TINH – KHÍ – THẦN:Ba Yếu Tố Quan Trọng trong Phương Pháp Chữa Bệnh của Đông Y

TINH-KHÍ-THẦN

Ba Yếu Tố Quan Trọng
trong
Phương Pháp Chữa Bệnh của Đông Y

o O o

Nếu có một bệnh nhân khai bệnh :” Tôi hay bị mệt, không biết là bệnh gì, nhờ thầy khám và chữa cho “.

Lời khai bệnh trên quá đơn gỉản, rất khó chẩn đoán. Có thể thầy thuốc phải đặt trong đầu nhiều giả thuyết, mỗi giả thuyết của một loại bệnh sẽ có nhiều triệu chứng bệnh khác nhau, và cần phải đặt ra nhiều câu hỏi với bệnh nhân mới tìm ra được nguyên nhân, đôi khi cũng chưa chắc chắn. Cho nên muốn tìm ra được nguyên nhân Tây Y cần phải có những số liệu rõ ràng của các kết quả xét nghiệm như đo tim mạch, chụp X-quang, thử máu, phân, nước tiểu..

Còn đối với Đông Y cũng cần xét nghiệm như Tây Y, nhưng không bằng máy móc mà xét nghiệm tìm ra sự bất bình thường của cơ thể bằng Phương PhápTứ Chẩn là Vọng chẩn, Văn chẩn, Vấn chẩn, Thiết chẩn để tìm ra được tạng phủ tổn thương thực thể hoặc xáo trộn chức năng.

Mục đích của VỌNG CHẨN là nhìn hình, khí, thần, sắc của bệnh nhân.

Hình: Là nhìn thân thể bệnh nhân khỏe mạnh hay yếu, mập hay gầy..

Khí : Là nhìn mặt, da, tai, tóc, móng, răng.. còn tươi nhuận, mềm hay khô cứng, lỗ chân lông kín hay hở., .

Thần: Là nhìn xem tinh thần bệnh nhân còn vui vẻ hoạt bát hay chậm chạp, hoặc lo buồn đau đớn.

Sắc: Là nhìn xem mầu sắc hiện ra ở mặt, da, tay chân, sáng hay tối, đậm hay nhạt, ở mắt xem huyết đủ hay thiếu, mầu sắc hiện ra ở tai, ở lưỡi và bộ vị trên mặt có thuận hay nghịch với ngũ hành..

Mục đích của VĂN CHẨN là nghe giọng nói của bệnh nhân mạnh hay yếu, âm thanh cao hay thấp, to hay nhỏ, nghe hơi thở yếu hay mạnh, dài hơi hay ngắn hơi, hoặc hơi thở bất bình thường do đau đớn..

Mục đích của VẤN CHẨN là đặt những câu hỏi để biết rõ thêm về vấn đề liên quan đến hô hấp, tuần hoàn, tiêu hoá, bài tiết, sinh dục, những sở thích về ăn hợp với vị mặn ngọt, chua, cay, đắng.., thích uống nước nóng ấm hay nước lạnh mát, thích mặc ấm hay mát, mầu nước tiểu, mầu phân, dạng phân cứng hay mềm hoặc lỏng nát, sống sít..để biết rõ thêm về tình trạng bệnh hư, thực, hàn, nhiệt.

Mục đích của THiẾT CHẨN là bắt mạch của 12 đường kinh trên cổ tay theo phương pháp cổ điển. Đối với phương pháp Khí Công Chữa Bệnh sẽ không dùng phương pháp bắt mạch cổ điển, mà được thay thế bằng phương pháp Quy Kinh Chẩn Pháp, áp dụng được nhanh hơn, chính xác hơn và phù hợp với quan điểm Tây Y hơn.

PHÂN BIỆT TÌNH TRẠNG BỆNH

Nhờ tứ chẩn, Đông Y sắp xếp các kết quả xét nghiệm vào tám loại bệnh chứng là :

  • Âm chứng,

  • Dương chứng,

  • Hư chứng,

  • Thực chứng,

  • Hàn chứng,

  • Nhiệt chứng,

  • Biểu chứng,

  • Lý chứng

(gọi tắt là : âm, dương, hư, thực, hàn, nhiệt, biểu, lý) . Nhưng mới chỉ là kết quả của tứ chẩn mà chưa phải là nguyên nhân gây bệnh. Tìm nguyên nhân gây bệnh phải am hiểu tường tận cách lý luận ngũ hành, tức là cách suy luận tìm ra nguyên nhân chính gọi là nhất điểm thông kinh mạch, nghiã là bất cứ một loại bệnh gì có trong cơ thể, thầy thuốc cũng phải tìm ra được ba đường kinh bệnh là chính kinh, kinh mẹ và kinh con. Nếu chỉ có triệu chứng của một đường kinh bệnh, thì kinh đó là chính kinh, khi thời gian bệnh kéo dài, bệnh sẽ truyền kinh, tùy theo hư, thực mà phân biệt được kinh mẹ, kinh con, lúc đó thầy thuốc phải tìm ra đường kinh thuộc tạng phủ nào là nguyên nhân gây bệnh. Khi phân biệt được bệnh ở kinh mẹ, kinh con mới dùng phương pháp chữa bệnh của Đông Y theo nguyên tắc con hư bổ mẹ, mẹ thực tả con, mục đích điều chỉnh lại sự khí hóa cho âm dương hòa hợp thuận ngũ hành. Khi biết phân biệt được tình trạng bệnh theo bát chứng, mới có thể áp dụng cách chữa theo bát pháp như : Xuất-Liễm-Thăng-Giáng-Thổ-Hạ-Hòa-Cố.

Vì thế phép tứ chẩn phải tìm ra được hư thực của bệnh ở biểu hay lý, ở tạng hay phủ, ở thượng, trung hay hạ tiêu và hư thực đó thuộc hàn hay nhiệt mới quyết định dùng cách nào trong bát pháp, tùy theo công dụng của mỗi pháp như sau:

XUẤT : Làm cho tà khí ra theo lỗ chân lông như trục xuất phong nhiệt, mồ hôi, giải cảm..

LIỄM : Là giữ lại không cho thoát trong trường hợp mồ hôi ra nhiều mà cơ thể lạnh, ra mồ hôi trộm, hoặc cơ thể tự nhiên bị mất nhiệt, mất nước, mất máu..

THĂNG : Làm cho dương khí đã bị bế tắc ở dưới thông được lên trên, hoặc thanh khí không lên làm cho trọc khí không xuống.. như bệnh đầu lạnh chân nóng trong bệnh áp huyết thấp, thiếu máu não..

GIÁNG : Làm cho dương khí thông xuống dưới để chữa bệnh đầu nóng chân lạnh, áp huyết cao, sung huyết não, phong hàn thấp làm lạnh đau nhức chân..

THỔ :Làm cho mửa ra khi ăn bị trúng thực khiến cho tà khí ngăn nghẹn ở thượng tiêu.

HẠ : Làm cho xổ theo đường đại tiểu tiện khi có độc tố, tà khí, hoặc trúng thực ở hạ tiêu.

HÒA : Làm dịu lại, hoà hợp lại sự khí hoá đã bị mất quân bình âm dương gây xáo trộn chức năng của tạng phủ. điều chỉnh lại chính khí chỗ hữu dư, chỗ bất túc.

CỐ : Là củng cố, tăng cường làm cho chính khí được mạnh thêm, như bệnh hư hàn, suy nhược thần kinh, thể chất yếu đuối cần phải củng cố lại nguyên khí, tông khí và ngũ tạng khí để tăng cường chính khí phòng bệnh.

Điều cấm kỵ trong cách bổ, tảcấm phạm ngũ hành, nếu phạm sẽ làm cho bệnh nặng thêm, tức là bệnh đã hư làm hư thêm hoặc bệnh đã thực làm thực thêm. Muốn tránh trường hợp này phải tìm nguyên nhân hư thực. Bệnh hư, tại sao hư, vì mẹ nó không nuôi nó, hoặc mẹ nó cũng hư, hoặc mẹ nó không hư nhưng mẹ nó phải tự bảo vệ mình để chặn tà khí đang muốn xâm nhập. Còn bệnh thực, tại sao thực, thực là do tà khí truyền kinh và cần phải truy ngược theo vòng ngũ hành để tìm ra hành nào tự phát, đó gọi là tìm gốc bệnh hay gọi là nguyên nhân gây bệnh, và nguyên nhân gây bệnh gồm ba yếu tố Tinh-Khí-Thần, phải tìm xem do yếu tố nào để điều chỉnh . Khi ba yếu tố Tinh-Khí-Thần hoà hợp thì con người khoẻ mạnh, nếu một trong ba yếu tố xáo trộn sẽ làm mất quân bình sự khí hóa của cơ thể, đó là nguyên nhân gây bệnh.:

TINH : Được cung cấp bởi thức ăn tạo ra khí huyết nuôi cơ thể, nó cũng phải phù hợp với quy luật ngũ hành, tùy theo nhu cầu khi cơ thể có bệnh .Nếu có một món ăn nào đó tuy bổ mà cơ thể đã dư thừa không cần thiết nữa khi ăn vào sẽ bị bệnh.( như dư chất đường sẽ bị bệnh tiểu đường, dư muối làm áp huyết tăng, dư chất béo làm tăng cholesterol hại cho tim mạch, ..Trong trường hợp cơ thể khỏe mạnh, thức ăn uống trở thành chất dinh dưỡng, theo sự khí hóa biến đổi thành huyết, sinh tinh hóa tủy, bồi bổ xương cốt, gân móng da thịt, .râu tóc ..để phát triển .

KHÍ : Là hơi thở, sự vận động, để làm thông kinh mạch khí huyết, thúc đẩy sự khí hóa giúp cho cơ năng dinh dưỡng, hô hấp, tuần hoàn, tiêu hoá, bài tiết, sinh dục..hoạt động tốt .Nếu khí thiếu sẽ không chuyển hóa được thức ăn thành chất bổ gọi là khí hư, ngược lại khí thực làm tắc nghẽn sự tuần hoàn của khí huyết sẽ sinh ra bệnh .

THẦN : Là hệ thống lưới thần kinh điều khiển hệ thần kinh giao cảm, vận động, miễn nhiễm, nội tiết, tâm lý tình cảm..tự động lập ra các chương trình điều hành, kiểm soát, điều tiết các thành phần hóa chất từ thức ăn đem vào cơ thể và duy trì tỷ lệ hợp lý giữa đường, muối, nước, tỷ lệ bạch cầu hồng cầu, tỷ lệ Cl, Na, Ka, Ca..duy trì sự cấu trúc của tế bào..nếu những tỷ lệ này bất bình thường cơ thể sẽ bị bệnh. Khi thử máu, phân, nước tiểu biết kết quả không đúng với tiêu chuẩn chứng tỏ là một hay nhiều chức năng của hàng ngàn chức năng thần kinh đã bị xáo trộn do hưng phấn hay ức chế quá. Trong hàng ngàn chức năng thần kinh liên kết giữa tạng phủ và bộ não, có những chức năng con người đã biết, có những chức năng con người đang nghiên cứu tìm hiểu, và có những chức năng con người chưa biết chúng vẫn đang hoạt động mà chúng ta cảm nhận được, cho nên đôi khi có những căn bệnh ngoài khả năng chữa trị của con người mà bệnh nhân tự khỏi bệnh người ta cho là một phép lạ. Bộ óc con người giống như bộ máy vi tính tinh vi nhất, tùy theo kiến thức mỗi người, có người điều khiển được mấy chục option, có người điều khiển được hàng trăm option, nhưng chưa thể lường hết khả năng của bộ óc con người .Cho nên trong quá trình chữa bệnh của y học, trước kia chữa bệnh bằng thuốc uống, có thứ bao tử chấp nhận được, có thứ nó không chấp nhận được sẽ làm bao tử bị bệnh, ngành y dược lại phải nghiên cứu ra thuốc chích, thần kinh sẽ tự động lập ra chương trình để thích nghi với điều kiện mới ở tỷ lệ nào thì phù hợp, tỷ lệ nào sẽ đối kháng lại, khoa học tiến thêm bước nữa chế ra thuốc chủng, thuốc cấy, hóa quang, phóng xạ trị liệu, hoặc cắt, ghép, lắp đặt, thay thế một bộ phận con người và theo dõi nghiên cứu chờ xem phản ứng tốt xấu tùy vào mỗi bộ não của bệnh nhân.

Đối với Đông Y, THẦN đóng vai trò quan trọng trong việc chữa bệnh. Việc nghiên cứu thần được lập thành hệ thống, và đã ứng dụng, tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong việc chữa trị cả hàng ngàn năm, xây dựng được một hệ thống kinh mạch huyệt đạo căn bản gồm 365 huyệt, mỗi huyệt tạo ra một phản ứng chứcnăng thần kinh, nhưng khi phối hợp huyệt thì lại còn phong phú đa dạng hơn giống như cách phối hợp các thành phần hóa chất để tạo ra một phản ứng hóa học nhất định nào đó.Cho nên các huyệt này vừa để khám bệnh, vừa để chữa bệnh mà không cần phải xét nghiệm nữa, vì khi xét nghiệm hoặc chữa bệnh kết quả đều giốngnhau đối với một huyệt, Đông Y gọi là hiệu năng chữa trị của huyệt đã được đúc kết kinh nghiệm rất phong phú, vì vậy người xưa nói rằng “cái gì chưa biết mới cần phải thử, cái gì đã biết rồi khỏi cần phải thử nữa”.

HỆ THỐNG CẤU TẠO THẦN TRONG ĐÔNG Y:

Về cơ sở vật chất : là bộ óc, tế bào não, trung khu thần kinh, dây thần kinh thông qua cột sống liên lạc với tạng phủ, da, thịt, xương, gân..đến tất cả mọi chỗ của cơ thể.

Về chức năng : Ngoài chức năng của ngũ quan, của trung khu thần kinh, của lục phủ ngũ tạng, của hệ nội tiết, hệ miễn nhiễm, hệ hô hấp, dinh dưỡng, tuần hoàn, tiêu hóa, bài tiết, sinh dục, hệ giao cảm, vận động, phản xạ, hưng phấn, ức chế.. mà khoa học đã biết, còn có những chức năng khác, thường được dùng trong phép chữa bệnh bằng huyệt gọi là hệ nội dược.

Con người, trong cơ thể có chứa sẵn các hóa chất mà từng giây từng phút vẫn trao đổi phản ứng hóa học gọi là phản ứng sinh học tự động để điều khiển mọi chức năng cần thiết cho sự sống, ta tạm gọi là Hệ điều hành và kiểm soát chức năng sinh học tự động.

Thí dụ trong trường hợp bệnh tiểu đường hay bệnh còi xương chẳng hạn, khi phân chất thành phần dinh dưỡng trong thực phẩm ăn uống hàng ngày đều có đủ, nhưng chức năng yếu, không hấp thụ được 100% mà chỉ được 20-30% chất phosphate, calcium trong bệnh còi xương, và hoàn toàn không hấp thụ chất đường, cho nên dư thừa chất vôi, chất đường trong nước tiểu, trong máu. Như vậy ta phải hiểu chương trình điều hành chất vôi và chất đường của THẦN đã yếu hay hỏng cho nên không thu nạp và chuyển hóa thành chất bổ nuôi cơ thể. Tuy nhiên, nếu ta không ăn chất ngọt thì cơ thể thiếu đường để nuôi bắp thịt và cơ tim sau sẽ bị suy tim làm mệt, ngược lại, nếu ăn nhiều chất vôi chữa bệnh còi xương mà khả năng hấp thụ ít không quá 30% phần còn lại sẽ làm mệt thêm chức năng thải lọc của thận, sau sẽ làm cho thận yếu dẫn đến bệnh sạn thận.

Người chữa bệnh bằng huyệt nội dược, giống như dược sĩ bào chế thuốc ngoại dược, biết cách sử dụng máy vi tính của bộ não, lập ra một quy trình điều hành nội dược mà cơ thể có sẵn thông qua cách chọn huyệt, làm tăng hệ thống hấp thụ và chuyển hóa, lúc đó cơ thể sẽ hấp thụ và chuyển hóa được chất đường và chất vôi..Hệ thống sử dụng huyệt để chữa bệnh gọi là hệ thống nội dược bán tự động vì phải nhờ đến thầy thuốc kích thích huyệt. Nếu thầy thuốc sử dụng huyệt sai, giống như thảo chương cho máy điện toán sai máy không điều hành được. Muốn điều chỉnh được sự khí hóa đúng làm cho cơ thể khỏe mạnh, thầy thuốc phải hiểu rõ các chức năng của THẦN trong việc khí hóa của Tinh-Khí-Thần., của âm dương ngũ hành của tạng phủ mới có thể chữa được gốc bệnh.

TINH : Là thức ăn có âm, có dương, có ngũ hành, có hàn nhiệt, hợp với tạng phủ nào, không hợp với tạng phủ nào. Thức ăn âm làm cho cơ thể mát sinh huyết, thức ăn dương làm cho cơ thể ấm, nóng.sinh khí, .nếu ta bị bón là đã ăn nhiều chất dương, nếu ta bị bệnh tiêu chảy là đã ăn nhiều chất âm. Đông Y phân loại thức ăn có chất ngọt vào tỳ, chất cay vào phế, chất mặn vào thận, chất chua vào gan, chất đắng vào tim. Thức ăn lúc nào cũng phải đủ tính, khí và vị, không dư không thiếu gọi là quân bình sự khí hóa ngũ hành.

KHÍ : Ngoài sự hít thở và vận động để tạo khí kích thích sự tuần hoàn của khí và huyết, còn có khí âm dương ngũ hành của mỗi tạng phủ có chức năng riêng,

Đông Y gọi :

- Phế khí là táo khí,
– Thận khí gọi là thủy khí,
– Can khí là phong khí,
– Tâm khí là hỏa khí,
– Tỳ khí là thấp khí.

gọi chung là âm khí.

- Khí của Tiểu trường là hỏa khí,
– Đởm khí là phong khí,
– Vị khí là thấp khí,
– Đại trường khí là táo khí,
– Bàng quang khí là thủy khí,

gọi chung là dương khí

THẦN điều hòa được đúng các khí, đúng các bộ vị của tạng phủ hoạt động tốt, đó là chức năng tự động của thần. Mỗi một chức năng của tạng phủ bao gồm chức năng nuôi dưỡng, phát triển, bảo vệ cơ sở bên trong và bên ngoài tạng phủ. Thí dụ như bao tử bị loét, là cơ sở vật chất bị tổn thương thực thể, nó phải báo cho thần lập kế hoạch và thực hiện sửa chữa, khi thực thể bị co thắt hoặc thòng, nó cũng phải báo cho thần điều chỉnh, khi ăn ít bao tử nhỏ lại, khi ăn nhiều bao tử cần phải lớn mạnh hơn thần cũng phải dự trù kế hoạch phát triển và điều tiết những dịch chất của gan, mật, tỳ, vị ở giữa hai lớp thành bao tử cho phù hợp với những thay đổi của cơ thể.

Chức năng ngoài của tạng phủ, Tây Y không thể thấy được nhưng rất quan trọng. Chẳng hạn như Đông Y nói bao tử nhiệt, khi Tây Y xét nghiệm không thấy tổn thương thực thể nên không cần phải chữa bao tử, nhưng đối với Đông Y, bao tử nhiệt làm chân răng lỏng, trồi lên, đau răng, viêm chân răng sẽ phải nhổ, nếu bao tử bị nhiệt một thời gian lâu sẽ bị bệnh loét bao tử.., còn Đông Y chữa cho bao tử hết nhiệt lúc đó các triệu chứng bệnh trên sẽ hết, hoặc khi bao tử bị đầy hơi đưa lên họng thành ợ hơi, hôi miệng, cơ thể có huyệt tạo ra chức năng hạ hơi, giáng khí..Như vậy mỗi huyệt có nhiều chức năng để trị bệnh gọi là đặc tính của nội dược., có tính, khí và vị riêng . Khi tác động vào huyệt là tác động trực tiếp vào hệ thần kinh để tạo ra một vị thuốc thiên nhiên có sẵn trong cơ thể nhờ vào sự điều chỉnh hormone như ý muốn của huyệt để điều chỉnh khí phong, hàn, thử, thấp, táo, nhiệt, điều chỉnh về khí, về huyết, điều chỉnh khai thông, họặc đóng giữ lại, điều chỉnh sự vận động cơ bắp, kinh mạch, chữa thần kinh, giảm đau, tăng sức đề kháng, điều chỉnh hô hấp, tuần hoàn, tiêu hóa, bài tiết, sinh dục, tăng cường miễn nhiễm, điều chỉnh nội tiết, tăng giảm hồng cầu, bạch cầu, gỉải độc, chữa và điều chỉnh chức năng bên trong và bên ngoài tạng phủ, phát triển và bảo vệ da, thịt, gân, xương..điều chỉnh thần kinh vận động, cảm giác của tứ chi, của đầu, mặt, mắt, tai, mũi lưỡi, răng họng..Tất cả các huyệt giống như một hóa chất, một nguyên tố hóa học, người dược sư có thể phát minh ra đủ các loại thuốc, nhưng khác nhau ở chỗ thuốc ngoại dược đi vào cơ thể để chữa bệnh , nếu cơ thể không chấp nhận hoàn toàn như ý muốn của người bào chế sẽ tạo ra phản ứng phụ, cơ thể sẽ phải mất đi một số năng lượng để loại bỏ những chất không cần đôi khi còn làm hại cơ thể gọi là độc tố, ngược lại tác động lên huyệt để cơ thể tự động sản xuất ra thuốc gọi là nội dược tùy vào cách phối hợp huyệt của thầy thuốc. Cơ thể mạnh hay yếu đều nhờ vào sự biến đổi của khí gọi là sự khí hoá, sự khí hóa là vô hình nhưng kết quả là hữu hình, vì khí biến đổi từ dinh dưỡng thuộc tinh, từ hơi thở, sự vận động, và từ không khí, thời tiết thuộc khí, và khí cũng biến đổi theo tâm lý tình cảm thuộc thần. Khi tinh-khí-thần hòa hợp cơ thể được khỏe mạnh thì ai cũng có thể nhìn thấy .

THẦN : Nói đến thần là phải liên quan đến ý, Đông Y thường nói “Ý ở đâu, khí ở đó, khí ở đâu huyết cũng ở đó”. Cho nên định bệnh để chọn huyệt chữa rất quan trọng, và phương pháp chữa cho có hiệu quả cũng quan trọng không kém. Thí dụ bệnh mất ngủ kinh niên, theo Đông Y có hàng chục nguyên nhân khác nhau, sẽ có hàng chục cách chữa khác nhau. Ở đây chúng ta xét về khí huyết ở bộ não, nếu bộ não thiếu khí huyết để nuôi não, người sẽ bần thần mệt mỏi nên khó ngủ, huyệt kích thích phải ở trên đầu để cho ý phải tập trung trên đầu, theo nguyên tắc ý ở đâu thì khí huyết ở đó cho nên khí huyết đã lên đầu để nuôi não. Ngược lại, khi bị bệnh cao áp huyết, sung huyết não, bộ não tích tụ nhiều huyết nhiệt làm đầu nóng, rối loạn thần kinh gây mất ngủ, Đông Y sẽ chọn huyệt ở dưới chân để kích thích đem khí huyết xuống chân, giải tỏa sự sung huyết trên đầu..Do đó, tùy theo nguyên nhân mất ngủ để chọn huyệt nội dược thích hợp, nếu mất ngủ do ăn no trước khi đi ngủ theo thói quen thì nguyên nhân do chức năng bao tử, nếu uống thuốc trị bệnh mất ngủ mà vẫn không ngủ được là do uống nước nhiều trước khi đi ngủ khiến cho đêm phải thức giấc để đi tiểu thì nguyên nhân do chức năng thận, mất ngủ ở phụ nữ trong thời kỳ tiền mãn kinh là do xáo trộn hormone, có loại mất ngủ do đau nhức, do tâm lý vui quá, buồn quá, lo quá, sợ quá, giận quá..

Kết quả chữa bệnh lâu hay mau đều lệ thuộc vào thần, mọi chửc năng hoạt động trong cơ thể đều do thần điều khiển. Thần chia làm ba loại :

Loại bẩm sinh :

Là bộ thần kinh hoàn hảo hay thiếu sót gồm cả bộ lưu trữ và bộ nhớ, cho nên có người thông minh, có người khờ dại, có người có sức đề kháng mạnh, có người yếu hay bị bệnh lâu khỏi..

Loại do thói quen :

Ảnh hưởng bởi phong tục tập quán sinh hoạt trong gia đình, xã hội, môi trường, hoàn cảnh địa dư, văn hóa, chính trị, tôn giáo, nên tâm lý tình cảm, quan điểm có phản ứng nhanh chậm khác nhau.

Loại tri thức:

Do học hỏi huân tập thông qua giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý mới sinh ra phân biệt, thành kiến, cho nên có người thích Đông Y, có người tin và thích Tây Y.

Dù sao, qua kinh nghiệm của Đông Y, mọi sự thay đổi của tinh-khí-thần đều làm thay đổi hệ giao cảm và hệ vận động của thần kinh, sẽ làm thay đổi tỷ lệ hormone, như vậy là làm thay đổi luôn sự hoạt động của tế bào trong cơ thể. Những tế bào thần kinh của lục phủ ngũ tạng làm việc liên kết với nhau từng giây từng phút để bảo đảm bộ ba tinh-khí-thần giữ đúng tiêu chuẩn hòa hợp sự khí hóa của cơ thể được tốt.Nếu có bất cứ một sự xáo trộn nào của tinh, khí, thần, đều có ảnh hưởng đến tạng phủ :

ẢNH HƯỞNG DO TINH:

TINH chia làm 2 loại : mùi và vị.

Xét về vị :

TÂM ưa đắng, nhưng đắng quá hại tim, cho nên tâm hư cần uống thuốc có chất đắng, tâm thực là dư chất đắng phải bớt đi bằng cách không nên ăn những chất có vị đắng hoặc tả tâm thực phải dùng chất mặn, hoặc bổ thận thủy để khắc chế tâm hỏa theo luật sinh khắc ngũ hành.

GAN ưa chua, nhưng chua quá hại gan, chất chua đối với Tây Y là vitamine C, nhưng Đông Y lúc nào cũng phải xét đến tính chất âm dương của một chất về khí, tính và vị, cho nên tục ngữ đã có câu nói về tính :cam hàn, quít nhiệt, bưởi thanh. Nếu một bệnh nhân thân nhiệt cảm thấy lạnh mà cần phải dùng đến vitamine C để tăng cường sức đề kháng phải dùng quít không được dùng cam người sẽ lạnh thêm làm trở ngại sự tiêu hóa, các dưỡng trấp không đủ nhiệt lượng để hóa huyết sẽ biến thành đờm. Nếu bệnh nhân cảm thấy nóng bức, cổ họng khô khát, ho khan cần phải dùng Vitamine C ở cam làm giảm nhiệt. Nếu cơ thể cần bớt chất béo loại trừ cholesterol mà không sợ phạm hàn, phạm nhiệt nên dùng Vitamine C ở bưởi.

TỲ ưa ngọt, nhưng ngọt quá lại hại tỳ. Khi Tỳ hư cần phải bổ tỳ bằng chất ngọt để nuôi tim và cơ bắp, tỳ thực là dư chất ngọt phải cữ ăn ngọt, nếu không chất ngọt dư thừa sẽ làm tăng men tiêu hóa, tăng nhiệt ở bao tử và lá mía sẽ sinh bệnh tiểu đường, loét bao tử, lở da, thấp chẩn, eczéma, sưng đau đầu gối, thấp khớp, mục xương..

PHẾ ưa cay, chất cay giúp phế mở lỗ chân lông bài tiết mồ hôi, cho nên khi ăn cay chúng ta cảm thấy nóng da đỏ mặt và xuất mồ hôi, nhưng cay quá sẽ hại phế mất khả năng điều tiết lỗ chân lông làm tiêu chảy, mất nước, chảy nước mắt, làm hại gan, áp huyết tăng..

THẬN ưa mặn, vì thận cần nước, chất mặn giữ nước để làm quân bình tỷ lệ đường-muối-nước cho cơ thể, nhờ nước ở thận gọi là thủy khí dùng để điều hòa hỏa khí, thấp khí, phong khí, hàn khí, táo khí, nhờ nước thận mới lọc máu, giải độc, giải nhiệt có hiệu quả, nhưng nếu dư nước cơ thể sẽ phù thủng, tiêu chảy, bụng báng, xệ ruột (hernie ), khúc ruột nơi bẹn bên trái phình to chặn vào động mạch đùi háng làm chân trái yếu, tê, phù, sưng đầu gối, nơi khúc ruột ấy mất sự co bóp để tống phân ra ngoài bệnh nhân tưởng lầm là bị bệnh táo bón, phân lưu trữ lâu ngày làm thối khúc ruột sẽ thành ung thư ruột.

Xét về mùi :

Mùi khê, khét vào tâm, trên quan điểm bổ-tả, thức ăn có mùi khê khét vừa, còn tồn tính thì còn bổ, khê khét quá mất hết chất bổ mà cố ăn vào sẽ hại cho tim mạch.

Mùi hôi thối, úa của thực phẩm hay của môi trường làm hại gan.

Mùi thơm của thức ăn kích thích tỳ ăn ngon, nhưng càng cao lương mỹ vị quá lại hại tỳ sinh chán ăn, ăn không tiêu.

Mùi tanh vào phế, khi phổi yếu không đủ oxygène để chuyển hóa dưỡng trấp thành huyết, cần phải bổ bằng chất tanh, như ăn uống có thêm chất kim loại như chất sắt trong thực phẩm hoặc thuốc uống để phục hồi sự khí hóa của phổi.

Mùi khai thuộc thận, nước tiểu trong, không có mùi khai là chức năng của thận yếu không lọc rút được cặn bã và độc tố trong cơ thể, cần phải ăn loại thực phẩm có nhiều chất vôi, phosphore, đồ biển thích hợp, nhưng quá bổ thành dư thừa làm thận bị đóng sạn.

ẢNH HƯỞNG DO KHÍ:

TÂM ưa hỏa khí để tim đủ sức nóng tạo nhiệt cho cơ thể, nhưng ăn những chất kích thích nhiều hỏa quá, hoặc do môi trường làm việc, khí hậu, thời tiết nóng nực quá làm mệt tim, khó thở, tăng áp huyết.

CAN ưa phong khí, vì can tàng huyết, cần phải lay động nhẹ như thở để trao đổi oxy cho máu được tốt, nhưng ăn nhiều chất chua, các loại mắm lên men, hút thuốc lá, uống rượu, hoặc các loại thức ăn có nhiều độc tố làm gan phải co bóp thải độc mạnh, Đông Y gọi là can phong nội động, chẳng may lại gặp trùng hợp ngoại phong xâm nhập cơ thể, tạo áp lực huyết trong gan sung lên não làm đứt mạch máu não sẽ thành tê liệt, bán thân bất toại.

TỲ ưa thấp khí là khí vừa nóng vừa ẩm để tạo ra men tiêu hóa làm tiêu hóa thức ăn, nhưng thấp khí nhiều quá làm lở da, hại thịt, cơ bắp, nếu gặp môi trường ẩm thấp bên ngoài, hoặc khí hậu ẩm thấp là điều kiện dễ phát sinh vi trùng, vi khuẩn, thức ăn dễ lên men, hư thối, hoặc cơ thể dư chất đường dễ lên men sinh ra nhiều thấp khí khiến cơ thể mệt mỏi nặng nề. Chức năng của tỳ là dẫn các dịch chất lưu thông khắp cơ thể, nếu tỳ có quá nhiều thấp khí sẽ làm lưu thông bị đình trệ, tắc nghẽn, sinh đau nhức cơ bắp, nhức mỏi, phong thấp, nếu tỳ không dẫn huyết để nuôi xương cốt sẽ sinh bệnh thấp khớp, khô xương, chân tay nặng nề, phù thủng.

PHẾ ưa táo khí, là khí khô ráo, không nóng quá làm teo phổi gây khó thở, không lạnh quá làm phổi có nhiều hơi nước gây thở khò khè.Táo khí của mùa thu làm cây cỏ thu mình lại nó có tính chất co rút, nên phổi có tính chất co rút tự động, khi hít vào phổi nở ra, khi không hít vào thì phổi tự động co rút lại để đẩy khí ra ngoài gọi là thở ra .Đại trường liên quan đến phế cũng thuộc táo khí có tính chất co rút cặn bã của thức ăn, nước thấm qua thành ruột vào bàng quang thành nước tiểu, còn lại cặn bã trong ruột thành phân. Nhưng nếu táo khí quá nhiều trong phổi sẽ thành bệnh teo phổi ( phế nuy), còn táo khí nhiều trong ruột già làm phân khô cứng sẽ bị táo bón.

THẬN ưa hàn khí, là thích khí mát, thận cần nước để điều hòa lượng đường và muối có trong cơ thể để giữ thân nhiệt bình thường, để lọc và giải độc, nếu thận nóng sẽ đi tiểu dắt và đỏ, nếu thận hàn sẽ đi tiểu nhiều, nếu thận lọc tốt nước tiểu mầu hơi vàng, nếu thận hư yếu không lọc nước tiểu có mầu trắng, thận còn có chức năng điều hòa tam tiêu để chuyển vinh khí, vệ khí đi khắp cơ thể qua đường cột sống gọi là thận dương.

ẢNH HƯỞNG DO THẦN:

Lục căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý ) nhiễm lục trần ( sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) đều có thể làm thay đổi thần, nhưng về bệnh tật, Đông Y chú trọng đến ba yếu tố chính là tâm lý, mầu sắc và âm thanh.

TÂM ưa mầu đỏ , sinh vui, hay cười .Tục ngữ có câu ‘ cười như điên’, vì tâm tàng thần, khi vui quá mất kiềm chế cử chỉ và hành động nên gọi là điên.

CAN ưa mầu xanh, ưa giận, giận quá trớn hay la hét. Tục ngữ có câu ‘giận căm gan, hoặc giận bầm gan tím ruột’, gan chủ gân, nên mỗi khi giận làm run gân chân tay. Gan tàng hồn, khi bị bệnh gan nặng, bệnh nhân như người mất hồn.

TỲ ưa mầu vàng, Tỳ tàng ý nên ưa suy tính, lo nghĩ, nếu được thỏa mãn thường hay hát, nếu lo tính chưa xong thì ăn mất ngon, ngủ mất yên.

PHẾ ưa mầu trắng , dễ mẫn cảm với buồn, buồn quá hóa khóc, hay thở dài, nếu chỉ thở ra nhiều hơn hít vào làm teo phổi, giảm oxy trong máu làm suy thần kinh, hại tế bào, thiếu oxy trong não sinh ra trăm bệnh, Đông Y có câu “phế tàng phách, nếu phách lạc thì hình suy“, phụ nữ có bệnh buồn chán hay thở dài trong nhiều năm làm oxy và máu bị tắc tuần hoàn ở vú sẽ thành bệnh ung thư vú.

THẬN ưa mầu đen , dễ mẫn cảm với sợ hãi thành hay rên, Đông Y có câu ‘ sợ phát run, hoặc sợ vãi đái ‘, như vậy sợ làm ảnh hưởng đến thận. Thận tàng tinh, người bị bệnh sợ ám ảnh làm mất chức năng khí hóa của thận là sinh tinh hoá tủy để nuôi tế bào não, nuôi cột sống, xương cốt, khi nguyên khí mất, da mặt đổi mầu xạm đen hoặc mốc, khi sợ hãi quá sẽ tổn thương đến thận. Người bị bệnh thận đêm ngủ thường hay rên. Bệnh mãn tính làm cơ thể suy nhược mất thần, nhút nhát, nói yếu hơi, để lâu không chữa làm hại gan da mặt đổi sang mầu hơi xanh lẫn đen tái.

doducngoc

About these ads
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 269 other followers