở trong tai, khi càng nhỏ tiếng càng nghe rõ, thì khi buông hai tay không bịt tai thì tiếng nói bên ngoài dù nhỏ đến đâu cũng nghe rõ, sẽ không cần phải dùng máy khuyếch đại âm thanh cho tai.

Điều chỉnh Thần :

Khi niệm A Di Đà Phật hay A Lê Lui A hay A-mi-ta-bha là cũng đang luyện thần tin vào một đức tin tôn giáo.

Học viên thực tập.

3-Chữa đau đầu gối, lưng.

Ở phút 22:20

Nguyên nhân đau đầu gối :

a-Thiếu chất nhờn, khô khớp gối, thiếu máu, thiếu đường.

b-Do uống nước nhiều làm đầu gối ứ nước trong đầu gối, bác sĩ thường rút nước đầu gối, nhưng nó lại có nước lại.

c-Do va chạm chấn thương gân xương, bong gân, sưng gối

Cách chữa :

a-Nằm úp, xếp chân hình con ếch để khi gập gót chân bệnh nhân vào mông sẽ không bị trật bong gân đầu gối, rồi day lắc lưng mông cho thông khí huyết vào gối.

b-Móc ép háng dựt lên, bên chân gối bị đau và lắc gối cho gót chân chạm được vào mông.

c-Day đau 2 ngón chân thứ 4,5 trong khi đang ép gót chân vào mông.

d-Bệnh nhân ngồi trên giường duỗi thẳng chân đau ra phía trước, kê gót chân cao 10cm để cho đầu gổi cao hơn mặt giường 10cm, rồi người chữa dùng hai bàn tay ấn đè đầu gối bệnh nhân nhúng lên nhúng xuống đụng sát mặt giường cho giãn gân thần kinh và xương đầu gối.

e-Bệnh nhân tập bài Kéo Ép Gối Thổi Ra Lảm Mền Bụng được mà không đau là khỏi bệnh.

Thực tập trên bệnh nhân. Xem kỹ thuật ép gối. Phát hiện ra bệnh nhân làm mẫu này không phải bệnh đau đầu gối do sưng tắc nghẽn khí huyết mà do thiếu khí huyết xuống gối.

Trường hợp này là chân không có khí lực huyết lực lại chữa cách khác, là ép gối chêm bàn chân của mình vào, ép gối bệnh nhân cảm thấy đau mà biết tự động phản xạ là bệnh nhân phải dồn khí huyết xuống gối để chống đau. Bệnh nhân cũng không có phản xạ.

Nguyên nhân bệnh của bệnh nhân này do thiếu đường nuôi thần kinh. Chà lòng bàn chân cho đau mà bệnh nhân cũng không cảm nhận giao cảm nên không có phản xạ do thiếu máu thiếu đường.

Thử châm vào huyệt nơi góc móng chân xem bệnh nhân có phản xạ giựt lại hay không, cũng không có phản xạ, thì bệnh nhân thuộc bệnh liệt kháng.

Như vậy bệnh đau đầu gối này do nguyên nhân áp huyết thấp, thiếu máu, thiếu khí, thiếu đường thì dù có tập khí công, đi châm cứu, nắn xương, uống thuốc, đều vô ích tốn tiền mà không có kết qủa, nếu không chữa gốc là bổ máu, bổ khí, bổ đường làm tăng 3 con số của áp huyết lọt vào tiêu chuẩn tuổi của đông y khí công mới khỏi bệnh : Khi lực/Huyết lực/Đường.

3-Bệnh Sida là gì, làm sao phát hiện bệnh Sida ?

Cảnh báo nguyên nhân liệt kháng do uống thuốc giảm đau liều cao làm mất sức đề kháng thành bệnh liệt kháng, thử không có virus HIV.

Ở phút 36:10

Tên Việt Nam bệnh Sida gọi là bệnh liệt kháng, có nghĩa là sức đề kháng bệnh nhân không có.

Hệ thần kinh con người có hai chức năng giao cảm và phản xạ.

Khi day bấm huyệt, hay châm nặn máu, hay hơ cứu, bệnh nhân không có cảm giác đau, nóng… là bệnh nhân thiếu đường trong máu do uống thuốc làm hạ đường-huyết khiến đau nhức thần kinh gân cơ toàn thân bên trong, nhưng đụng gây đau từ bên ngoài tác động vào da thì không biết đau. Nhưng sau khi cho uống đủ đường nuôi thần kinh, thì thần kinh dẫn truyền cảm giác đau lên não nhận biết đau thì tức khắc thần kinh phản xạ tạo ra sự chống đối giựt tay chân lại không cho bị đau là hệ thần kinh còn tốt.

Trường hợp liệt kháng là mất sức phản xạ, sức đề kháng chống lại hay tránh né, chỉ có thần kinh giao cảm còn hoạt động tốt.

Thí dụ châm đau bệnh nhân kêu đau, hay hơ cứu nóng bệnh nhân kêu la nóng, nhưng không có dẫy dụa tránh né giựt tay chân ra để khỏi đau, chỉ kêu lên đau qúa bỏ ra, nóng qúa bỏ ra, mặc dù đối với người khác thì cái đau cái nóng vẫn còn an toàn khoảng 30 độ C, mình dặn bệnh nhân khi cảm thấy đau hay nóng thì không cần phải nói đau bỏ ra, hay nóng qúa bỏ ra, mà phải tự mình tránh ra, rút tay rút chân giựt ra, nhưng bệnh nhân trả lời “Không có sức”, chứng tỏ bệnh nhân đã bị bệnh liệt kháng.

Tôi đã chữa 1 bệnh nhân người ngoại quốc như thế, bệnh nhân khai thật: Tôi bị bệnh Sida.

Chỉ cần cho họ uống bổ máu, bổ đường, tập bơi lội, tập khí công, 6 tháng sau cơ thể có sức đề kháng mạnh, có sự phản xạ nhanh mạnh tức thời, nhanh nhẹn.

Bây giờ thử bệnh nhân mẫu này, châm đau không có sức đề kháng.

Tập bài Nạp Khí Trung Tiêu, cũng không có sức để tập. Thử tập bài Đứng Tấn Nạp Khí Ngũ Hành làm tăng sức đề kháng mà bệnh nhân cũng không có sức phải ngồi bệt xuống đất không có sức đứng lên.

Bệnh nhân này khai do uống nhiều thuốc giảm đau (thuốc mạnh hơn morphine) chữa ngọn bệnh chỉ làm liệt chức năng thần kinh cho không biết đau, mà không chữa vào nguyên nhân gốc tại sao đau, phải uống thuốc giảm đau nhiều năm, làm chết dần hệ thần kinh giao cảm và phản xạ, chức năng tạng phủ yếu dần không hấp thụ chuyển hóa thức ăn thành chất bổ máu, không đủ đường-huyết gây đau, hệ thần kinh suy yếu dần, thấp dần, sẽ mất sức đề kháng thành bệnh liệt kháng.

4-Đau đầu gối và thần kinh tọa

Ở phút 46:25

Cũng áp dụng bài chữa đầu gối như trên, nhưng để ý khi nằm để chân hình con ếch ép đầu gối vào mông thì bệnh nhân vừa đau đầu gối không ép gót chân vào mông được vừa bị chổng mông cao lên là có bệnh thần kinh tọa, bên nào ép gót chân vào mông mà mông không bị chổng lên là bên chân đó không bị bệnh thần kinh tọa.

Xem kỹ thuật chữa trên video.

Khi ép chân bên này sẽ có phản xạ chân bên kia là tốt

Khi ép gối thì bệnh nhân thổi hơi ra theo có hai công dụng vừa giảm đau vừa làm thư giãn gân cơ thần kinh mềm ra gót chân khi ấn vào mông sẽ không đau.

Ngồi đè bắp chân trong của bệnh nhân rồi cào lòng bàn chân bệnh nhân cảm thấy đau thì khí xuống chân thay vì khí chạy xuống đầu gối, nhưng vì mình ngồi giữ không cho đầu gối nhúc nhích thì khí phải chạy thẳng xuống bàn chân, có nghĩa là khí đã chạy mạnh thông qua khớp gối để chạy xuống chống đau nơi gan bàn chân đang bị cào đau, thế là khí huyết đã thông.

Bệnh nhân tiếp tục tập bài Kéo Ép Gối, bệnh nhân cho biết hết đau.

Một bệnh nhân khác cũng khai đau đầu gối, nhưng khi ép gót chân vào mông không đau thì không phải là bệnh đau đầu gối mà do cơ thể thiếu máu, thiếu đường.

Còn nếu nghi ngờ bệnh nhân liệt kháng thì thử bấm đau ngón chân bên này mà chân bên kia không nhúc nhích là do uống thuốc giảm đau làm làm cơ thể mất sức đề kháng.

Bệnh nhân này khi bấm đau chân kia, chân này phản ứng co giật là không có bệnh liệt kháng, đau chỉ do nguyên nhân thiếu máu thiếu đường áp huyết thấp vì tây y không có tiêu chuẩn áp huyết theo tuổi và do nguyên nhân hiện nay tây y hạ thấp tiêu chuẩn đường xuống thấp qúa gây ra bệnh thời đại đau nhức thần kinh gân cơ, loãng xương, mắt mù, chóng mặt hoa mắt, mất tri nhớ, hay mệt, xuất mồ hôi, ưa buồn ngủ, ăn không tiêu ợ hơi, đau bao tử, hư đường ruột, bón giả, không có năng lượng sức lực làm việc….là những nguyên nhân dẫn đến nhiều bệnh nan y hay bệnh ung thư.

Có thể vài chục năm sau tây y mới thống kê hậu qủa của nhiều bệnh gây ra do thiếu đường vì tiêu chuẩn hạ đường-huyết qúa thấp.

Thân

doducngoc

Video bài giảng 6 tại Thụy Điển

Video bài giảng 6 tại Thụy Điển

https://www.youtube.com/watch?v=p_b-FrP7jv8

Giải thích :

1-Nhìn khuôn mặt biết qủa tim bị bệnh hở van tim hay hẹp van tim:

Ở phút đầu

Nếu không nhìn mắt mũi tai miệng, thì hình dáng khuôn mặt phản ảnh hình dáng qủa tim to nhỏ tròn méo cũng giống như khuôn mặt, hai bên má bên nào hóp vào là hẹp van tim, bên nào phình ra là hở van tim.

Nhìm mặt một bệnh nhân đang ngồi trước ống kính, có một bên má hóp là bên tim đó bị hẹp, đó là bệnh tim. Bênh nhân thú nhận đang uống thuốc trị tim.

2-Đầu lưỡi cho biết tình trạng bệnh tim nhiệt hay hàn.

Lưỡi mầu hồng là tốt không bệnh, đầu lưỡi đỏ là tim bị nhiệt, do uống qúa nhiều thuốc, nguyên cả lưỡi đỏ, mầu đỏ thuộc tim, khuôn mặt má bên phải bình thường, bên trái lõm vào.

Lưỡi màu trắng nhạt là hàn tim thiếu hỏa.

Tập nhìn lưỡi mọi người để biết bệnh :

Lưỡi khô là bao tử ăn thức ăn khô qúa,

Lưỡi ướt vừa vừa hơi hông là bao tử tốt, ăn tiêu hóa tốt.

Lưỡi ướt và trắng qúa là bao tử hàn. Khi cảm lạnh lưỡi trắng ướt

3-Cách nhìn lưỡi biết bệnh trong tạng phủ.

Giải thích thêm :

a-Đầu lưỡi và mặt lưỡi trắng nhạt ướt là bao tử hàn.

b-Mặt lưỡi có rêu trắng dầy khô là bao tử nhiệt.

c-Đầu lưỡi đỏ bầm là tâm hư nhiệt.

d-Đầu lưỡi trắng là tâm hư hàn .

e-Cả mặt lưỡi đỏ bầm khô là tâm thực nhiệt .

f-Giữa lưỡi rách, rêu lưỡi vàng khô, dầy là tâm vị thực nhiệt.

f-Cả lưỡi trắng ướt dầy to là phế vị thực hàn.

g-Da mặt lưỡi mỏng hồng là phổi tốt.

h-Cạnh lưỡi có gai là bệnh gan thực chứng. Gan nóng sẽ bị lở cạnh lưỡi.

i-Mặt lưỡi có những nốt chấm tụ máu là bệnh tâm can thực nhiệt.

k-Lưỡi co rút. Bệnh nhiệt hỏa thiêu cân

l-Rêu lưỡi trắng trơn, hoạt, nhuận, đầu lưỡi nở to thuộc chứng lý thực hàn. (bệnh lâu ngày)

m-Rêu lưỡi trắng nhạt, dầy, trơn, ướt là bệnh thuộc chứng biểu hàn. (bệnh mới phát)

n-Rêu trắng mỏng ướt, bệnh thuộc biểu chứng.

o-Rêu lưỡi vàng hoặc nám đen bệnh thuộc chứng nhiệt .

p-Đầu lưỡi sậm rêu thô vàng hoặc đen khô, có vết nứt. Bệnh thuộc lý chứng hư nhiệt

q-Gốc lưỡi sâu bên trong sưng đỏ là bệnh thận thủy hư .

r-Hai cạnh lưỡi hình răng cưa có gai, mầu đỏ bầm đen. Bệnh gan bị tổn thương thực thể như, chai gan, viêm gan.

Ăn thức ăn nào tốt, cần phải biết số đo áp huyết mới biết hàn nhiệt hư thực bên bao tử và bên gan.

Lưỡi thâm đen do đỏ bầm, là mầu của thận, lưỡi khô không có nước là thận khô nhiệt, trán là bộ vị bao tử, nên sờ trán nóng nhiệt.

Nhắc lại bài :

Tai thuộc thận, Cằm là bàng quang, nếu có mụn đỏ trên cằm là bàng quang nhiệt, tiểu nóng

4-Nhìn mũi biết bệnh.

Ở phút 4:12

Là tim nhiệt áp huyết rất cao. Nếu đầu mũi trắng là tim suy, hư hàn không có hỏa, thì bao tử ăn cũng không tiêu vì bao tử cũng sẽ bị hàn.

Nhìm mặt khám bệnh thì mặt da chỗ nào cũng hồng hào, da sáng hơi bóng. Nhưng tự nhiên có hiện mầu khác với hồng hào thì nơi bộ vị đó có bệnh, tùy theo bộ vị thuộc tạng phủ nào, và tùy theo mầu sắc như mầu đen thuộc thận trắng thuộc phổi, vàng thuộc tỳ vị, xanh thuộc gan, đỏ thuộc tim, xâm phạm vào vùng của tạng phủ nào.

Thí dụ đầu mũi là tim thay vì khỏe thì mầu hồng như các nơi khác trên mặt, nhưng lại qúa đỏ là tim nhiệt, hay lại trắng là tim hàn, hay lại có mầu hơi xanh là gan hư truyền bệnh cho tim cũng hư, hay đầu mũi đen là thận truyền bệnh lên tim…

a-Mũi sưng. Dấu hiệu do nhiễm trùng, viêm xoang

b-Cánh mũi phập phồng. Dấu hiệu phế nhiễm cảm

c-Chân mũi lở nứt đỏ. Dấu hiệu tim bị thấp nhiệt

d-Sống mũi lệch. Dấu hiệu vách ngăn mũi bị lệch, bệnh polype (buới thịt)

5-Chức năng ngũ tạng nuôi bộ phận nào trong cơ thể.

Ở phút thứ 5:35

Chức năng ngũ tạng nuôi gì :

Tim nuôi mạch máu, tế bào, cơ tim, khí của tim khai khiếu đầu lưỡi, mầu qúa đỏ là tim nhiệt, đầu lưỡi trắng qúa là tim hàn. Tim tạo dịch chất mồ hôi. Tim tàng thần tạo ra khí sắc hồng hào khỏe mạnh.

Tỳ, khí khai khiếu ra môi, ăn ngon hay dở là nhìn môi có đỏ hồng, hay trắng nhạt là không muốn ăn, hay bệnh hoạn thâm đen do thận dư nước. Tỳ nuôi bắp thịt, sinh thịt. Tỳ sinh dịch chất là nước dãi. Tỳ tàng ý.

Giải thích thêm :

a-Môi tự nhiên sưng dầy lên. Bệnh tỳ nhiệt.

b-Môi trắng nhợt hoặc xanh tím. Bệnh thuộc hàn chứng

c-Môi khô nứt sưng đỏ. Bệnh thuộc nhiệt chứng

d-Môi đỏ bầm tối. Dấu hiệu ứ tắc huyết.

e-Môi bị thâm đen vĩnh viễn. Dấu hiệu thận bị ngộ độc do truyền qúa nhiều nước biển, hoặc ở người nghiện hút ma túy, thuốc phiện.

f-Tự nhiên môi mép bên cao bên thấp. Dấu hiệu dây chằng tử cung bị co rút

g-Rãnh cười quanh môi mũi không đều. Dấu hiệu sắp bị trúng phong liệt mặt méo miệng

h-Quanh môi trên trắng xanh. Dấu hiệu bệnh tiêu chảy, bụng lạnh

i-Môi và chung quanh môi trắng xanh. Dấu hiệu ung thư đường ruột

k-Nhân trung lệch. Dấu hiệu lệch tử cung

l-Nhân trung dài hoặc ngắn. Dấu hiệu để biết chiều dài hoặc độ sâu của cơ quan sinh dục

Phổi, khí khai khiếu ở mũi. Phổi nuôi da và lông tay chân. Da xấu là phổi hư. Phổi ra dịch chất nước mũi. Phế tàng Phách điều khiển phổi thở.

Thận khí khai khiếu ở tai. (Thận hư thì tai điếc). Thận nuôi răng, xương, râu, tóc, tủy, xương, Thận sinh dịch chất nước bọt. Thận tàng ý chí, và trí khôn.

Gan khí khai khiếu ở mắt, nuôi gân, móng, sụn, thần kinh…Gan sinh dịch chất nước mắt. Gan tàng hồn.

Da mặt hơi mầu xanh là dấu hiệu đau đớn trong cơ thể, mầu trắng không tươi nhuận không có thần sắc là cơ thể bạc nhược thiếu máu, vàng xanh là bệnh viêm gan……

Giữa thể phách điều khiển chức năng phổi và thể hồn điều khiển chức năng gan, còn thể vía, chỉ huy sự cử động mà điểm kich thích thể vía là huyệt Đại Chùy.

6-Cách cấp cứu hôn mê của đông y khí công :

Ở phút 17:00

Quan sát một người bị tai biến mạch máu não, có những trường hợp sau để biết bệnh nặng hay nhẹ là xem bệnh nhân còn bao nhiêu thể : theo thứ tự là thể xác, thể phách, thể hồn, thể thần, thể vía, thể ý, thể trí.

Người nằm bất động không còn thở là ngũ tạng chết, tim không đập, phổi không thở, là thể xác.

Khi tim không đập, tây y cấp cứu dùng máy xung điện mạnh đè vào ngực kích động cho tim đập bằng điện 3 lần, lần thứ ba mà tim bệnh nhân không đập là hồn lìa khỏi xác, là mất thể hồn, nếu còn thể hồn là còn sự sống.

Đông y khí công cấp cứu ưu tiên chữa thần kinh bộ não trước là phải duy trì oxy cho não làm việc, dùng ngón tay trỏ đè nhẹ vào huyệt Nhân Trung bệnh nhân, kế đến là ấn huyệt Nội Quan tay trái bệnh nhân để làm ổn định áp huyết và day bấm mạnh 2 đầu góc móng ngón tay út bên trái làm cho tim bất thình lình đập mạnh trở lại phục hồi thể thần, là cách làm cho thể Phách hoạt động điều hòa hơi thở duy trì sự sống.

Như vậy bệnh nhân đã sống được thể phách, nhưng chưa qua được cơn nguy hiểm, vì vẫn nằm bất động.

Cần phải thử xem phản xạ biết đau hay không, phải day đau 2 đầu ngón chân cái của bệnh nhân thuộc gan, gan khai khiếu ra mắt làm cho mở mắt, là cửa sổ của linh hồn.

Nếu day đau mạnh hơn nữa, hồn chỉ huy gan hoạt động nhận giao cảm thần kinh tự động phản xạ chân tay cử động là thể vía được phục hồi.

Day 5 đầu ngón tay, và 5 đầu ngón chân, kích thích thần kinh phản xạ làm chức năng gan mạnh cung cấp năng lượng cho tim hoạt động mạnh hơn, tỉnh hơn, tim tàng thần, sẽ làm cho thần sắc bệnh nhân hồng hào tỉnh táo, là đã phục hồi được thể thần, như vậy mắt mở ra chỉ là thể vía cử động nhắm mở, còn mắt nhìn có thần, có hiểu biết nhận ra người này người kia thì thể thần thể hồn mới phục hồi.

Khi một bào thai sinh ra, thì thể phách vào thân xác trước, thể hồn vào sau. Khi con người chết đi thì thể hồn lìa khỏi xác truóc, thể phách đi sau.

7-Bệnh nhân khai bệnh biết bệnh thuộc tạng nào.

Ở phút 20:25

Dựa vào chức năng ngũ tạng nuôi bộ phận nào, chúng ta sẽ biết bệnh nhân khai bệnh thuộc tạng phủ nào.

Thí du, dấu hiệu bệnh ở móng tay, là bệnh thuộc gan, vì gan chủ gân, móng, sụn, thần kinh. Như đau rút gân, thần kinh tọa….cũng thuộc gan.

Đau xương thuộc về thận, mất trí nhớ cũng thuộc thận. Uống nhiều nước mà thận hư không lọc để biến thành thận khí lên đầu, cũng làm mất trí nhớ.

8-Uống nhiều nước qúa cũng mất trí nhớ

Ở phút 20:50

Mình theo tây y nói mỗi ngày phải uống 2 lít nước, thì người Việt mình áp dụng sai nên trong người thành 4 lít lại dư thừa. Vì người Tây phương ăn bánh mì và thức ăn khô, nên bắt buộc ít nhất phải uống 2 lít nước/ngày để thận lọc. Còn chúng ta ăn cơm, trong cơm có nhiều nuóc, ăn canh có nhiều nước, sau khi ăn, uống nước trà, giả sử nhà mình không nấu bếp, mỗi ngày ra tiệm ăn phở rồi uống nước trà tráng miệng…. tổng cộng cũng đã có hơn 2 lít trong cơ thể sau 2 bữa ăn, nếu chúng ta đem theo kè kè chai nước uống thêm giống như người tây phương, thì cơ thể chúng ta bị dư thừa 2 lít nên chức năng thận phải làm việc gấp đôi, tuổi thọ của thận sẽ giảm một nửa…do đó tại sao những ngươi VN theo tây y dặn và ngay cả những người tây bị suy thận nên phải lọc thận…

2 lít nước/ngày là tính tổng cộng các loại thức ăn, nước uống trong ngày, như cà phê, nước trà, cơm, phở, trái cây, nước uống thuốc…

Riêng 80% trọng lượng cơ thể là nước, máu và thức ăn, đều phải đi qua thận để lọc những chất xấu thành chất tốt, thì thận mỗi giờ đã phải lọc 6 lít ra vào thận, chức năng lọc của thận đều đặn như vậy mỗi ngày 24 giờ đã lọc 144 lít dung dịch, tổng cộng khả năng thận phải lọc tối đa 5256000 lít trong cả cuộc đời con người sống được 100 năm, nếu chúng ta uống thêm nhiều nước thì khả năng lọc của thận chỉ lọc đến nửa cuộc đời là hết, đó là lý do tại sao những người uống nhiều nước không thấy hậu qủa sẽ phải bị lọc thận nhân tạo khi lớn tuổi.

Còn tuổi trẻ mà bị rụng tóc hay người lớn tuổi khả năng làm việc của thận yếu dần, nên không nuôi tóc.

9-Nhìn mắt biết bệnh của tạng nào bệnh.

Ở phút 24:20

Mắt thuộc can khí, điều chỉnh lượng máu lượng đường đù làm mắt sáng, nó cũng điều chỉnh khí của 5 tạng vào mắt, nên con ngươi điều tiết lớn nhỏ là do thận khí điều chỉnh thị lực, nên con ngươi thuộc thận.

Tròng đen điều chỉnh gai thị, các dây thần kinh mắt, tuyến nước mắt, nên tròng đen thuộc gan.

Tròng trắng thuộc chức năng phổi, phổi tốt thì tròng trắng trong sáng không bị đục.

Hai khóe trong mắt hơi đò là tâm hỏa khí điều chỉnh nhiệt độ cho mắt, điều hòa dịch chất trong mắt.

Dưới hai mí mắt trên dưới thuộc chức năng tỳ vị dẫn máu và đường nuôi mắt.

Khi ra nắng con ngươi mắt thu nhỏ từ 5 ly (mm) còn 3 ly, vào trong tối thì con ngươi nở lớn 7 ly, trong điều kiện bình thường đủ ánh sáng thì con ngươi mở 5 ly.

Khi ra nắng dư ánh sánh hay vào bóng dâm thiếu ánh sáng, mà con ngươi không điều tiết thay đổi thì tây y đo độ dioptre sẽ biết có mù hay không.

a-Mắt trong sáng là gan khai khiếu ra mắt đủ.

b-Mắt lờ đờ là thần kinh suy nhược

c-Mắt mờ do hỏa vọng do can khí thực

d-Mắt đục do can khí suy.

e-Mắt khô dấu hiệu thận thủy yếu

f-Mắt ướt là thận thủy đủ

g-Mắt có quầng thâm là thận hư

h-Tròng trắng đục là phổi hư yếu

i-Tròng đen mắt bị đục.Dấu hiệu can hư.

k-Con ngươi nở to. Dấu hiệu viễn thị.Thận dương hư.

l-Con ngươi thu nhỏ. Dấu hiệu cận thị

m-Mắt có vết trắng lấn vào tròng đen. Dấu hiệu mắt có cườm

n-Tròng trắng có nhiều gân máu đỏ. Dấu hiệu can nhiệt phạm phế.

o-Gai thị không đều. Dấu hiệu loạn thị loạn sắc.

p-Mắt lé. Dấu hiệu can phong

q-Mắt và trong mí mắt xanh đục. Dấu hiệu bạch cầu tăng hồng cầu giảm.

r-Mí mắt sưng. Dấu hiệu tỳ vị nhiệt

s-Mắt ưa nhắm không thích nhìn ai. Bệnh thuộc phế hư

Dùng thuốc chữa bệnh tiểu đường làm đường-huyết qúa thấp khiến thận hư làm mắt mù, thận dương hư không điều tiết con ngươi.

10-Chữa mắt lé :

Ở phút 27:02

Mắt lé không cần chữa, chỉ cầu điều tiết cho cơ mắt cử động theo ý muốn là hết lé.

Mắt nào không lé thì lấy bàn tay che lại, còn đưa 1 ngón tay ra xa cho phía bên mắt lé nhìn thấy ngón tay. Rồi từ từ cho ngón tay di chuyển để mắt lé nhìn theo ngón tay. Ngón tay di chuyển theo vòng tròn để kích thích con mắt cũng chuyển động theo vòng tròn, rồi theo chiều lên, chiều xuống, chiều ngang sang trái, sang phải, tập làm sao cho con ngươi mắt vào chính giữa. Nếu lé ra ngoài thì ngón tay hướng dẫn cho mắt lé vào trong, rồi bấm huyệt Toàn Trú. Nếu lé vào trong thì ngón tay hướng dẫn cho lé ra phía ngoài rồi bấm huyệt Ty Trúc Không. Xong thử lại buông bàn tay che mắt ra, xem hai con mắt nhìn ngón tay dơ trước mặt xem mắt nhìn thấy mấy ngón tay, nếu nhìn thấy 2 ngón tay xa nhau thì còn lé, thấy hai ngón tay gần lại nhau thì đỡ, nếu hai ngón tay trùng nhau thành một, chỉ thấy 1 ngón tay thôi là hết lé.

Nhưng nếu gan hư không thể điều tiết gân cơ được, nên cần phải chữa gốc làm mạnh gan, nếu không sẽ bị lé trở lại. Cơ thể thiếu đường cơ thể mất nhiệt do nồng độ máu thấp nhịp tim đập chậm thì gân cơ co rút.

11-Chữa bệnh tiểu đường bằng bài tập “Bó chân đi cầu thang”.

Ở phút 29:00

Những bệnh nhân bị tiểu đường vừa không được ăn ngọt vừa phải uống hay tiêm thuốc làm mất thêm đường khiến suy cơ co bóp tim, sẽ suy thận, làm hại gan.

Về vấn đè ăn uống thì người Á Châu ăn cơm, Âu Châu ăn bánh mì, đó là món ăn căn bản ai cũng phải ăn thì tiêu chuẩn đường giữ trong người là 6.0mmol/l, được quyền ăn no lên tối đa 12.0mmol/l. Cho đến khi đói trở lại xuống 6.0mmol/l là không có bệnh tiểu đường. Nếu nhịn ăn ngọt, không cho ăn cơm, rồi lại uống thuốc hạ đường thì cơ thể không đủ đường để nuôi cơ tim co bóp tuần hoàn máu gây hậu qủa và biến chứng ra rất nhiều bệnh, như nó phải rút đường từ bắp thịt, từ mem xương lâu ngày người sẽ gầy ốm, xương mất chất men bảo vệ sẽ bị loãng xương, sẽ gẩy chân tay…

Người ta chỉ sợ những người già nằm một chỗ không vận động thì cứ ăn bao nhiêu thì đường-huyết cứ tăng lên bấy nhiêu nên mới cần dùng thuốc chữa bệnh tiểu đường. Người trẻ còn sức vận động mà lười tập mới sợ bệnh tiểu đường, người hay vận động mạnh, đi lên đi xuống cầu thang nhiều lần thì không bao giờ bị bệnh tiểu đường.

Triệu chứng xuống đường-huyết là toát mồ hôi, mệt, buồn ngủ, chóng mặt, hồi hộp…tức khắc phải lấy kẹo ra ngậm ngay. Nhiều người không theo dõi đo đường-huyết lúc mệt, cứ đúng giờ lại uống thuốc trị tiểu đường nên buồn ngủ, rồi đi vào hôn mê, có khi chết người. Đó là cái ngu của mình, không kiểm soát đường xem khi mệt là bao nhiêu.

Thiếu đường thì gây nhiều biến chứng, dư đường thì không sợ, chỉ cần tập bài “Đi cầu thang” tối đa 30 phút thì đường-huyết xuống thấp ngay.

Cách làm hạ đường sau mỗi bữa ăn :

Dùng băng quấn bó bắp chân, từ cổ chân lên gần đầu gối, xiết hơi chặt nơi bắp chân, rồi đi cầu thang 10-12 bậc, cứ đi lên rồi đi xuống kể là 1 lần, đi đủ 30 lần là 600 bậc, mỗi bước đi mỗi niệm từng chữ A-Di-Đà-Phật, hay A-Lê-Lui-A, hay one,thwo,three…cho đến khi trán xuất mồ hôi nóng, rồi tháo băng quấn chân ra, ống chân cũng nóng chảy mồ hôi, đo lại đường xuốngtừ 5.0-10mmol/l ngay. Thí dụ trước khi tập đo đường-huyết 16mmol/l thay vì đến giờ tiêm thuốc, thì tập bài “Đi cầu thang” 30 lần, cho xuất mồ hôi rồi đo lại, đường xuống chỉ còn 6.0mmol/l.

12-Viêm mũi sổ mũi dị ứng

Ở phút 37:00

Khi viêm xoang, trong nước mũi có nhiều virus, nên cần phải xịt mũi cho khô, nếu còn sót lại 1 con nó sẽ sinh sôi nẩy nở rất nhanh 1-2 giờ sau thành 500 con…

Viêm xoang mũi đa số đàn bà bị nhiều hơn đàn ông, vì khi sổ mũi không xịt ra mà hay hít nuốt vào sâu trong xoang trở thành ổ virus.

Thí dụ tìm nguyên nhân bệnh của một bệnh nhân ;

Đo áp huyết và đưòng xem nguyên nhân do hư chứng hay thực chứng.

Bệnh nhân này áp huyết hai tay là 121 và 122, thấp so với tiêu chuẩn tuổi, và đường cũng thấp, có 5.0mmol/l.

Phải uống thêm 1 lon Coca làm tăng áp huyết và tăng đường trước khi tập làm tăng sức đề kháng cho cơ thể, không uống Coca thì khí lực không tăng, đường không tăng sẽ không tập được sẽ mệt mất sức vì khí huyết và đường sẽ tụt thấp hơn nữa.

Nhiều thầy thuốc khi đang chữa bệnh cho bệnh nhân mà tự nhiên bệnh nhân bị bất tỉnh là do tụt đường-huyết.

Đông y chữa bệnh này bằng nước ép Củ Cải Trắng còn tươi, nhỏ vào mũi, nó rất hăng cay, sát trùng diệt virus.

Cách chữa :

Áp dụng 2 bài :

Bài thứ nhất : Nằm úp dùng bài “Ép 6 bàn tay trên lưng” để thông mũi bằng khí lực từ thận khí, tỳ khí, can khí, tâm khí, phế khí tống đẩy đàm nhớt qua mũi, mỗi lần ép gót chân vào mông thì bệnh nhân xịt mũi ra thật mạnh từng bên mũi này rồi sang mũi kia, sau đó lập lại ép lưng và khạc nước mũi đàm thoát ra bằng miệng.

Bài thứ hai : Nạp Khí Trung Tiêu 1 phút, cuốn lưỡi ngậm miệng, khi bỏ chân xuống thì bôi dầu xông hơi như dầu Ling Nam Ultra Balm, dầu gió xanh, dầu tràm, dầu Vick cho thông mũi và sát trùng phổi, làm khô mũi, khi bụng hết nhồi thì lại Nạp khí lần thứ 2, tập 5 lần thì mũi khô và thông.

Bài tập này chữa được bệnh mũi không ngửi được mùi, bệnh cảm sổ mũi.

Có thể lập lại cả 2 bài thêm một vài lần cho đến khi mũi khô.

Sau đó xông mũi bằng nước sôi với 3 giọt dầu Khuynh Diệp để sát trùng thông sâu vào các xoang..

Tóm lại cách chữa Viêm xoang mũi :

a-Phải xịt ra hết nước mũi

b-Ép 6 bàn tay, từ vùng thận, tam tiêu, tỳ vị, can-đởm, tâm, phế. 6 lần mỗi bên chân.

c-Nạp Khí Trung Tiêu 3-5 lần, bôi dầu vào lòng bàn tay để mũi hít vào cho thông mũi.

d-Xông mũi bằng hơi nước nóng cho 3 giọt dầu cảm .

13-Đau tức lưng trên vùng tim, bệnh tim-phổi.

Ở phút 1:00:25

Phổi yếu là do mẹ là bao tử ăn ít qúa, áp huyết bên bao tử đo khí lực thấp quá 104mmHg

Đau do thần kinh thiếu đường, đường-huyết đo được 5.5mmol/l.

Ở phút 1:06:99

Có 7 đốt xương cổ, dưới xuơng cổ là xương lưng, giao điểm xương cổ đốt cuối 7 và đốt 1 xương sống lưng gọi là huyệt Đại Chùy,.

Một bàn tay cầm đầu bệnh nhân, một ngón tay kia day huyệt Đại Chùy là nơi cục xương nhô cao, rồi bắt đầu day rạch phân ra từng đốt, đốt 1 day rạch 6-9 lần, rồi rạch đốt 2, đốt 3, để ý day rạch ở đốt nào bệnh nhân thấy đau là nơi đó khí huyết bị tắc hay thiếu khí huyết không chạy đến nuôi xương và thần kinh…rạch đến đốt thứ 5, 6, 7 là 3 đốt ai cũng bị đau nhất, đốt thứ 8 ngang với hai chân xương bả vai. Khi day từ dốt thứ nhất thì tay cầnm đầu bệnh nhân cũng từ từ đầy nhẹ cổ bệnh nhân ngửa ra sau để các đốt xuong được mở ngửa ra, đến đốt thứ 7 thì cổ đã được ngửa ra sau khoảng 30 độ, thì lồng ngực và tim cũng được mở ra cho thông khí vào phổi.

Sau khi day rạch xong 7 đốt sống cổ, bảo bệnh nhân thử cử động ngửa đầu cổ ra nhìn trời, cúi cổ cho cằm chạm ngực, xoay cổ sang vai phải vai trái, ưỡn ngực. Đưa hai tay lên cao ra sau…xem còn đau chỗ nào không, nếu còn đau thì làm lại động tác day rạch đốt sống cổ tiếp.

Riêng bệnh nhân này đã hết đau, nhưng hai vai bệnh nhân khép về phía trước nên phổi khép lại không hít vào được nhiều và sau này sẽ gù lưng, nên phải chỉnh thêm cho xương bả vai và xương đòn gánh thẳng ra để khi nằm hai vai phải chạm xuống giường chứ không còn bị cong lên.

Rồi cho bệnh nhân nằm ngửa đầu sát cạnh giường, để có thể dơ cánh tay thẳng lên qua đầu, đưa lên đưa xuống dễ dàng, nếu đau thì người chữa đặt lót bàn tay của mình dưới bả vai bệnh nhân, dùng 5 đầu ngón tay ấn vào xương vai khi bệnh nhân đang cử động dơ lên dơ xuống để thông khí huyết nơi khớp xương bả vai.

14-Tự chữa bệnh mũi nghẹt không do sổ mũi dị ứng, mũi ngửi mất mùi.

Ở phút 1:17:00

Tập bài Nạp Khí Trung Tiêu, cuốn lưỡi ngậm miệng, thở bằng mũi, thầy chữa day bấm hai ngón tay cái vào vùng huyệt Tỵ Thông (thông mũi) và bàn tay kia của người chữa xoa dầu cảm (khuynh diệp, menthol, vick..), nếu mũi nghẹt do vách ngăn lệch hay có bướu trong mũi, dùng ngón tay cái ấn vào đầu mũi bệnh nhân day tròn cho hơi dầu thông vào trong mũi.

Bệnh nhân có thể tự làm một mình.

Sau đó tập bài Kéo Ép Gối để thông khí toàn thân trong tạng phủ.

Bệnh nhân thực tập.

Thân

doducngoc

Video bài giảng 5 tại Thụy Điển

Video bài giảng 5 tại Thụy Điển

https://www.youtube.com/watch?v=s_JdUu04F70

Giải thích :

1-Cách khám mầu sắc bệnh theo vị trí tạng phủ trên mặt :

Ở phút đầu .

Tai thuôc thận. Mắt thuộc gan. Môi thuộc tỳ. Mũi thuộc phổi.

Nếu môi thuộc tỳ là mầu gì? Mầu hơi vàng, nhưng nó tốt thì mẹ nó nuôi nó, mẹ nó là tâm hỏa mầu đỏ cung cấp năng lượng cho nó để nó biết ăn ngon, thì mầu của môi là đỏ là tâm tỳ tốt. Môi đỏ nhiều thì hay ăn và ăn ngon, ăn rất nhiều, dễ ăn, nhưng không biết có béo hay không thì chưa biết vì còn do chức năng chuyển hóa bao nhiêu phần trăm.

Người môi trắng nhạt không đỏ hồng thì không muốn ăn.

Môi thâm đen là mầu của thận thủy, môi là thổ, thay vì thổ khắc thủy, thì ngược lại thủy mạnh hơn thổ, đông y gọi là thủy thừa khắc thổ.

Phổi khai khiếu (thông) ra mũi, nhưng đầu mũi giống như qủa tim, hai bên má là 2 lá phổi, nơi sơn căn ấn đường là cuống họng.

Nếu 2 má mầu đỏ là phổi nóng nhiệt là tâm hỏa khắc phế kim, làm phổi khô.

Học viên hỏi tại sao mùa đông, má của ai cũng đỏ. Vì mùa đông là hàn lạnh, cơ thể phải tăng hỏa chống lạnh thì toàn mặt phải đỏ lên.

Muốn bổ phổi nhiệt ăn gì ?

Người ta dùng Qủa La Hán, nấu nước uống để bổ phổi, có tính mát, vị ngọt, khí giáng, có tác dụng bổ tỳ là mẹ để nuôi con là phế kim.

Có thể bẻ 1 mẩu vỏ quả La Hán khô ngậm trong miệng, vừa chữa phổi vừa làm mát cổ họng ra nước miếng.

Tóm lại nhìn tai biết bệnh của thận
Môi thuộc tỳ
Mũi thông với phổ, đầu mũi thuộc tim
Mắt thuộc gan
Má thuộc phổi

Trán liên quan đến bao tử, đau nhức đầu trên trán là bệnh liên quan đến bao tử không tiêu, sở trán nóng là ăn thức ăn nhiệt làm bao tử nhiệt, vì bao tử là con bị bệnh thực thì mẹ là tâm hỏa dư hỏa khiến áp huyết tăng.

Sờ trán lạnh, là đã ăn những thức ăn hàn làm bao tử bị hàn, muốn ói, khó chịu. Bao tử là con bị hư thì mẹ là tâm hỏa mất năng lượng khiến áp huyết xuống.

Nếu đau đầu trên đỉnh đầu ra sau gáy là đau đầu do gan. Sờ đỉnh đầu lạnh là gan hàn, ảnh hưởng đến áp huyết thấp, nóng là gan nhiệt ảnh hưởng đến áp huyết cao.

Nếu đau 2 bên đầu là do túi mật. Hoặc không tiết mật để chuyển hóa thức ăn nên bị choáng váng một bên đầu, hoặc bị bệnh rối loạn tiền đình là một bên đầu áp huyết cao, một bên áp huyết thấp khiến đi lả đảo nghiêng người 1 bên. Nếu tiết mật qúa dư thì mặt hiện mầu xanh.

2-Bệnh tiểu đêm thì uống thuốc gì ?

Ở phút 7:30

Uống thuốc bổ Thận : Ba Kích + Đỗ Trọng+ Ngưu Tất, mỗi thứ 3-4 chỉ (12g-16g) nấu 4 chén nước cạn còn 1 chén.

Trán mát ăn không tiêu, không chuyển hóa, trán lạnh, áp huyết thấp, thì uống Phụ Tử Lý Trung Hoàn (viên nhỏ, 1 lọ 200 viên) trước bữa ăn 30 phút ngậm trong miệng từ 10-20 viên, sẽ tiết nước miếng mau đói thèm ăn, tiêu hóa hấp thụ nhanh, làm ấm người, tăng áp huyết.

Phụ tử lý trung hòan tính nhiệt chữa cảc bệnh thận hàn hay đi tiểu đêm, chữa thận hư phải lọc thận. Đi tiểu nhiều do thận hàn, cũng có thể ăn tiêu để làm ấm thận.

3-Một người có nhiều bệnh uống thuốc gì :

Ở phút 8:15

Chỉ có tập khí công chuyển hóa tất cả các khí trong người, mới tránh bị uống nhiều thuốc gây ra phản ứng phụ của nhiều thuốc nghịch nhau, bao tử sẽ trở thành thùng rác chứa nhiều độc tố.

Khi nghiên cứu lý thuyết đông y ngũ hành tạng phủ, và nhứng thức ăn thuốc uống để chữa cho tạng phủ bệnh, thì cũng không thể nào dùng thuốc chữa một lúc vào nhiều tạng phủ, trong trường hợp này mới thấy phương pháp chữa bằng KCYĐ hay hơn các phương pháp khác vì chữa được tất cả các rối loạn chức năng tạng phủ mà không có phản ứng phụ của thuốc tây y như uông thuốc sáng chữa thận, trưa chữa bao tử, chiều chữa áp huyết, tối chữa bệnh mất ngủ hay tiểu đêm…làm rối loạn chức năng khí hóa ngũ hành tạng phủ.

Một ngày đi tiêu tiểu bao nhiêu làn thì bình thường ?

Một ngày đi cầu 1-2 lần ra phân vàng thành khuôn là tốt không phải là bệnh, đi tiểu 2-5 lần cũng bình thường, nhưng đi tiểu ít 1 lần hay mót đi tiểu nhiều lần ra ít một hay đi tiểu ra nước trắng không phải nước tiểu mầu hơi vàng là có bệnh thận, nước tiểu ra trắng trong là thận không lọc, vì khi thận lọc độc trong máu và thức ăn tốt thì uống nước trắng khi tiểu phải ra hơi vàng nhạt, ngược lại khi tiểu ra vàng sậm là cơ thể nhiệt, vàng đậm tiểu gắt, khó ra là qúa nhiệt, tiểu rát do thận và bàng quang có nhiều chất vôi, tiểu ra máu là có sạn thận hay sạn bàng quang.

4-Ung thư lá mía :

Ở phút 8:45

Bệnh ung thư lá mía, một ngày đi cầu mười mấy lần, mót đi nhưng mỗi lần đi tiêu chảy chỉ ra ít nước, ít phân. Phải mang tã.

Do tỳ vị hàn không đủ nhiệt lượng chuyển hóa thức ăn và hấp thụ thức ăn biến thành chất bổ máu, tỳ hư không sinh ra da thịt, không ăn được nên cơ thể suy nhược, mất sức gầy ốm dần.

Muốn phục hồi lại chức năng tỳ vị cũng dùng Phụ Tử Lý Trung Hoàn, nên nó cũng chữa được bệnh ung thư lá mía..

5-Bệnh gan chữa làm sao ?

Ở phút 8:50

Nhìn vòng tròn ngũ hành tạng phủ, một bệnh phải biết là hư chứng (qúa yếu) hay thực chứng (qúa mạnh). Gan hư thì bổ mẹ nó là Thận, Gan thực thì tả con nó là Tim.

Như vậy làm sao biết gan hư hay thực thì đo áp huyết bên tay phải nó thấp hơn tiêu chuẩn tuổi là hư, nó cao hơn tiêu chuẩn tuổi là thực.

Nhưng lại chia ra hư hay thực về khí lực, số tâm thu qúa thấp hay qúa cao, hay hư thực về máu qúa thiếu hay dư máu là số tâm trương qúa thấp hay qúa cao.

Gan hư lại chia ra chức năng hu hay thực hay cái cơ sở lá gan hư hay thực.

Chức năng hư là truóc khi ăn thay vì áp huyết đo bên gan phải cao tối đa trong tiêu chuẩn là 140 (thí dụ tiêu chuẩn từ 130-140mmHg), sau khi ăn áp huyết bên gan khí lực phải thấp tối thiểu trong tiêu chuẩn là 130mmHg, chênh lệch nhau 10mmHg thì chức năng chuyển hóa hấp thụ chất bổ khí huyết từ thức ăn được 100%, nếu chênh lệch trước sau có 1mmHg thì hấp thụ chuyển hóa có 10%.

Gan có hai chức năng chúng ta thấy rõ nhất theo ngũ hành là gan cung cấp năng lượng nuôi con nó là tim, khi gan hư yếu thì suy tim, khi gan thực cung cấp nhiều máu cho tim làm mệt tim, thành tim bị bệnh thực khiến áp huyết cao.

Chức năng thứ hai mà ta trông thấy là điều hòa chất chua và chất mật sang cho bao tử cảm thấy xót ruột, biết đói, nhớ tới giờ ăn, nên trước khi ăn áp huyết bên gan đang làm việc thì phải cao tối đa trong tiêu chuẩn là 140mmHg, sau khi bao tử ăn xong, thì chức năng gan nghỉ ngơi sẽ xuống thấp, nhưng chức năng gan hư thì ngược lại, trước khi ăn áp huyết đo bên gan thấp, sau khi ăn thì lại cao, nên trước khi ăn bao tử không biết đói không muốn ăn vì gan không tiết chất chua và chất mật cho bao tử.

Còn cơ sở bị bệnh tổn thương như lá gan sưng to chai, hay lá gan chai teo nhỏ lại, thì khi đo áp huyết bên tay phải trước hay sau khi ăn kết qủa không thay đổi khí lực, huyết lực.

Khí lực huyết lực lúc nào cũng cao thì gan sưng to, còn khí lực huyết lực thấp hơn tiêu chuẩn thì gan teo, có nghĩa là gan không co bóp để thay đổi khí lực huyết lực trong lá gan.

Cách đo áp huyết tay phải để biết bệnh gan rõ ràng chính xác hơn là bắt mạch ở cổ tay như đông y cổ truyền.

Nếu gan hư mà có thêm bệnh đi tiểu luôn là thận cũng hư, là do mẹ là thận hư làm con là gan hư, hay do thức ăn làm gan hư mới làm cho mẹ phải cung cấp năng lượng cứu con mà mẹ bị hư yếu.

Muốn chữa thận mạnh lại bổ mẹ là phế, thì cần chất cay.

Có người thắc mắc nếu ăn cay thì bón đi cầu không được hay bị bệnh kiết…như vậy là do ăn cay qúa lại thành bệnh thực, như vậy đông y chỉ điều chỉnh lại quân bình âm-dương, khí-huyết, hư-thực, hàn-nhiệt cho vừa đúng thì ngưng nên không có lạm dụng thức ăn hay thuốc uống một thứ hoài được, vì thế không được dùng một loại thuốc suốt đời được.

Nếu cay qúa lại thành thực, thiếu thì lại bị hàn. Như vậy chính máy đo áp huyết mới là bác sĩ khám bệnh cho mình, chứ không ai làm thầy mình hay hơn máy đo áp huyết.

Thí dụ phế thực tả con là thận thì bớt ăn mặn,

Bệnh nặng nhẹ là do lý luận tạng phủ theo bảng ngũ hành.

Thí dụ gan bị nóng thì tả con làm bớt nóng cho tim, thì phải bớt ăn chất đắng như cà phê, chiên xào,.

Có người hỏi ăn rau đắng thì nó mát hay nóng ? Thì hỏi ai ? Hỏi máy đo áp huyết xem nhịp tim tăng hay giảm.

Khi chữa thấy khí lực cao thì điều chỉnh khí lực xuống thấp, huyết lực hư thiếu thì ăn những chất bổ máu làm khí lực tăng lên, gan chai sưng hay chai teo thì tập thông khí toàn thân kích thích khí trong gan thay đổi chuyển động bằng những bài tập khi công Nằm Kéo Ép Gối Thổi Ra Làm Mềm Bụng….

6-Khám mầu sắc trên mặt một bệnh nhân có môi thâm đen là bệnh gì ?

Ở phút 17:30

Môi thuộc tỳ, có mầu đen thuộc thận, theo ngũ hành là thổ khắc thủy, nhưng thận bệnh uống nhiều nước dư thủy, thổ không khắc chế chặn thủy được nên thủy lại thừa khắc thổ. (khắc ngược lại), gọi là bệnh tỳ thận bất hòa. Đối với phương pháp dùng thuốc rất khó chữa, nhưng đối với khí công lại dễ chữa theo quy luật “3 hành liền nhau có bệnh thì chữa vào hành giữa “

Môi thuộc thổ, sinh kim là phế, phế mới nuôi thận, như vậy hành giữa là phổi, chỉ cần tập khí công làm mạnh phổi, để mẹ của phổi là tỳ được nghỉ ngơi dưỡng bệnh cho khỏe không bị thận lấn lướt và phổi mạnh điều chỉnh chức năng thận không bị khát nước, hay khi uống nhiều nước mà thận không đủ khí mạnh chuyển hóa nước thành khí.

Những người trước kia môi không bị thâm đen, nhưng nếu vì lý do bệnh phải truyền nước biển qúa nhiều, nên hậu qủa làm hư thận khiến môi thâm đen vĩnh viễn chữa lâu khỏi, nếu không biết tập khí công làm mạnh phổi (thuộc Khí), và cấm kỵ không bao giờ được buồn thở dài chán đời (thuộc Thần) lại làm phổi hư không chữa cho phổi mạnh được, khiến phế hư càng thêm hư, thì bệnh thận cũng không thể khỏi được, đã không được buồn mà lại phải ăn thêm cay thuộc Tinh, luyên hơi thở cho dài như niệm Phật thuộc Khí và Thần, hay tập hát Karaokê vừa được luyện khí vừa giúp tinh thần vui vẻ yêu đời, ăn cay cho xuất khí ra da sáng lên…. ..

Bệnh nhân nói không buồn mà lo, lo là bệnh của tỳ vị hư thay vì nó mạnh khắc chế được thận thủy, nhưng nó yếu thì thận thừa khắc nó.

Bổ thận không chỉ bằng thức ăn mà về tinh thần phải bỏ cái sợ là nguyên nhân làm hại thận, bỏ cái lo là nguyên nhân hại tỳ, bỏ cái buồn là nguyên nhân hại phế.

Tập khí công bài Vỗ Tay 4 Nhịp làm mạnh phế, Kéo Ép Gối Làm Mềm Bụng làm thông khí toàn thân và làm mạnh thận..

Tất cả các bệnh đều phải biết hư hay thực ở khí lực hay huyết lực hay hàn nhiệt, nhờ số đo áp huyết đo ở hai tay so với tiêu chuẩn tuổi mỗi ngày trước và sau khi ăn để phát hiện kịp thời thành phần thức ăn hay thuốc uống ngày hôm nay ăn đúng hay sai với nhu cầu của cơ thể.

Cần phải đo áp huyết trước khi ăn để biết trong bữa cơm có nhiều món ăn, mình phải chọn món nào, kiêng món nào đối với bệnh của mình. Ăn xong 30 phút đo áp huyết kiểm chứng xem những món đã chọn để ăn có ra đúng kết qủa áp huyết mà cơ thể cần điều chỉnh hay không. Như vậy sau này, mọi người biết cách tự chữa bệnh bằng cách điều chỉnh bằng thức ăn thuốc uống bằng máy đo áp huyết trước và sau khi ăn thì không cần đến thầy thuốc nữa, đó là mục đích của môn Y Học Bổ Sung Khí Công Y Đạo.

Mình chỉ sợ ăn sai làm thay đổi huyết số tâm trương thấp qúa hay cao qúa, chứ còn khí lực thì cao hay thấp thì điều chỉnh khí bằng những bài tập khí công làm tăng khí hay hạ khí được, còn làm tăng huyết hay hạ huyết phải điều chỉnh bằng thức ăn thuốc uống.

7-Ăn để điều chỉnh TINH, tập thể dục khí công điều chỉnh KHÍ :

Ở phút 27:52

Có người hỏi vẫn tập thể dục khí công sao áp huyết không lên tiêu chuẩn.

Tập khí công chỉ điều chỉnh khí, nhờ khí giúp chức năng chuyển hóa thức ăn mà không ăn đúng cho huyết tăng hay huyết giảm thì không có kết qủa. Có người hỏi : Vậy thì ăn cái gì cho có kết qủa ?

Những thức ăn phải theo ngũ hành và phải theo nguyên tắc con hư bổ mẹ, mẹ thực tả con.

Tập khí công chỉ làm tăng hay giảm khí lực, còn ăn mới làn tăng hay giảm huyết lực.

Thí dụ ai áp huyết thấp phải kiêng ăn dưa chua, dứa, dừa, chanh, cam, bưởu, khổ qua, kem, sữa ensure, sữa đặc hay sữa bột, dưa hấu, pepsi…những món này chỉ hợp vớp người áp huyết cao cần làm cho thấp.

Thí dụ những người áp huyết thấp thì cần phải ăn thức ăn bổ máu, cần cay, nóng, ngọt mới làm tăng áp huyết, như phở, củ dền đỏ, bún bò huế, nhãn, xoài, sầu riêng, trái hồng, cam thảo, coca…

8-Tai thuộc thận hiện dấu hiệu bệnh hiện trên tai..

Ở phút 29:00

Nếu tai mầu trắng thuộc phế hư làm thận hư, nếu uống nhiều nước thận càng hư thì tai dầy lên.

Nửa tai trên chỉ tuyến thượng thận là chức năng thận dương, nửa tai dưới là thận âm, mầu của tai hồng như da mặt là thận tốt, mầu đen là thận có bệnh thực, mầu xanh là gan hư thận hư, mầu trắng là phế hư thận hư, mầu đỏ là hỏa thừa khắc thủy, thận khô nhiệt, nếu trong tai sờ vào thấy có hột gạo dầy lên mà không đau, nhìn không thấy mà sờ thấy là trong thận có bướu, thận trắng phù nước là thận hư không còn chức năng lọc thận thì phải lọc thận nhân tạo.

Tai bên nào bệnh thì thận bên đó bệnh.

9-Bệnh bướu vú ở phụ nữ.

Ở phút31:10

Vú thuộc tạng phủ nào ?

Bao tử là nơi chứa thức ăn nuôi mạng sống người mẹ, thì vú cũng là bầu sữa, là bao tử nuôi con khi sanh ra, nên nó có liên quan đến bao tử. Người mẹ ăn món gì thì hôm đó thức ăn trong sữa cho em bé bú cũng có thức ăn ấy, nên người mẹ ăn sai, con cũng bị nuôi những thức ăn sai ấy.

Con cũng được nuôi theo tính-khí-vị của thức ăn, con cũng được nuôi dưỡng bằng 3 yếu tố Tinh-Khí-Thần, người mẹ có bệnh về tạng khí như phong, hay phong thấp, phong hàn, phong nhiệt hay hòa…thì trong máu của con cũng có, người mẹ tinh thần thay đổi cũng ảnh hưởng ngay đến tâm tính của con đang dùng sữa mẹ, khi người mẹ đang cho con bú mà có một cơn giận nộ khí xung thiên thì sữa đó tức khắc bị nhiễm độc tố làm con bú phải sẽ bị bệnh nặng hay chết ngay.

Như vậy vú của phụ nữ là bộ máy tạo ra sữa, nên khí huyết và những tế bào chức năng của vú dù có con hay không có con, nó vẫn phải được nuôi dưỡng thay đổi khí-huyết trong vú mỗi ngày, dấu hiệu của vú phụ nữ hiện ra ở vị trí góc gò má dưới đuôi mắt có một gò thịt nhỏ, mầu hồng như da mặt.

Khi cơ thể thiếu máu, thì gò này mất mầu hồng, thiếu khí do chán đời hay thở dài hại phổi không nuôi ra tới da thì da nhăn, gò này cũng mất căng mà bị nhăn lại, thì thể tích vú cũng nhăn lại, làm tắc tuyến vú vì không đủ khí huyết dẫn vào vú, các tế bào trong vú bị cô lập thành khối cục, nhìn hình thể vú thì không thấy, nhưng sờ nắn thì cảm thấy có cục. Nếu vú nào có cục thì gò này cũng nổi một cục vừa nhăn xám đen so với gò bên kia thuộc vú bên kia, và sờ nắn vú bên không bệnh không có cục. Bệnh nhẹ thì chỉ có cục mà không đau, gọi là bướu lành, sờ nắn đau là buớu độc có huyết ứ, sữa ứ nặn bóp ra chảy ra đầu vú nước sửa vàng đục hay máu đen… đó là bệnh ung thư vú.

Nếu người mẹ ăn sai thành tâm tỳ hư, thì con cũng bị tâm tỳ hư thành bệnh tiêu chảy, người mẹ thích ăn theo ý người mẹ không đúng hợp với cơ thể mình củng làm cho mình bệnh, mà con cũng càng ngày càng bệnh, nhiều người hỏi tại sao con của con hay bị bệnh từ lúc sanh ra cho tới giờ cứ bệnh hoài, chữa hoài không khỏi…mà không biết con bệnh tại mẹ.

Có người hỏi có những đứa trẻ sinh ra không đi đái được nguyên nhân tại sao ?

Nguyên nhân tại mẹ nó cũng có bệnh bí tiểu do ăn những chất nóng hại thận thành nhiệt nên bí tiểu, thức ăn này nuôi con đang bú thì con cũng bị bí tiểu.

10-Mẹ không đủ máu áp huyết thấp muốn có con, chỉ làm hại cả mẹ lẫn con .

Ở phút thứ 32:20

Một người mẹ có áp huyết thấp, thiếu máu, thiếu khí nhiều thì không tạo thai được, nếu có thể tạo thai thì thai cũng không phát triển, nếu có sinh ra được thì trẻ èo oặt, bệnh hoạn cả đời làm khổ cả mẹ lẫn con, con ốm yếu bệnh hoài, mẹ phải nuôi con bệnh cả đời, lớn lên nó không phát triển nó lại thiếu khí huyết sẽ bị bệnh ung thư. Nguyên nhân chúng ta cũng biết trước nhờ máy đo khí huyết biết thiếu khí, thiếu huyết không đủ nuôi các tế bào cho đủ làm sao mà khỏe mạnh được.

Mẹ tim suy, thì con tim cũng suy, mẹ mất máu não thiếu trí nhớ thì con cũng thiếu máu não, lớn lên cũng sẽ bị mất trí nhớ sớm, nếu lớn lên nó không tự biết điều chỉnh khí huyết bằng ăn uống.

Ngược lại cha mẹ bị bệnh cao áp huyết, ăn uống dư thừa, sinh con ra còn nhỏ tuổi mà cũng dư thừa khí lực, huyết lực, nó sẽ bị bệnh cao áp huyết, chảy máu mũi, hiếu động, động kinh, co giật, lớn lên không biết ăn uống hợp lý để điều chỉnh khí huyết thì nó cũng bị bệnh cao áp huyết sớm ở tuổi thanh niên, so với áp huyết theo tiêu chuẩn tuổi.

Con bệnh tự kỷ là bệnh tâm thần cũng do tinh thần của của cha mẹ có xung khắc không hòa thuận thì tình cảm đứa con theo ai đây, nên tâm tánh nó cũng bất thường, ghét mẹ ghét cha, sợ mẹ sợ cha, tạo cho mình đời sống cô lập để tự bảo vệ mình, hành động theo ý mình không nghe lời ai…Thí dụ người mẹ thận hư sinh con cũng thận hư, cái gì nó cũng sợ…còn cha mẹ áp huyết cao tính nóng giận thì con cũng áp huyết cao sinh hiếu động ưa giận không hài lòng bực bội với mọi người.

Còn trẻ nào sanh ra ngồi đâu ngồi đó tính tình không vui là do cha mẹ chán nản buồn rầu, ly dị không có sức sống thì con cũng không có sức sống….

Tại sao có những cảnh như vậy, theo vật chất thân bệnh do Tinh-Khí-Thân, nhưng còn do Nghiệp bệnh, theo giáo lý Phật giáo là nhân qủa, con sinh ra làm con của mình có hai nguyên nhân làm con để vào gia đình mình đòi nợ mình, chỉ làm khổ cha mẹ, hay vào làm con để trả nợ cha mẹ chỉ làm lợi cho cha mẹ. Khi đòi hay trả hết nợ thì chết trước khi cha mẹ chết, còn hết nợ nhau thì cha mẹ chết hay lưu lạc còn lại một mình thì mình lại tiếp tục mình trả nghiệp của mình để mình sướng hay khổ trong cuộc đời này, và những công việc làm đời này tạo nhân cho đời sau.

Có người hỏi, có những đứa trẻ mặt nó vui, nó lên chánh điện nó thích lạy Phật là sao ? Nó có nghiệp căn kiếp trước là người tu.

Có người hỏi một trẻ tự kỷ khi vào chùa nó cũng tự động lễ lạy Phật. Đó là căn trong kiếp trước nó có tu, biết đến Phật pháp, nếu nó được tu thì nghiệp tự kỷ của nó hết vì nó hết bị ảnh hưởng của cha mẹ cả 3 mặt Tinh-Khí-Thần, Tinh thì ăn chay thanh lọc nghiệp xấu, khí thì niệm Phật tụng kinh, học được những điều thiện lành, Thần là được tự tại an lạc, bệnh tự nhiên khỏi.

Một vị sư biết khai ngộ thì đã biết nhân qủa của đứa trẻ, những điều này trong kinh nhân qủa có dạy.

11-Thường bị giựt nhẹ lăn tăn quanh vòng môi dưới :

Ở phút thứ 34:55

Chung quanh môi là ruột già hiện lên vòng trắng xanh quanh môi là có bệnh đường ruột già bị hàn lạnh, sinh ra bệnh tiêu chảy, nếu có uống nhiều nước qúa thành bệnh liệt ruột do phình ruột, cơ co bóp ruột bị giãn.

Cái cằm là dấu hiệu của bọng đái một là hư tiểu nhiều, hai là bí tiểu, nơi này bệnh nhân có cơ dưới cằm giựt nhẹ lăn tăn. Hỏi bệnh nhân đi tiểu nhiều hay ít. Trả lời ít, như vậy bàng quang có vấn đề. Bệnh nhân cho biết nó ngứa, đau nhức, là bàng quang nhiễm độc.

Có một lần tôi đến nhà bạn chơi, cửa cổng xa, ông ra mở cửa mà chân đi dạng háng có vẻ đau đớn giống như người bị bệnh trĩ, tôi hỏi ông bị bệnh gì mà tướng đi kỳ thế. Ông trả lời là bị mọc cái mụn ở hậu môn nên đi đụng vào nó đau qúa.

Tôi nói để tôi chữa cho khỏi ngay. Phần thịt tròn dưới cằm là bọng đái, dưới bọng đái là hậu môn, tôi cầm cây bút cà qua cà lại tìm xem có cục cộm trong vùng bọng đái hậu môn không, thì tìm thấy 1 cục, ấn bút đè mạnh vào cục đó, giống như có gai, ông ấy giẫy lên kêu đau qúa, khi ấn hết đau, ông ấy đứng lên đi thì hết đau, vì mụn đó tự vỡ mủ. Thầy diện chẩn Lý Phước Lộc gọi là “đồng thân trị liệu”.Bệnh trĩ cũng nằm đó, bệnh bí tiểu cũng nằm đó, không cần tên huyệt……

12-Trĩ phía trong bị ngứa :

Ở phút 37:40

Đó là trĩ nội. Do ăn nhiều cay nóng hại da thì ngứa. Còn người có bệnh trĩ không bị ngứa là không có ăn cay.

Dùng rau Dấp Cá giã nát lấy cả nước và cái, lấy bông gòn quấn vào đầu ngón tay tấm nước rau Dấp Cá, ngoáy sâu ngập ngón tay vào hậu môn xoay vòng để rửa vết thương, dùng bã dấp cá đắp bên ngoài hậu môn, dán băng keo hay cột không để rớt ra ngoài, trước khi đi ngủ. Dùng thêm lá Dấp Cá ăn sống nhai ra nuớc rồi nuốt để trị ngứa, cầm máu.

Ở phút 38:15 tiếp tục giảng về ung thư vú, vị trí này ai cũng có, nhưng có bệnh ung thư vú phải có thêm điều kiện, vô cớ thở dài, chán đời, áp huyết thấp.

13-Kinh nguyệt 2-3 tháng mới có một lần ra rất là nhiều :

Ở phút 40:05

Kinh nguyệt do rụng trứng (noãn sào) hàng tháng, nếu gặp tinh trùng thì tạo thai, không gặp tinh trùng thì thành máu xấu phải xuất ra ngoài đúng kỳ thì gọi là kinh nguyệt. Áp huyết thấp không đủ máu trong người nuôi tế bào chức năng lấy gì mà nuôi trứng, nên 2-3 tháng mới đủ rụng trứng 1 lần, mà không kinh nguyệt hàng tháng là không rụng trứng lấy gì có con. (Học viên ồ lên : À đúng rồi hay qúa !).

Trứng cũng là máu, nhưng thiếu máu nên trứng không khỏe cũng không đậu thai được.

Theo đông y, 40g máu mới tạo được 1g tinh, 40 g tinh mới biến thành 1g tủy, 40g tủy mới biến thành 1g tế bào não, mà con người làm sao có đủ máu và đủ khí để biến hóa đúng ra được theo lý thuyết, vì máu càng ngày ngày thiếu hụt dần không đủ nuôi tế bào chức năng.

Những người tu hành không phạm giới dâm nên khí chuyển máu thành tinh, chuyển tinh hóa tủy gọi là hoàn tinh bổ não.

14-Tại sao áp huyết thấp mà người rất nóng, đó là dấu hiệu ung thư..

Ở phút 44:44

Thay vì đủ máu thì tim bơm máu thong thả với nhịp tim 75 lần, nhưng vì thiếu máu tim phải bơm thật nhanh cho máu ra đến đầu tay chân, nhưng chưa ra hết đầu tay chân thì hết lượng máu lại phải chạy trở về trả lại máu cho tim nhận oxy đổi máu đỏ để bơm tiếp, nên tim phải bơm nhanh và mạnh đến 120 nhịp trở lên, khiến bên trong người nóng lên, nhưng máu không đủ ra đến da và tay chân nên bên ngoài tay chân rất lạnh, phải mặc áo ấm.

Theo lý thuyết đông y, mạch nhanh là nhiệt thì nhịp đập 120 là nhiệt nhưng chân tay và da lại lạnh, mà áp huyết thấp tâm thu là thiếu khí lực, thấp tâm trương là thiếu huyết lực, trong người lại nóng theo nhịp tim, sờ chân tay lại lạnh, đông y gọi là chứng bệnh nan y, nhiệt gỉa hàn,

Thí dụ nếu áp huyết một người là 125/60mmHg nhịp tim 120, trong người nóng, miệng khô, lở môi miệng, chân tay, da lạnh phải mặc áo lạnh, thì đây là áp huyết gỉa để lừa gạt tây y, đông y bắt mạch biết là bệnh nan y, nhưng không chứng minh được cho tây y biết là bệnh nan y, còn KCYĐ đổi áp huyết giả thành áp huyết thật, là nếu người không bệnh tiêu chuẩn nhịp tim bình thường không nhanh là không nóng, hay không chậm là không lạnh, thì nhịp tim là 75, vì thiếu máu nên cơ thể phải tăng khí lực tối đa mà cơ thể có để giúp tim phải đập nhanh đưa máu đi nên nhịp tim đập nhanh hơn so với bình thường 45 nhịp (120-75=45), như vậy khí lực cũng đã phải tăng thêm 45mmHg, vậy áp huyết thực bây giờ là :

125-45/60mmHg nhịp tim 120-45 hay 80/60mmHg nhịp 75. Kết luận bệnh nhân đang bị bệnh ung thư.

Khi áp huyết giả xuống 115/60mmHg nhịp tim 120 thì áp huyết thật sẽ là 70/60mmHg nhịp 75 là sắp chết.

Đây là áp huyết đánh lừa các thầy thuốc đông tây y, nói rằng áp huyết bệnh nhân rất tốt, không có vấn đề, chỉ tại nhịp tim cao thôi.

Chúng ta xét một bệnh án như : Áp huyết tay trái sau khi ăn 95/62mmHg 86, tay phảí 102/59mmHg 83 tay chân lạnh, người nóng, tuổi trung niên nhịp tim 75..

Nhịp tim tay trái nhanh hơn 86-75= 11, áp huyết thật tay trái 95-11/62mmHg nhịp tim 75, hay 84/62mmHg nhịp tim 75

Nhịp tim tay phải nhanh hơn 83-75=8, áp huyết thật là 102-8 hay 94/59mmHg nhịp tim 75

Kết luận : Áp huyết sắp xuống thấp sẽ trở thành ung thư nếu bao tử không chứa đủ chất bổ máu cung cấp máu cho gan thiếu (còn 59), và không tập luyện khí công tăng khí lực để áp huyết bên tay phải khí lực xuống 80 thì bệnh ung thư thành hình.

Do đó muốn tăng khí lực cần phải uống Coca cho tăng khí lực, tăng đường chống mệt tim, và tẩy rửa những thức ăn cũ không tiêu trong cơ thể, nó cũng chính là đồng lỏa giúp hình thành tế bào trở thành ung thư ác tính.

15-Tại sao hành kinh bị đau bụng

Ở phút 45:40

Nếu đủ máu nhưng người nhiệt, máu đặc không ra được mới đau do dư calcium trong máu, hoặc áp huyết thấp thiếu máu, không đủ khí lực tống ra, nên máu xấu bị ứ lại thành huyết bầm vón cục gây sưng tắc vòi trứng, tùy theo nơi đau ở ngay giữa bụng dưới là cổ tử cung hay sưng hai bên buồng trứng.

Nếu kinh không ra được làm nhức đầu, gọi là nhức đầu do đau bụng kinh, máu ứ bị giữ lại không ra kinh, khi tập bài Kéo Ép Gối mỗi ngày làm tăng khí lực thì sẽ hành kinh đều ra dễ không bị đau bụng kinh

Trường hợp máu rỉ ra bầm, bụng dưới cứng to có cục cộm là bướu cổ tử cung, do máu ứ lại lâu ngày tạo thành…

Cách chữa buớu cổ tử cung to bằng trái cam, bác sĩ phụ sản khám tưởng có thai 3 tháng :

Trong dân gian thường đắp cao khoai sọ :

Có 2 giai đoạn :

a-Cách làm cao :

Mỗi lần dùng 200g khoai sọ hoặc củ nhánh của khoai môn, mục đích dùng vỏ và lông ngoài vỏ khoai nhiều hơn, nó là chất thuốc đặc biệt, 200g gừng già có vỏ. Cả hai rửa sạch đất, đem xay hay giã nát nhuyễn, không cho nước. Sau đó cho 1 muổng bột (,mì hay gạo…) nhào chung cho thành một chất dính kết. Lấy ra đổ lên trên một miếng nylon, khoảng chừng 1 tấc vuông, dầy 1cm.

b-Chất xúc tác :

Lấy 1 củ gừng chừng 50g đập nát, bỏ vào nồi nưóc nấu sôi vừa. Dùng khăn dầy, nhúng vào nước gừng rồi vắt khô, chờ giảm nóng còn khoảng 60 độ, đắp trên chỗ sưng đau ở bụng dưới cho đến khi hết nóng, đắp lại vài lần như thế. Mục đích tác động trên chỗ bướu làm mềm, giảm đau, làm cho bướu nóng lên sẽ tăng tính hấp thụ thuốc của miếng cao, và làm giảm ngứa của cao khoai sọ khi đắp lên bướu.

Mỗi tối, trước khi đi ngủ, phải đi tiêu tiểu xong, nằm trên giường, đắp chất xúc tác chừng nửa giờ, rồi đặt miếng cao lên, dùng băng cột buộc cho khỏi rớt thuốc khi ngủ.

Phản ứng của thuốc rất ngứa nếu không dùng chất xúc tác sẽ không có kết qủa. Nhờ đắp chất xúc tác, đêm đỡ cảm thấy ngứa, nhưng cảm thấy như có kiến bò. Sáng ngủ dậy thấy cao khô thành bột rời rơi vãi ra ngoài.

Đắp khoảng 10 tối, khi nào thấy sáng ngủ dậy cao thuốc vẫn còn chất nhão mà không khô, là bướu không còn, nên hết rút chất thuốc của miếng cao.

Bài thuốc này đã chỉ cho những người bị bướu to bằng trái cam, bác sĩ tưởng lầm bệnh nhân có thai bị làm băng, sau biết là bướu, đề nghị phải mổ gấp. Trong khi chờ thời gian đến ngày hẹn mới mổ, bệnh nhân làm băng đau qúa, đã tạm dùng phương pháp trên để cầm cự. Nhưng sau đó không thấy bướu và làm băng, đi khám lại không còn bướu. Bài cao khoai sọ cũng chữa có kết quả bệnh lao hạch cổ.

Trong tử cung có huyết xấu gây đau bụng, dân gian thường giã lá rau ngót 1 nắm uống, để trục máu xấu, trục nhau còn sót sau khi sanh chưa ra hết, nó có tính co bóp tử cung mạnh nên phụ nữ đang mang thai cấm dùng.

16-Chân tay lạnh, da chân dầy :

Ở phút 1:04:09

Tắm ngâm người vào bồn tắm nước nóng ấm pha với 1 lít nước nấu sôi với 200g gừng già giã nát, ngâm ngập người trong nước ấm gừng cho đến khi nguội thì xong, lau khô người. Khi ra gió không cảm thấy lạnh nữa.

Còn chai chân do huyết đọng lại dưới bàn chân lâu ngày bị hóa vôi gọi là huyết hóa vôi, ngâm bàn chân hay gót chân vào dầu nguyên chất huile de glycérine 100% có tính chất tan trong nước, rửa chà chân cho sạch, lau khô, rồi đổ dầu vào một cái thau nhỏ hay một cái hộp bằng nhôm (hộp đựng bánh biscuit) đặt được vừa bàn chân vào ngâm 30 phút, xong lau khô. Dầu thấm vào da làm da chân mềm hết bị chai. Áp dụng mỗi ngày hay mỗi tuần cho đến khi khỏi bệnh.

Dầu glycérine thường có pha vào các mỹ phẩm để đem thuốc mỹ phẩm thấm được vào da.

17-Rong kinh, hở cổ tử cung, sa tử cung:

Ở phút thứ 1:08:40

Nấu 1 lít nước với 1 củ nghệ giã ra và 1 cục phèn chua, cả 2 to bằng ngón tay cái cho tan, đổ vào 1 cái bô cao, loại thường cho những người già ngồi đi cầu, xông cửa mình với nước thuốc này mỗi ngày sẽ khỏi. Phèn chua sát trùng làm se lại săn da, khô da, nghệ cũng sát trùng lành vết thương.

Dân gian dùng phèn chua làm lắng nước sông hay nước giếng đục thành trong.

18-Phèn chua với dứa chữa sạn thận, bàng quang :

Ở phút 1:10:20

Mua 1 qủa dứa (tên khác là thơm, khóm), gọt vỏ, cắt phần đầu làm nắp đậy, khoét một lỗ sâu 3cm, đổ vào lỗ một muổng nhỏ (muỗng cà phê) bột phèn chua (mua cục phèn chua nhỏ giã ra thành bột), rồi đậy nắp lại, bỏ qủa dứa vào lò nướng cho chin vàng (nướng 300 độ F lâu 30-45 phút), lấy ra, vắt lấy nước cốt, được chừng 2 ly. Tối đi ngủ uống 1 ly, mục đích làm cho sạn thận và bàng quang mềm ra như trứng gà non. Sáng vừa thức giấc, uống 1 ly còn lại, nằm nghỉ 30 phút, mục đích làm cho vỡ sạn thành bột bụi, rồi đi tiểu. Để ý nước tiểu đục như nước vo gạo hay như nước vôi, mùi nước tiểu rất khai.

Triệu chứng của sạn thận là có cơn đau thắt từ bụng lan ra sau lưng, có khi đau từ thắt lưng sang bụng, mệt mỏi, nói không ra hơi, đi lại mạnh thì đau, không ăn uống được, có lúc nghĩ là bệnh đau lưng, có lúc nghĩ là bệnh đau bụng, nhưng không đi cầu…Sau khi uống nước dứa phèn chua một ngày, những triệu chứng kể trên biến mất, không còn đau đớn, thở dễ, nói cười sang sảng như người hết bệnh.

19-Nóng trên đầu là bệnh gì ?

Ở phút 1:12:00

Trên đỉnh đầu thuộc gan, nóng trên đỉnh đầu là gan nhiệt do huyết lực dư, thăng lên đỉnh đầu là khi, như vậy là bệnh áp huyết cao bên tay phải do gan dư khí lực, dư máu.

Tất cả các bệnh đều lý luận theo ngũ hành, theo khí lực, huyết lực, hàn nhiệt của máy đo áp huyết và bộ vị tạng phủ trên đầu mặt.

20-Tại sao bị bệnh bướu cổ ?

Ở phút thứ 1:12:20

Chẩn đoán bệnh theo kết qủa số đo áp huyết của một bệnh nhân, Đường-huyết 74mg/dL, Tay trái bao tử sau khi ăn 2 giờ vẫn còn cao hơn tiêu chuẩn là ăn không tiêu, khí không đi xuống mà khí thăng lên cổ thành bướu cổ.

Nguyên nhân thứ hai do khó tính, luôn ngậm miệng, khí lên mà không thoát được ra ngoài miệng được nên bị ứ đọng tại cổ thành bướu cổ.

Nhìn mặt biết bị hở van tim, má bên phải phình hơn bên trái đúng với số tâm trương bên phải 81 cao hơn bên trái 79, nhưng cả 2 cao hơn tiêu chuẩn tuổi (65-70).

Sờ trán nóng là bao tử nhiệt thì đúng với nhịp tim đo được bên trái 75, do thức ăn nhiệt, bên phải 72 (tiêu chuẩn 65-70)

Tập bài vuốt cổ cho hạ khí làm áp huyết hạ thấp, và nằm Kéo Ép Gối Thổi Hơi Ra Làm Mềm Bụng 200 lần thông khí toàn thân, bài Vỗ Tay 4 Nhịp điều chỉnh tim co bóp cho nhỏ lại, vì bị hở van tim,

Hướng dẫn một bệnh nhân tập mẫu bài Kéo Ép Gối. Khi bao tử ra hết hơi thì bướu cổ hết, nếu không thổi ra hay tập niệm Phật cho hơi thoát ra mà cứ hít vào bướu cổ càng phình to, sẽ làm hơi thở ngắn, khó thở trở thành bệnh suyễn. Muốn cho khí xuống thì không thở bằng phổi sẽ hít vào nhiều hơn thở ra, còn bịt mũi (nhét bông gòn) thở bằng miệng là thở sâu xuống bụng thì khí bao tử đi xuống, áp huyết xuống, khí của bướu đi xuống và làm hạ áp huyết, vị khí sẽ xuống làm tiêu hóa thức ăn.

Nếu hít vào bằng mũi mà bị bệnh suyễn ngắn hơi hụt hơi, lâu lâu lại phải xả khí thành thở dài, lại sinh ra bệnh thỉnh thoảng thở dài, nếu thêm chán đời nhiều năm 5-10 năm, thì lại biến thành bệnh ung thư vú, khi áp huyết và đường xuống thấp.

Hay buồn ngủ là thiếu đường, bệnh nhân vừa ăn chè đường mới lên được 7.4mmol/l, nếu chưa ăn thì đường sẽ thấp hơn như 5.0mmol/l. Điều kiện tế bào biến thành ung thư do thiếu khí lực, thiếu huyết lực, thiếu đường.

Đừng sợ dư đường, chỉ đi lên đi xuống cầu thang đường xuống nhanh lắm, chỉ cần tập khí công không bao giờ sơ bị bệnh tiểu đường.

21-Hướng dẫn tập thể dục Khí Công Tịnh Độ

Ở phút 1:20:32 đến hết.

Thân

doducngoc

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 260 other followers

%d bloggers like this: