Bài 359 : Cách chữa Bệnh thoái hóa thần kinh vận động một bên do thiếu chất dinh dưỡng cơ. (Amystrophic Lateral Scherosis)

TỰ HỌC CHỮA BỆNH QUA ĐIỆN THƯ

Xin gởi câu hỏi về doducngoc@gmail.com

o O o

Bài 359:

Cách chữa Bệnh thoái hóa thần kinh vận động một bên do thiếu chất dinh dưỡng cơ. (Amystrophic Lateral Scherosis)

Câu hỏi:

Kính thưa thầy Ngọc,

Tôi là T.Th. ở Houston, Texas, bạn của anh Nguyễn Quý Thành ở Edmonton (Thời Bảo) . Tôi nhận được email của anh Thành giới thiệu về Thấy và cho biết địa chỉ email của Thầy đề liên lạc trực tiếp hỏi thăm Thầy về việc trị bình bằng Khi Công Y Đạo rất hiệu nghiệm mà chính anh đã được chứng kiến trong chuyến Thầy viếng thăm Edmonton vào tháng 9 vừa qua.

Tôi được đọc bài thuyết giảng và xem video của Thầy trị bình tê liệt, câm, và cong ngón tay cho người bị stroke của anh Thành gởi đến và tôi cảm thấy rất là kinh ngạc và vô cùng thán phục trước hiệu quả của môn Khi Công Y Đạo và tài năng của Thầy đổi với một căn bịnh mà Tây Y đã không chưa được.

Tôi xin phép hỏi Thầy là phương pháp này có chữa được cho người cũng bị cong tay, tiếng nói bị ngọng và tay chân bị yếu dần đi vì bịnh ALS (Amystrophic Lateral Scherosis) thường được gọi là Lou Gehrig’s disease hay không vì bịnh này hiện nay Tây Y không có phương cách nào chữa trị cá.

Rất mong nhận được hỏi âm của Thầy và cảm ơn Thầy đã đọc Email này.

Trân trọng,

T Th.

Trả lời :

Theo nguyên tắc đông y, tất cả mọi bệnh tật đều do khí và huyết làm ra, Như vậy cần phải kiểm soát khí và huyết theo tiêu chuẩn của khí công bằng máy đo áp huyết ở hai tay trước và sau khi ăn 30 phút để so sánh tìm nguyên nhân bệnh, xếp vào loại : khí thừa hay thiếu, huyết thừa hay thiếu, khí và huyết tắc hay thông. Tất cả dấu hiệu bệnh mà đông tây y chữa trị đều là chữa ngọn nên không khỏi, vì không điều chỉnh gốc bệnh từ khí huyết hư thực hay không thông mà ra, nên cách chữa của khí công rất đơn giản.

Tôi kể cho chị nghe một thí dụ méo mó nghề nghiệp một tí nhé :

Một bác sĩ rất giỏi người ngoại quốc, gặp một bệnh nhân VN nằm co gối ôm bụng ngất ở giữa đường, ông đem về bệnh viện, không biết chữ nghĩa, không có thông dịch. Bệnh nhân chỉ vào bụng mặt nhăn nhó.

Bác sĩ sẽ cho đi thử máu, chụp bao tử và ruột, chờ kết qủa. Bệnh nhân lại càng nhăn nhó chỉ vào bụng, bác sĩ tưởng đau lại chính thuốc ngủ cho bệnh nhân khỏi đau, sau khi bệnh nhân ngủ một giấc, tỉnh dậy lại chỉ vào bụng lăn lộn, lấy bàn tay đập mạnh vào bụng nhiều lần, bác sĩ chẩn đoán là bệnh đau thần kinh lại chích thuốc giảm đau, lại đi chụp hình thử máu. Cuối cùng bệnh nhân chết vì đói bụng không có ăn đã nhiều ngày, ra dấu đói bụng mà bác sĩ cứ khám với xét nghiệm thử máu hoài không tìm ra bệnh, các tế bào không được nuôi dưỡng, khí huyết thiếu, tim không thể hoạt động đã ngưng đập đi vào giấc ngủ sâu.

Kết luận :

Những bệnh tây y tìm ra nguyên nhân, đặt tên bệnh và không có cách chữa, theo đông y chỉ là hậu qủa biến chứng thiếu hay thừa khí huyết làm ra bệnh, do đó khí công chữa vào gốc bệnh là khí huyết chứ không chữa thẳng vào ngọn, do đó bệnh gì cũng cần phải điều chỉnh lại khí huyết và tập luyện khí công làm cho khí huyết lưu thông thì bệnh mau khỏi.

Tôi gửi chị xem trong 38 chứng bệnh gan, chị cho biết bệnh trạng của anh ấy hiện nay liên quan đến bao nhiêu chứng, cho tôi biết, tôi sẽ gửi tiếp phần ba về cách chữa.

Thân

doducngoc

Phần một : Cách chữa bệnh ALS theo tây y :

A-Nguyên nhân :

Bệnh này còn được gọi là Lou Gehrig sau khi một cầu thủ bóng chày nổi tiếng ở New York Bắc Mỹ được chẩn đoán bị bệnh này vào năm 1939. Bệnh Amystrophic Lateral Scherosis được gọi tắt là bệnh ALS mà ngành y khoa hiện nay chưa chữa được, chỉ làm cho bệnh chậm phát triển, nhưng đã tiên liệu rằng những bệnh nhân ALS không thể đứng và đi bộ ra khỏi giường một mình, tay và cánh tay không cử động được. Trong giai đoạn cuối của bệnh này hệ thống hô hấp suy yếu khó thở, phải dùng máy hô hấp để kéo dài sự sống, nếu không sẽ chết vì suy hô hấp thường là trong vòng 3-5 năm, khoảng 10-20% sống được trên 10 năm.

Bệnh này thưòng xảy ra ở lứa tuổi 40-60, gây ra bởi yếu tố di truyền, các nhà khoa học đã tìm ra nguyên nhân 1/10 trong số này có liên quan đến sự đột biến ở gene sản xuất chất đồng, kẽm(Cu/Zn superoxide dismutas gọi tắt là SODI từ năm 1993, đến nay các nhà khoa học đã tìm ra hơn 110 đột biến khác nhau trong SODI nhưng vẫn chưa hiểu tại sao bị đột biến gen dẫn đến thoái hóa tế bào thần kinh vận động, triệu chứng bệnh ALS là bệnh thoái hóa thần kinh do nhiều tập hợp protein khác bao gồm cả bệnh Alzheimer, Parkinson, Huntington, và bệnh Prion.

Tóm lại nguyên nhân chưa tìm ra chính xác.

B-Triệu chứng :

ALS thấy rõ những dấu hiệu là teo cơ, co giật, chuột rút co cứng, ảnh hưỏng đến một cánh tay hay một chân. Ban đầu có dấu hiệu đi đứng khó khăn hay vấp ngã, hay tay không làm được những động tác khéo léo để cầm vật gì, để viết, cài nút áo.

Khoảng 25% phát hiện bệnh từ hành tủy, các dấu hiệu khác như khó nuốt, cử động lưỡi khó, dần dà đến hô hấp khó khăn, co rút cơ liên sườn, thỉnh thoảng có những phản xạ bất thường không kiểm soát được gọi là dấu hiệu Babinski do co rút thái quá làm các ngón chân co rút cứng, không kiểm soát được tiếng cười tiếng khóc do thoái hóa hành tủy ảnh hưởng đến thần kinh vận động cảm xúc, suy giảm trí nhớ.

Theo ước tính ở Hoa Kỳ mỗi năm có khoảng 5000 người được chẩn đoán bị căn bệnh này.

C-Điều trị : Chỉ làm chậm sự tiến triển.

Chữa bằng Tinh :

Cơ quan Quản Lý Thực-Dược Phẩm (FDA) đã chấp thuận chỉ có một loại thuốc điều trị cho bệnh này là Riluzole (Rilutek) được cho là thuốc bảo vệ thần kinh làm giảm thiệt hại cho tế bào thần kinh vận động bằng cách giảm sự vận chuyển kích hoạt chất glutamate, tạo hiệu ứng với Natri và calci trong máu, ức chế protein kinase C và thúc đẩy NMDA (N-methyl d-Aspartate) đối kháng thụ thể, giúp kéo dài sự ổn định thần kinh, nhưng cũng sẽ làm tổn thương gan, và các tác dụng phụ khác.

Bác sĩ có thể kê toa thuốc giúp bệnh nhân giảm mệt mỏi, chuột rút, đờm, nước bọt, trầm cảm, mất ngủ, táo bón, chứng khó nuốt…

Các loại thuốc bổ sung như vit.C, liều cao những vitamine dinh dưỡng.

Các y tá điều dưỡng chuẩn bị các bữa ăn nhỏ trong suốt nhiều ngày cung cấp đủ calorie, càng nhiều calorie càng tốt không giới hạn, chất xơ, chất lỏng tránh thực phẩm khó nuốt, bệnh nhân có thể tập hút thức ăn qua ống hút. Khi bệnh nhân không ăn hay nuốt được, bác sĩ sẽ cho ăn bằng ống thông vào bao tử giúp giảm nguy cơ bị nghẹt thở và viêm phổi khi thức ăn lọt vào phổi.

Một nghiên cứu mới đây bằng cách sử dụng liều cao B12 Ultra-Methylcobalamin tiêm vào tĩnh mạch có tác dụng bảo vệ tế bào thần kinh vỏ não đang được nghiên cứu ở Nhật.

Các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu đến sự can thiệp của RNA nhằm vào các gene đột biến SODI, mặt khác cũng nghiên cứu đến Insulin-like đang được thí nghiệm lâm sàng cho bệnh nhân ALS ở Ý đã chứng minh có hiệu qủa, nhưng sản phẩm này đã không bao giờ được chấp thuận bởi FDA.

Chữa bằng Khí :

Tây y khuyên bệnh nhân chữa trị thêm bằng khoa Vật Lý Trị Liệu trong suốt quá trình mang bệnh ALS. như tập thể dục Aerobic, đi bộ, bơi lội, tập đạp xe đạp bằng máy để tăng cường cơ bắp, chống mệt mỏi, trầm cảm, bài tập kéo dài thời gian có thể giúp ngăn ngừa đau đớn do co rút cơ bắp.

Bệnh nhân khó thở có thể cho thở bằng mặt nạ tiếp oxy khi cơ thể bệnh nhân không còn đủ khả năng duy trì mức độ khí oxy và carbon.

Chữa bằng Thần :

Tây y khuyên bệnh nhân điều trị thêm bằng khoa châm cứu, Reiki, hay xoa bóp, vì đến nay chưa có nghiên cứu nào chứng minh những phương pháp này có ảnh hưởng làm nguy hại đến bệnh, nó có lợi làm thư giãn thần kinh gân cơ.

Phần hai : Cách chữa bệnh ALS theo đông y khí công .

A-Khám Bệnh :

Khám bệnh theo tây y nhưng tìm nguyên nhân bằng cách phân tích những dấu hiệu bệnh (mà tây y đã liệt kê ở những chữ in nghiêng bên trên) quy về ngũ hành tạng phủ như :

1-Không thể đứng và đi bộ ra khỏi giường một mình : Theo đông y có nghĩa là mất thăng bằng do thiếu máu não, hoặc chân yếu do thiếu máu nuôi chân, hoặc chân co cứng do đường trong gan thấp, nếu đo đường ở huyệt Đại Đôn bên chân phải sẽ có kết qủa dưới 5.0mmol/l. Đông y quy về bệnh thuộc gan, do ăn kiêng chất ngọt.

2-Tay và cánh tay không cử động được : Theo đông y do thiếu khí huyết, thử nghiệm bằng cách nhéo vào da tay không có cảm giác đau, và da không ấm, có nghĩa là không đủ máu dẫn truyền ra thần kinh cảm giác ở da.

3-Suy hô hấp : do thiếu khí ở phổi, nguyên nhân do thần kinh phế vị và thần kinh liên sườn co thắt, theo đông y chức năng gan điều chỉnh và nuôi dưỡng các sợi gân cơ thần kinh, nên quy bệnh thuộc về chức năng gan.

4-Dấu hiệu là teo cơ, co giật, chuột rút co cứng, ảnh hưỏng đến một cánh tay hay một chân : theo đông y là gan thiếu máu thiếu đường và gan bị teo, trong máu thiếu calci.

5-Bệnh từ hành tủy, các dấu hiệu khác như khó nuốt, cử động lưỡi khó, dần dà đến hô hấp khó khăn, co rút cơ liên sườn : Chức năng của gan làm co rút gân cơ, làm các dây thần kinh và ống dẫn máu teo nhỏ lại, nên cơ bắp không được cung cấp máu.

6-Không kiểm soát được tiếng cười tiếng khóc do thoái hóa hành tủy ảnh hưởng đến thần kinh vận động cảm xúc, suy giảm trí nhớ : Chức năng của gan chỉ huy tất cả mọi chức năng thần kinh, theo đông y, khi hoạt động tình dục, tinh trong người xuất ra trung bình 40g mỗi lần, nên các vị tổ sư đông y rất xem trọng và bảo tồn máu cho cơ thể, và rất tiếc sự lãng phí làm mất máu trong việc lạm dụng tình dục, nên mới ví rằng :

40g máu mới tạo được 1g tinh,
40 g tinh mới tạo được 1g tủy,
40g tủy mới tạo được 1g tế bào não.

Do đó khi hành tủy bị thoái hóa tức là số lượng tủy giảm thì cơ thể đã mất đi rất nhiều máu, trong khi đó bình thường gan là kho chứa máu và chuyển máu lên tim co bóp để dẫn máu đi nuôi các tế bào trong cơ thể sẽ không còn đủ lượng máu nuôi các tế bào, các tế bào sẽ bị thoái hóa và chết dần gây ra nhiều biến chứng trầm trọng khác cho đến khi khí huyệt khô cạn làm tim ngưng đập.

B-Định Bệnh :

Định bệnh theo đông y lại khác với tây y. Khi khám bệnh có dấu hiệu bệnh thuộc gan, nhưng theo ngũ hành tạng phủ, tìm nguyên nhân gây bệnh phải theo ngũ hành, tức là đặt câu hỏi tại sao gan bị bệnh, thuộc chứng bệnh hư hay chứng bệnh thực, do hành mẹ hay hành con làm ra bệnh, biến chứng đã truyền đến kinh nào….nguyên nhân do huyết hư hay khí hư hay cả hai khí và huyết đều hư…từ đó mới tìm được đúng gốc bệnh để điều chỉnh cho các chức năng khí hóa của ngũ hành trở lại bình thường thì cơ thể khỏi bệnh.

Theo bài viết của Bác sĩ Nguyễn Ý Đức về chức năng gan (Gan Nhiễm mỡ) :

…….

Gan được ví như một nhà máy chế biến hóa học cực kỳ tinh vi với cả trăm nhiệm vụ quan trọng khác nhau.

1.Gan là kho tiếp nhận đường glucose hấp thụ từ ruột non rồi tích trữ dưới dạng glycogen. Sau mỗi bữa ăn, khi đường huyết lên cao thì insulin từ tụy tạng sẽ thúc đẩy gan biến hóa glucose thành glycogen. Vài giờ sau đó, khi đường huyết xuống thấp, gan lại chuyển glycogen ra glucose, đưa vào máu và cung cấp cho các bộ phận có nhu cầu.

2.Ngoài vai trò kể trên, gan còn biến hóa đường và chất béo thành chất đạm và cũng làm chất đạm và chất béo biến thành glucose.

3.Gan chế tạo khoảng 0.5-0.9 lít mật mỗi ngày. Mật là chất lỏng mầu vàng-xanh, vị đắng với thành phần cấu tạo quan trọng nhất là muối mật, cần thiết cho sự tiêu hóa chất béo trong thức ăn.

4- Gan loại bỏ các chất độc hại như rượu, một vài loại dược phẩm như acetaminophen.

5.Gan tổng hợp ure, một phế chất trong sự chuyển hóa chất đạm và loại ra ngoài qua thận.

6.Gan hủy hoại các hồng huyết cầu hư hao, già nua cũng như tiêu diệt các vi khuẩn lẫn trong thực phẩm ở ruột.

7.Gan tích trữ các sinh tố A, B, D,E và K

8- Gan tạo ra các chất đạm trong máu như albumin, globulin và yếu tố đông máu.

…………….

Về bệnh lý theo đông y :

Xét những dấu hiệu bệnh kể trên theo tây y rồi đối chiếu với 2 chứng âm hư và dương hư của đông y, xem bệnh đó thuộc chứng âm hay dương hư, hay cả hai :

Chứng bệnh thuộc âm hư : có nghĩa là thiếu hoặc mất đi các dịch chất trong cơ thể, quan trọng nhất là máu sẽ có những dấu hiệu bệnh chung, nhưng chưa có thể chữa được mà cần phải biết rõ nó bị hư ở tạng nào là chính vì nếu thiêu âm ở tạng nào thì tạng đó cũng có dấu hiệu riêng như :

Dấu hiệu chung để khám tổng quát : Là âm dịch thiếu, có dấu hiệu lòng bàn tay bàn chân nóng, sốt cơn về chiều, miệng khô, môi đỏ, chất lưỡi đỏ nhạt,táo bón, tiểu vàng.

Dấu hiệu riêng của mỗi tạng :

Tâm âm hư: Hồi hộp, hay quên, mất ngủ hay mê, chất lưỡi đỏ nhợt, rêu ít.

Can âm hư: Đau đầu, choáng váng,ù tai,tê dại, run rẩy,quáng gà, chất lưỡi đỏ khô, rêu ít.

Phế âm hư: Khí nghịch, ho đờm dẻo dính lẫn máu,gò má đỏ, sốt nhẹ về chiều,mồ hôi trộm,miệng khô, họng ráo, khàn tiếng, ngủ không ngon, chất lưỡi đỏ, rêu ít.

Thận âm hư : Lưng gối mỏi đau, di tinh, ù tai, váng đầu, ngủ kém, hay quên, khô miệng, chất lưỡi đỏ, rêu ít.

Chứng bệnh thuộc dương hư dùng để khám tổng quát : có nghĩa là khí trong cơ thể thiếu thì có dấu hiệu chung là sắc mặt trắng nhợt, chân tay không ấm, môi nhợt, miệng nhạt, tiểu nhiều, trong, phân loãng, chất lưỡi nhạt, rêu trắng trơn, và có dấu hiệu riêng của tạng bị hư.

Dấu hiệu riêng của mỗi tạng :(bỏ qua vì không thuộc phạm vi bài này)

Nếu chúng ta là bác sĩ tây y, hiểu theo cách chữa gốc bệnh của đông y, thì những dấu hiệu bệnh thử nghiệm đã được kết qủa nhưng không cần chữa, vì theo đông y chỉ là hậu qủa và biến chứng của gốc bệnh. Vì giai đoạn này đông y đã trải qua mấy ngàn năm rồi.

Sự nghiên cứu của đông y có ba giai đoạn :

Giai đoạn một nghiên cứu mổ xẻ thử nghiệm :

Mấy ngàn năm trước thầy thuốc cung đình (thái y) cũng đã phân tích thử nghiệm tìm ra những dấu hiệu bệnh như tây y, nhưng không phải bằng những máy móc hay những con số cụ thể như ngày nay, mà bằng cảm nhận khi xin phép nhà vua cho thử nghiệm mổ xẻ trên thân xác sống của những tử tội, từ năm này sang năm khác, đời nay người ta gọi là các nhà nghiên cứu hay bác học, họ đã châm bao nhiêu là huyệt, nhét vào cơ thể tử tội bao nhiêu là thuốc thử nghiệm, rồi mổ xẻ cơ thể để xem phản ứng của cơ thể với huyệt với thuốc…. sau đó họ viết ra những nhận xét kinh nghiệm để đem dạy trong trường y (đông y), cũng nhờ đó các thầy châm cứu mới tìm ra những huyệt châm để gây tê, gây mê để mổ xẻ bệnh nhân không cảm thấy đau.

Các nhà nghiên cứu những đời sau mặc dù đã có những tài liệu hướng dẫn của những đời trước để lại kinh nghiệm, cũng chưa tin, hoặc cảm thấy chưa đủ, lại mổ xẻ nghiên cứu trên tử tội.

Giai đoạn này các thầy thuốc đều chữa vào ngọn là dấu hiệu bệnh nên không có kết qủa.

Giai đoạn hai : Truy tìm nguyên nhân gốc bệnh

Căn cứ theo dịch lý, sự biến đổi tuần hoàn của trời đất là biến đổi của đại vũ trụ, thì con người là một tiểu vũ trụ, cũng lệ thuộc vào ngũ hành, như hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy sinh mộc, mộc sinh hỏa (thí dụ dễ hiểu là sau đám lửa cháy là hỏa, thì tất cả thành tro đất là thổ, bới trong đất còn kim loại là thồ sinh kim, đốt mọi thứ đều cháy chỉ có kim là chảy ra nước gọi là kim sinh thủy, chỗ nào có nước là có cây cỏ mọc gọi là thủy sinh mộc, chỗ nào có cây là có chất đốt, hay rừng cây khô hay bị cháy rừng, gọi là mộc sinh hỏa).

Đem ngũ hành tượng trưng cho tạng phủ thì cơ quan nóng nhất của con người là tim, gọi là tâm hỏa, bao tử là thổ, phổi là kim, thận là thủy, gan là mộc. Với lý luận ngũ hành theo biến dịch này để truy tìm nguyên nhân bệnh. Các vị thái y lại mổ xẻ thử nghiệm trên cơ thể sống của tử tội, những huyệt những thuốc không phải là chữa vào ngọn nữa mà chữa theo ngũ hành tương sinh, tương khắc.

Thí dụ lý thuyết, lò lửa sắp hết lửa phải tăng thêm củi, áp dụng vào cơ thể, khi tim hỏa suy yếu, người lạnh, mạch đập chậm, chữa bổ gan mộc, cho những thuốc làm mạnh gan mộc hay châm vào huyệt gan để nuôi tim…. và theo dõi trên tử tội thấy người ấm, bắt mạch thấy nhanh hơn…

Cứ lý luận theo ngũ hành tương sinh như con hư bổ mẹ như tim hư bổ gan, gan hư bổ thận, thận hư bổ phồi, phổi hư bổ bao tử, bao tử hư bổ tim…

Có khi chữa theo ngũ hành tương khắc, như thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim, kim khắc mộc, mộc khắc thồ, thổ khắc thủy, lại mổ xẻ thử nghiệm những huyệt, những thuốc trên cơ thể tử tội, thí dụ bệnh bón là do người nhiều hỏa nhiệt, phải dùng huyệt hay dùng thuốc làm tăng thủy như hoa cúc, địa hoàng…thì thấy tử tội xổ đi cầu được ra phân lỏng dễ dàng…

Những vị thái y thử đủ mọi loại thuốc, thử đủ mọi loại huyệt, mới thống kê huyệt nào chữa bệnh gì, huyệt nào công hiệu hơn huyệt nào, thuốc cũng được thống kê loại nào chữa bệnh nào, loại nào công hiệu nhanh, loại nào công hiệu chậm, phối hợp thuốc thành thuốc sắc cũng được thử nghiệm… bao nhiêu kinh nghiệm tích lũy được những thái y đời sau không tin cứ xin phép vua cho nghiên cứu mổ xẻ thử nghiệm lại.

Giai đoạn ba kiểm chứng trên lâm sàng :

3-4 ngàn năm sau thử nghiệm lại đều giống như những kết qủa theo sách vở để lại, cho đến khi các thái y học thuộc lòng dấu hiệu triệu chứng lâm sàng và cách truy tìm gốc theo ngũ hành để chữa được mọi bệnh đ ều thấy đúng, họ tuyên bố : Cái gì đã biết rồi thì thôi không cần phải mổ xẻ nữa. Lúc đó mới xin phép nhà vua ra lệnh cấm không được mổ xẻ tử tội nữa.

Cho nên học đông y là học cách chữa bệnh toàn khoa, có nghĩa là chuyên môn về nhiều khoa tim gan tỳ phế thận đều điều chỉnh theo ngũ hành. Người nào chỉ biết chữa chuyên khoa một bệnh dù có giỏi đến đâu cũng chỉ là chữa ngọn, vì gốc bệnh liên quan đến nhiều tạng phủ khác, chúng phải được phục hồi chức năng đồng bộ, chứ không thể chữa chỉ vào một hành, mà bỏ các hành khác được.

Nếu thời nay tây y biết được điều đó, thì riêng bệnh ALS, chúng ta thử xem, nếu gốc bệnh chỉ ở gan hư, thì đông y có rất nhiều bệnh chứng của gan hư, nhưng khi chữa, các thầy thuốc tuy giỏi như nhau nhưng được đánh giá làm ba hạng : bậc hạ công, trung công, thượng công.

Cách chữa của bậc hạ công là chỉ chữa ngọn, cho bệnh nhân thấy những dấu hiệu bệnh đều khỏi, sau biến chứng mới phát sinh thì chữa tiếp, chữa như vậy, thế gian gọi là thầy hay, nhưng đâu ngờ biến chứng cứ sinh ra những bệnh mới chữa từ năm này đến năm khác rồi bệnh nhân chết vì gốc bệnh không chữa mới sinh biến chứng.

Cách chữa của bậc trung công nhân đạo hơn, đông y nói chữa khi chưa bệnh. Câu này không bao giờ tây y hiểu, vì chưa có bệnh làm sao mà chữa, vì không hiểu quy luật ngũ hành.

Thí dụ như bệnh gan hư như bệnh ALS, gan là mẹ cung cấp máu, cung cấp khí, hay cung cấp năng lượng nuôi tim để tim làm việc, bây giờ nó hư yếu không nuôi con là tim, thì tim cũng sắp bị bệnh, nên đông y ngừa biến chứng trước, chữa bổ tim làm cho tim hoạt động mạnh, đẩy máu tuần hoàn nuôi khắp tế bào, nuôi dưỡng các thần kinh gân cơ để ngưng không cho bệnh phát triển thêm trong thời gian đang chữa gan giúp gan hồi phục chức năng mạnh lại như xưa. Cách chữa này chậm, nhưng không làm nguy đến tính mạnh bệnh nhân.

Cách chữa của bậc thượng công : chữa ngừa biến chứng lo chữa phục hồi chức năng tim cho đẩy máu tuần hoàn nuôi các tế bào. Phục hồi chức năng gan, bổ máu cho gan, bổ khí cho gan để phục hồi lại chức năng gan, hấp thụ đường, oxy, tăng hồng câu, tăng lượng máu. Bổ gốc bệnh là chữa vào thận thủy là mẹ của gan mộc, làm nhiệm vụ lọc máu, chuyển hóa điều hòa muối, đường, mỡ, nước, vôi, đem máu tốt và năng lượng nuôi gan cho gan đủ máu tốt bơm máu đi khắp toàn thân.

Sau đó điều chỉnh bao tử cho ăn uống hấp thụ và chuyển hóa thức ăn thành chất bổ máu nuôi cơ thể, khi thổ mạnh, sẽ cung cấp năng lượng cho con là phổi, khi phổi mạnh thì hít thở trao đổi oxy dễ dàng làm tăng hồng cầu và ổn định oxy để duy trì công thức máu Fe2O3 thì máu trong gan không bị thiếu oxy làm đột biến gene, muốn để phổi được tự phục hồi không cần phải lo cung cấp năng lượng cho con là thận thủy, thì cần phải tập khí công để chữa thận để thận là con của phồi mạnh không cần đến năng lượng của mẹ là phổi, để phổi đuợc nghỉ ngơi tự dưỡng bệnh. Nghĩa là bậc thượng công chữa toàn khoa. Vì tây y không hiểu mới cho là đông y chữa tầm bậy theo kiểu đau đông chữa tây.

Tại sao bệnh ALS đông y xếp vào chứng bệnh của gan, nếu chúng ta là bác sĩ tây y, chịu khó ngồi nghiên cứu xem những dấu hiệu mà các nhà khoa học hiện nay tìm được và đang nghiên cứu thuốc chữa là chữa vào loại gan nào trong những chứng bệnh của gan. Trong khi đó đông y vừa chữa vào tim, vào thận giúp những dấu hiệu bệnh của gan biến mất theo quy luật ngũ hành. Do đó quy luật ngũ hành tạng phủ dùng để lý luận quy kinh theo đông y rất quan trọng.

Sau đây chúng ta nghiên cứu chứng bệnh gan có liên quan đến bệnh ALS :

Đông y có 38 chứng bệnh về gan, nhưng có những chứng liên quan đến ALS về gân cơ tay chân làm cử động khó và yếu.

Theo đông y, dấu hiệu của một chứng, khi còn nhẹ thì có ít dấu hiệu, nhưng khi chữa không đúng, những dấu hiệu của chứng đó càng nhiều, do đó đông y đúc kết đầy đủ các dấu hiệu có trong một chứng, người này có thể có dấu hiệu bệnh này, người kia có dâu hiệu bệnh khác, nếu mình có một dấu hiệu giống chứng đó, thì cách chữa của đông y là phải tìm ra nguyên nhân nào tạo ra cứng đó để chữa vào gốc bệnh.

1-Chứng gan hư : có dấu hiệu như :

Thị lực giảm do không đủ máu nuôi mắt, gân giãn tay chân yếu, sa xệ trường vị, tử cung dây chằng, sinh dục giảm, nghẹt cứng dưới tim, tiểu nhiều lần do cơ vòng yếu, bụng căng sình, ù tai, thính lực giảm, hoa mắt, choáng váng, tê dại, móng chân tay khô, cảm thấy sợ như có ai bắt, huyết áp giảm. Can hư mãn tính làm ra chứng can cực gây nên co giật run.

2-Chứng can thực :

Cứng đau sườn ngực lan xuống bụng dưới, đau mắt, chóng mặt, nhức đầu, nóng lạnh, áp huyết tăng ,nôn mửa nước chua, ho suyễn, thở kém, gân tay chân co rút, điếc do co thắt, trường vị co thắt, bón, ngoại vi ứ trệ, có bệnh liên quan đến sinh dục, ưa tức giận nổi nóng cáu gắt.

3-Chứng can dương vượng :

Đầu nặng chân nhẹ, áp huyết tăng cao, mặt đỏ, đau một bên đầu, tai như ve kêu, sườn tức đầy đau, ngón tay tê rần, lưỡi đỏ.

4-Chứng can phong :

Đầu váng, hoa mắt, cơ co giật, da tê rần, lưng nẩy ngược, chân tay rút giật không kềm chế được, trúng phong nhẹ làm miệng méo, mắt xếch, lưỡi lệch nói khó, trúng phong nặng thình lình té ngã làm tê liệt nửa người, hoặc hôn mê coma, hoặc tử vong, lưỡi trắng không rêu.

5-Chứng can phong nội động :

Ngoại cảm phong tà là bệnh thuộc chứng của lục dâm khác với bệnh do gan tạo ra trong cơ thể gọi là can phong nội động. Chức năng của gan chủ huyết, chủ gân, ống mạch máu, sợi thần kinh, tàng hồn, khai khiếu lên mắt, theo đường kinh mạch lên đỉnh đầu vào não, khi nội phong trong gan động lên sẽ làm ra bệnh tùy theo hư chứng hay thực chứng:

Hư chứng do âm dịch (huyết) hư tổn gọi là hư phong nội động như chứng can dương thượng cang, gây ra sung huyết não, tụ huyết bầm trong não, tai biến mạch máu não, làm tê liệt bán thân bất toại, gân tay chân xuội lơ, chùng giãn gân.

Thực chứng do dương nhiệt cang thịnh gọi là nhiệt cực sinh phong, gây ra tai biến mạch máu não làm tê liệt bán thân bất toại, gân tay chân co cứng.

6-Chứng can huyết hư :

Sắc mặt vàng uá, thị lực giảm, hư phiền, mất ngủ, kinh nguyệt không đều, thường gặp ở bệnh thiếu máu, bần huyết, bệnh thần kinh đau nhức, bệnh mắt, bệnh kinh nguyệt.

Can huyết hư sinh phong làm rút gân, chân tay co quắp, da tê, kinh nguyệt ra ít mầu nhạt.

7-Chứng can huyết hư hàn :

Huyết hư hàn không nuôi gan làm nhiệm vụ khí hóa nên gân mạch yếu, tuần hoàn huyết không ra đến đầu ngón tay chân làm thoái hóa các đốt ngón khó cử động co duỗi, gân lưng co rút cong vẹo.

8-Chứng cân tý :

Đau do gân co rút ở một trong các khớp khi co duỗi do tà khí phong, hàn, thấp xâm nhập vào.

C-Phân tích áp huyết :

Áp huyết sau khi ăn, áp huyết tâm thu không tăng nhưng mạch tăng 95, điều đó chứng tỏ cơ thể thiếu máu (131/91/95) theo cách tính của khí công như sau :

Bình thường một người khỏe mạnh đầy đủ khí huyết, thì mạch đập 75. Lấy tiêu chuẩn đó, vì thiếu máu nên nhịp tim phải đập nhanh đẩy máu lưu thông cho kịp một chu kỳ tuần hoàn, đó là áp huyết giả, áp huyết thận của cơ thể sẽ là :

95-75=20 nhịp tim đã đập nhanh hơn 20 nhịp, lấy số tâm thu 131-20=111, áp huyết thật sẽ là 111/91mmHg mạch 75 so với tuổi 42, thì đông y khí công kết luận cơ thể vừa thiếu khí vừa thiếu máu. Có nghĩa là thiếu máu nên mạch tim nhanh, thiếu khí là áp huyết tâm thu chỉ có 111 thay vì áp huyết phải là :

120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)

Áp huyết thật trước khi ăn sẽ là : (84-75=9), số đầu trừ đi 9, áp huyết thật là : 131/96mmHg 75

Áp huyết thật sau khi ăn : (97-75=22), số đầu 132 trừ 22, áp huyết thật là 110/89mmHg mạch 75

Bệnh còn nhẹ, nếu áp huyết dưới 100 là nặng, nhưng mạch tim đập nhanh, theo đông y gọi là nhiệt.

Như vậy bệnh ALS của tây y thì theo đông y có 8 loại, và loại bệnh của cháu đông y xếp vào loại Chứng Can Huyết Hư Nhiệt.

Phần ba : Điều chỉnh theo Tinh-Khí-Thần

Phương pháp chữa bệnh theo đông y khí công chính là điều chỉnh lại Tinh-Khí-Thần……

Tinh :

1-Ăn uống những chất bổ máu, thông máu, như B-12, Multivitamines, ăn lẩu đồ biển, Swical Energy….

2-Kiêng ăn những chất béo, sau mỗi bữa ăn uống trà Điền Thất (bột sống) để làm thông máu, tan máu ứ nghẹt.

3-Tối đi ngủ uống 20 viên Quế Phụ Bát Vị để cho khí huyết thông ra đầu ngón tay chân, làm ấm các đầu ngón tay chân.

Khí :

Chữa tay theo những video hướng dẫn dưới đây :

Cách vỗ tay http://video.yahoo.com/watch/7956224/21069660
Cách chữa thận, chữa tay tê http://video.yahoo.com/watch/6016139/15638969
Chữa bệnh tay vai http://video.yahoo.com/watch/4695480/12546979
Bấm huyệt chữa đau bả vai và lưng trên (Chùa Linh Sơn, Toronto) http://video.yahoo.com/watch/3884139/10584012
Day vuốt huyệt, cách ép cánh tay và chân gối, thông 12 đường kinh tay chân. (Chùa Linh Sơn, Toronto) http://video.yahoo.com/watch/3883986/10583780
Bài 1 : Bấm huyệt chữa đau tay vai không nâng lên được.
Bài 2 : Đau các khớp tay, khuỷu tay, bàn tay (Chùa Linh Sơn, Toronto)
http://video.yahoo.com/watch/3883616/10582902
Tìm nguyên nhân đau tay bằng máy đo áp huyết. http://video.yahoo.com/watch/6320325/16398009
Thực tập vuốt huyệt trên 6 đường kinh ở cánh tay (Nhà thờ Bélanger, Montreal) http://video.yahoo.com/watch/3874087/10560444
Bệnh co rút cổ cứng gáy chữa bằng huyệt (Chùa Quan Âm, Montreal) http://video.yahoo.com/watch/3780936/10367998
Đau bả vai và lưng trên, chữa bằng huyệt (Chùa Quan Âm, Montreal) http://video.yahoo.com/watch/3773552/10351028
Bệnh Đau tay, máu không thông http://video.yahoo.com/watch/2058803/6494215
Đau vai http://video.yahoo.com/watch/2643907/7758137

Thần :

Tối trước khi đi ngủ 30 phút, nằm tập thở thiền ở Đan Điền Thần : http://video.yahoo.com/watch/7399604/19355646

Thân

doducngoc

About these ads
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 249 other followers